trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
26.4.2003
Văn Ngọc
Chữ quốc ngữ và vốn từ Hán Việt
 

Cũng nhờ nghe ghé được cuộc tranh luận trên trạm talawas.org về vấn đề chữ quốc ngữ và vấn đề dịch thuật, mà tôi nảy ra cái ý định viết bài báo này.

Vấn đề mà tôi muốn nêu lên, mặc dầu không phải là đối tượng trực tiếp của cuộc tranh luận, song cũng gắn liền với nó.

Thiết tưởng nhắc lại sơ qua nội dung của cuộc tranh luận này cũng là điều cần thiết.

Trước hết, là vấn đề đánh giá cái lợi, cái hại của chữ quốc ngữ so với chữ Hán. (Thú thực, là tôi cũng không hiểu tại sao ông Cao Xuân Hạo lại còn đặt ra vấn đề này làm gì ở cái thời buổi này nữa? Người ta không khỏi nghĩ đến những đợt tranh cãi kéo dài trước đây trên non một thế kỷ cũng trên vấn đề này, từ khi chữ Quốc ngữ ra đời: thời còn mồ ma tờ Nam Phong tạp chí, với Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh một bên, bên kia là những người trong phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục, và những người như Nguyễn Văn Ngọc, Dương Quảng Hàm, v.v.; rồi đến thời ông Nguyễn Văn Trung với một số trí thức ở Sài Gòn những năm 70, rồi đến các nhà Hán học ở hải ngoại như ông Vũ Thế Ngọc, v.v.).

Bài tranh luận của ông Nguyền Hoàng Sơn trên talawas đã phản bác hầu hết các luận điểm của ông Cao Xuân Hạo, theo cách nhìn của ông. Tôi chỉ xin tóm tắt lại ở đây những nét chính của những luận điểm của ông Cao Xuân Hạo, chủ yếu thể hiện qua tác phẩm Tiếng Việt, văn Việt, người Việt, NXB Trẻ 2001 và bản Báo cáo đọc tại Hội nghị ” Chữ Quốc ngữ và sự phát triển của văn hoá Việt Nam “, trường Ðại học Tổng hợp TP HCM, 1995):

– Ông Cao Xuân Hạo đề cao chữ Hán, coi nó như là ngôn ngữ viết tượng hình hoàn chỉnh nhất (CXH, Mấy nhận xét về chữ Quốc ngữ).

– Ông cho rằng chữ quốc ngữ, sử dụng mẫu tự La Tinh không thích hợp với tiếng Việt và chỉ là một thứ chữ ghi âm thuần tuý, kém xa chữ Hán về đủ mọi mặt, kể cả về mặt thẩm mỹ (CXH, Mấy nhận xét về chữ Quốc ngữ).

– Ông chủ trương bó buộc học sinh phải học chữ Hán ngay từ trung học (CXH, Chữ Tây và chữ Hán, thứ chữ nào hơn?).

– Ông chống lại mọi ý đồ cải cách chữ quốc ngữ, và cũng không đưa ra một đề nghị cụ thể nào để cải thiện nó, ngoại trừ một ý kiến duy nhất trên vấn đề xử lý các tên và từ ngữ tiếng nước ngoài (CXH, Mấy nhận xét về chữ Quốc ngữ).

Ông Nguyễn Hoàng Sơn đã phản bác một cách kịch liệt những luận điểm này. Trên những nét chính, ông Sơn có lý. Tuy nhiên, vô tình hay cố ý, ông đã diễn dịch sai một ý của ông Cao Xuân Hạo: ông Cao Xuân Hạo không bao giờ nói “Dùng chữ quốc ngữ là một tai họa” (như cái tựa bài viết của ông Nguyễn Hoàng Sơn), mà ông chỉ nói: “Bỏ chữ Hán và chữ Nôm là một tai họa” (trong bài Mấy nhận xét về chữ quốc ngữ). Ngoài ra, khi ông đưa ra ý kiến trên vấn đề “bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt” thì ông lại tỏ ra không được “dứt khoát” cho lắm, thậm chí hãy còn “bảo thủ”: ông chủ trương “hạn chế” việc sử dụng từ Hán Việt trong tiếng Việt, đặc biệt trong ngôn ngữ viết.

