Thế là ông Saddam Hussein, cựu tổng thống của Iraq, đã bị xử tử. Tội danh là “giết 148 người Iraq thuộc hệ Shias ở Dujiail” (trong đợt thanh trừng sau biến cố ông bị ám sát hụt).
Ai cũng biết toà án đã xử ông một cách công bình hay không. Các quan toà đều thuộc phe chống Saddam, luật sư bào chữa cho ông thì có đến ba người lần lượt bị ám sát (nhưng quan toà không cần biết vì sao), các luật sư khác của ông không được phép tự do tìm chứng cớ để bào chữa, bị cáo thì không được đối chất với các nhân chứng buộc tội, v.v… Chưa hết, ông Saddam có thể xin ân xá – nhưng không được quyền chống án. Ngay từ đầu, ông cũng đã không được phép yêu cầu xử ở Toà án Quốc tế (The Hague – Hà Lan).
Ông làm tổng thống suốt 25 năm (1979-2003). Bước đi lên của ông là từ 1959, khi ông cộng tác với CIA trong việc đảo chính (hụt) thủ tướng Qassim là người đã lật đổ vị vua thân Mỹ Faisal II. Trong vụ này ông bị bắn ở chân, được CIA chở ra ngoài, rồi đưa qua huấn luyện ở Beirut. Sau đó ông tạm sinh sống và học luật ở Cairo (Egypt). Năm 1963, đảng Baath (Saddam là yếu nhân trong đó) lật đổ được thủ tướng Qassim và nắm chính quyền. Dĩ nhiên là Washington ủng hộ ông hết mình.
Nước Iraq có nhiều dân tộc, trong đó dân Shias (Shi’ite) và Kurd chiếm đa số (80%), dân Sunni chiếm 20%. Ông Saddam thuộc hệ Sunni, nhưng nhiều người dân thuộc hệ khác cũng thích ông vì ông thẳng thừng chống Do Thái và muốn đoàn kết khối Ả Rập. Ông tiến bộ hơn các lãnh tụ Hồi giáo chung quanh: cho phụ nữ khá tự do, trọng dụng họ trong chính phủ, cho Thiên Chúa giáo hành đạo thoải mái trong xứ. Luật pháp dưới thời ông gần với hệ thống của Tây phương hơn là theo luật Ả Rập nghiêm khắc cổ lổ. Tuy nhiên, ông cai trị với bàn tay sắt. Ông rất độc tài, nhưng đây là điều các nước Âu Mỹ không quan tâm.
Năm 1980, vì Washington bất mãn với lãnh tụ Khomeini của Iran, chính phủ Mỹ cung cấp vũ khí, thuốc men và phương tiện cho Saddam tấn công Iran, trong đó có vũ khí mang chất độc hoá học. Saddam dùng các chất độc này để giết quân Iran, và một phần khác để giết nhiều dân Kurd ly khai (họ là dân Iraq, nhưng được Iran hứa ủng hộ để ly khai với Saddam). Cuộc chiến với Iran kéo dài tám năm, hai bên đều thiệt hại nặng, nhưng ông Saddam được Washington ủng hộ, bảo bọc.
Mới yên chưa lâu thì ông Saddam quay qua đánh Kuwait, một nước nhỏ bé nhưng có nhiều dầu. Nguyên nhân gần là Kuwait dám thò ống qua hút trộm các mỏ dầu của Iraq, và thuở xưa đất Kuwait vốn là của Iraq. Nhưng nguyên nhân xa là do Saddam đoán lầm ý đồ của Washington. Lúc đó, Kuwait bị Washington xem là thân Liên Xô, chống Do Thái. Thái độ của Washington không rõ ràng, làm ông Saddam ngỡ là mình được ủng hộ khi ra tay. Không ngờ việc này đưa đến sự tấn công tàn khốc của Anh Mỹ qua “chiến tranh vùng Vịnh”. Sau đó là một cuộc phong tỏa kinh tế chưa từng có trong lịch sử. Cuộc sống của dân chúng khó khăn thiếu hụt, mỗi tháng có hàng ngàn người chết vì thiếu thuốc men, chết nhiều nhất là trẻ con. Iraq phải đổi dầu để lấy thực phẩm, hao tổn hàng tỷ đô la mỗi năm để được sống cầm hơi trong thiếu thốn.
*
Bây giờ thì ông Saddam đã chết. Các đài truyền thông cho thấy cảnh dân chúng vui mừng nhảy nhót… Những người này là dân Kurd hay Shias, không phải Sunni. Đại đa số dân Sunni còn mang thiện cảm với ông Saddam. Nhiều người trong khối Ả Rập cũng xem ông như một biểu tượng chống Do Thái và ủng hộ Palestine.
Việc xử tử hôm nay chỉ là vấn đề thời gian. Từ khi bị bắt, số phận của ông kể như đã rõ ràng: Khi các thế lực Âu Mỹ không cần ông nữa, ông chỉ làm cản trở công việc của họ. Họ cho rằng ông còn thì mọi sự trên đất Iraq chỉ thêm nhì nhằng, trong lúc quân Mỹ không biết phải làm sao để khỏi sa lầy. Điều quan trọng hơn là chết rồi thì không nói ra được các bí mật muốn che giấu.
Cái chết của ông cho thấy luật chơi của thế giới hôm nay khe khắt hơn luật giang hồ của những kẻ sống không pháp luật. Đó là – bất cứ một nhân vật chính trị nào của các nước nhỏ (và vừa vừa) khi đã nhận tiền và sự bảo bọc của “đàn anh” thì luôn luôn phải trung thành tuyệt đối và đoán đúng ý của “đàn anh”. Không có chuyện khi đi sai đường vẫn có thể quay trở lại xin “hồi tâm”. Cái giá phải trả cho sự “nói không nghe” là bạo lực. Tướng Manuel Noriega của Panama là trường hợp điển hình nhất. Tuy cộng tác với Washington trong bao nhiêu năm dài, nhưng khi hết còn “dễ bảo”, ông bị quân đội Mỹ đổ ùa vào trong nước bắt mang đi. Những ông Pinochet, Marcos, Suharto, v.v… thì không chống lại như ông Saddam nên kết thúc không đến nỗi tang thương, nhưng vẫn bị bỏ rơi thẳng tay. Trường hợp cụ Ngô Đình Diệm không giống những người trên. Chỉ vì cụ có cái đầu cứng, không muốn cả miền Nam tràn đầy lính viễn chinh ngoại quốc, cho nên cả hai anh em bị giết trong khi tay còn bị còng lại sau lưng. Tất cả những bi thảm này cũng chỉ do sự chọn lựa sai lầm tự ban đầu:
Xác không vốn những cậy tay người
Bao quản công trình, tạch cái thôi
Kêu lắm lại càng tan tác lắm
Cũng mang một tiếng ở trên đời
(“Cái pháo” – Nguyễn Hữu Chỉnh)
Ông Saddam chết đi, nhưng những rắc rối cho quân Mỹ ở Iraq vẫn sẽ không hết (nước Anh đã nói rõ là sẽ rút ra). Người Mỹ ngỡ rằng với sự hợp tác của dân Shias và Kurd (80% tổng số dân) thì sẽ sớm lập được “một xã hội Ả Rập dân chủ điển hình cho khu vực”. Sự thực không dễ như thế: muốn ưu thế hơn người Sunni, dân Shias phải dựa mãi vào quân đội Mỹ, nhưng dĩ nhiên không thể dựa mãi được (và còn bị dân chúng ghét). Phần Mỹ, đã rao lên khẩu hiệu dân chủ thì kết quả của các bầu cử phải có đủ mọi khuôn mặt. Nhưng dân Shias chỉ bầu cho Shias, mà dân Sunni không chịu thế. Việc họ bỏ bom ngôi “đền vàng” (Gold Mosque, cũng là lăng của thánh giáo chủ đạo Shi’ite đời thứ 10 & 11) cho thấy rõ điều đó. Hai bên thù ghét nhau vì lý do tôn giáo, quyền lợi và sự cân bằng thế lực. Quân đội Mỹ thì truy lùng bắt bớ những người Sunni, nhưng không phải bắt bớ họ xong là yên. Quân Mỹ ủng hộ phe nào, phe kia sẽ kết hợp niềm tin tôn giáo với lòng ghét quân ngoại nhập vào một để tạo nên sức đề kháng bền bỉ.
Quân Mỹ chỉ gặp rắc rối, chịu chết chóc tang thương lại là dân Iraq. Nỗi khổ đau của toàn dân Iraq vẫn còn lâu dài.
30.12.2006
© 2007 talawas