Vấn đề tuy đã cũ, nhưng theo tôi vẫn còn nguyên tính thời sự của nó, và ở thời điểm giao lưu văn hoá toàn cầu ngày hôm nay, nó có một tầm quan trọng đặc biệt và cần có một cái nhìn mới: chúng ta cần biết vì sao, và dựa trên cơ sở nào chúng ta có thể sử dụng toàn bộ từ Hán Việt đã có, cũng như toàn bộ từ Hán trong từ điển của người Trung Hoa ngày nay, và nói rộng ra, bất kể từ nào cần thiết và thích hợp của tiếng nước ngoài, từ Ðông sang Tây, để làm giàu cho tiếng Việt.

Còn về vấn đề dịch thuật, đặc biệt qua những bài viết của Phạm Thị Hoài, Thảo Hảo và Nguyễn, v.v. phê bình bản dịch cuốn Mĩ học của Hegel do ông Phan Ngọc dịch ra tiếng Việt, nhiều điều bổ ích khác liên quan đến vấn đề vốn liếng từ ngữ của tiếng Việt, cũng đã được nêu lên.

Sự thất bại của ông Phan Ngọc trong việc dịch cuốn Mĩ học, ngoài vấn đề thiếu hiểu biết về ngoại ngữ và tài năng dịch ra, còn cho thấy khả năng và giới hạn của tiếng Việt hiện đại trong các lãnh vực tư tưởng : triết học, khoa học, văn học, nghệ thuật, v.v.

Vấn đề này thật ra cũng đã được nhiều học giả nêu lên ngay từ thời chữ quốc ngữ mới được sử dụng một cách phổ cập ở nước ta. Mặc dầu ở đây, trong trường hợp bản dịch cuốn Mĩ học của Hegel, ông Phan Ngọc dịch không đạt, không phải vì ông thiếu chữ, nhất là chữ nho! Và có lẽ cũng không phải là ông thiếu hiểu biết về triết học, mà chủ yếu vì ông không nắm vững ngôn ngữ triết học tiếng Ðức của Hegel. Lý do thứ hai, là vì trong suốt cả chục năm trời làm việc trên bản dịch đó, có lẽ ông đã không có điều kiện để bàn bạc, tranh cãi với ai về công việc của mình. Phải chăng ông đã không có được một cái không khí học thuật thuận lợi để trao đổi với các bạn đồng nghiệp, hoặc với các triết gia ở trong và ngoài nước?

Chung quy, cả hai vấn đề được nêu lên để tranh cãi trên trạm talawas đều có một mẫu số chung, là mối quan tâm về vấn đề chữ viết của người Việt, và cùng đặt ra một vấn đề là: làm sao cho chữ quốc ngữ ngày càng phong phú, linh hoạt, ngày càng có thêm khả năng diễn đạt những ý tưởng, khái niệm, trong mọi lãnh vực?

Một trong những khía cạnh cụ thể của vấn đề, theo tôi là: làm thế nào để cho tiếng Việt ngày càng giàu có thêm về mặt từ vựng? Ðồng thời, một câu hỏi khác cũng cần được trả lời cho dứt khoát: người Việt ngày nay có cần phải quay trở lại học chữ Hán như một số người chủ trương không?

Thật ra, câu trả lời đã có sẵn trong thực tế sử dụng tiếng Việt từ hơn một thế kỷ nay.

Chữ viết của người Việt ngày nay, tức chữ quốc ngữ, là một thứ chữ ghi âm tiếng nói của người Việt bằng các mẫu tự La Tinh. Nó có cái ưu điểm trên chữ Hán là có thể phiên âm được một cách khá chính xác những từ tiếng nước ngoài. Chữ Hán về mặt hình thanh hoàn toàn là bất tiện trên phương diện này. Chỉ cần nêu thí dụ những danh từ riêng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga… phiên âm ra tiếng Hán Việt, như: Hoa Thịnh Ðốn, Nã Phá Luân, Mạc Tư Khoa, Thành Cát Tư Hãn, v.v.!

Người đọc được chữ quốc ngữ, thì cũng có thể “đọc” được, hoặc ít ra nhận dạng được, những danh từ tiếng nước ngoài sử dụng bảng chữ cái La tinh. Do đó, để nguyên các danh từ riêng tiếng nước ngoài, không phiên âm ra tiếng Việt, là một giải pháp hoàn toàn hợp lý. Nếu cần thì phiên âm trong dấu ngoặc đơn (làm như vậy sẽ có tác dụng khuyến khích người ta làm quen với tiếng nước ngoài!). Chẳng hạn như: từ Indonesia (tiếng Anh), hoặc Indonésie (tiếng Pháp), nên để nguyên như vậy, không nên phiên âm ra thành Inh-đô-nê-di-a, hay Anh-đô-nê-di-a làm gì, trừ ra khi cần phiên âm để dạy học trò học tiếng nước ngoài!

Chữ quốc ngữ ra đời từ đầu thế kỷ 17. Ðiều đáng tiếc, là trong hơn 200 năm, từ đầu thế kỷ 17 cho đến giữa thế kỷ 19, nó đã chỉ được thực sự sử dụng và phát triển một cách rất giới hạn trong cộng đồng giáo dân và các nhà truyền giáo đạo Ki-tô mà thôi, nghĩa là trong một phạm vi rất nhỏ hẹp của nhân dân Việt Nam. Các vua chúa, quan lại, sĩ phu có nho học hoàn toàn thờ ơ với thứ chữ này. Mà ở vào cái thời đó, cũng chỉ có những thành phần trí thức của xã hội mới biết chữ Nôm và chữ Hán mà thôi. Dân chúng bình thường ở thành thị cũng như ở thôn quê đâu có được học mấy! Do đó phần lớn là mù chữ. Văn học dân gian từ bao đời cũng vẫn chỉ là truyền khẩu, chứ đâu làm gì có chữ để ghi lại?

Trong suốt thời kỳ hơn hai trăm năm này và trước đó, trong cả ngàn năm, văn tự hành chính và học chính vẫn là chữ Hán, trừ một thời gian ngắn ngủi chữ Nôm đã được triều Tây Sơn sử dụng trên các văn bản chính thức.

Chữ quốc ngữ chỉ thực sự có cơ hội phát triển bắt đầu từ cuối thế kỷ 19 trở đi, khi chính quyền bảo hộ Pháp nhìn nhận thấy ở nó một công cụ thuận tiện cho việc cai trị của họ, và về phía giáo hội Ki-tô giáo cũng thấy đó là một công cụ truyền giáo đắc lực, hơn nữa nó còn là một cách che chở cho giáo dân khỏi bị tiêm nhiễm bởi những ảnh hưởng chính trị và văn hoá của những tác phẩm viết bằng chữ Hán đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, hay từ các nhà Nho Việt Nam.

Do đó, ngay từ khi chiếm được Nam kỳ, nhà cầm quyền Pháp đã quyết định bác bỏ chữ nho và áp đặt việc sử dụng chữ quốc ngữ, bắt đầu là trong các văn kiện chính thức, sau đó là trong các trường học (Nghị định ngày 22-2-1869, và Nghị định ngày 6-4-1878, được ghi lại trong tập Recueil de la Législation et Règlementation de la Cochinchine, 1880) (Nguyễn Văn Trung, Chữ, Văn Quốc Ngữ, thời kỳ đầu Pháp thuộc, NXB Nam Sơn, Sài Gòn, 1-1975).

Tờ Gia Ðịnh báo, do Huỳnh Tịnh Của (Paulus Của) sáng lập năm 1865, đến năm 1869 được trở thành tờ “công báo” đầu tiên in bằng chữ quốc ngữ cũng là do nhà cầm quyền Pháp chủ trương và đỡ đầu.

Ở Bắc kỳ, việc sử dụng chữ quốc ngữ có hơi chậm trễ hơn: cho tới năm 1910, tình hình bỏ hẳn chữ nho vẫn còn chưa ngã ngũ. Thông tư ngày 1-6-1910 của ” Quyền Thống sứ Bắc kỳ gửi Công sứ các tỉnh Bắc kỳ, Ðốc lý Hà Nội, Hải Phòng và các Tư lệnh Khu quân sự”, có đoạn viết như sau: ” […] Không có vấn đề bỏ chữ nho và thay thế bằng chữ quốc ngữ. Mọi ghi âm tiếng An-nam, nhất là tiếng Hán-Việt vẫn luôn luôn phải làm và dễ gây lẫn lộn. Số âm tiếng An-nam hay Hán-Việt rất hạn chế, một âm đôi khi chỉ thị nhiều tiếng (từ) và ý tưởng khác nhau và luôn luôn rất khó phân biệt nếu không dùng chữ nho. Hễ khi nào muốn cho những bản văn có một lối viết chắc chắn một chút, hoặc để diễn tả những ý tưởng trừu tượng, tổng quát, chữ quốc ngữ, trong tình trạng hiện thời vẫn còn thiếu sót…” (Nguyễn Văn Trung, sđd).

Năm 1902, chính phủ Pháp triệu tập một Hội nghị quốc tế khảo cứu về Viễn Ðông tại Hà Nội. Một tiểu ban chữ viết ghi âm gồm 9 người đã được thành lập để bàn cãi về việc cải cách chữ quốc ngữ: Cheon, Babonneau, L.m. Cadière, Dumortier, Finot, Gereni, Hoàng Trọng Phu, Pelliot, Simonier. Nhưng đề nghị cải cách đã không được chấp nhận vì nhiều lý do, nhất là vì những hậu quả gây nên trong thực tế. Linh mục Cadière ở trong tiểu ban, cũng không đồng ý với dự án cải cách này, và nêu lên 6 điểm chống đối:

  1. Không thể loại bỏ những khó khăn gắn liền với lối ghi âm tiếng Việt, mọi hệ thống ghi âm đều không thể hoàn toàn.
  2. Không thể gán cho chữ quốc ngữ những khuyết điểm gắn liền với chính bản thân tiếng Việt.
  3. Hệ thống ghi âm do tiểu ban đề nghị loại bỏ một số khó khăn, trái lại gây ra những khó khăn khác.
  4. Việc sửa đổi chữ quốc ngữ sẽ làm cho một số lớn sách không thể đọc được như những tự điển của Tabert Genibrel, giáo trình và tuyển tập văn của Cheon.
  5. Một số đông người Việt không biết chữ nho, và chỉ biết chữ quốc ngữ, trở thành mù chữ.
  6. Cả một loạt dụng cụ nhà in sẽ trở thành vô dụng.

Dự án cải cách chữ quốc ngữ đến năm 1910 không còn ai hưởng ứng nữa, coi như bị bỏ hẳn. (Nguyễn Văn Trung, sđd)

Ðiều đáng chú ý là, sau 200 năm phát triển một cách rất chậm chạp trong phạm vi sinh hoạt tôn giáo giữa giáo dân Ki-tô giáo (chủ yếu ở nông thôn) và các nhà truyền giáo, chữ quốc ngữ đã ” vượt ngưỡng cửa của nhà thờ mà đột nhập vào xã hội Việt Nam ” (Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam, NXB Trình Bày, Sài Gòn 1967).

Tiếng Việt chuyển mình, không phải chỉ nhờ ở lớp nhà văn chữ quốc ngữ đầu tiên, như : Petrus Ký, Paulus Của, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, v.v., với những tờ báo như: Gia Ðịnh báo (1865), Ðăng Cổ Tùng Báo (1907), Ðông Dương Tạp Chí (1913), Trung Bắc Tân Văn (1915), Nam Phong (1917), hoặc những tổ chức được nhà nước bảo hộ lập ra, như: Hội Khai Trí Tiến Ðức (1919), mà còn nhờ ở một cuộc vận động quần chúng sâu rộng hơn, chủ trương bỏ cái học từ chương khoa cử bằng chữ Hán, và học chữ quốc ngữ để mở mang dân trí, truyền bá những tư tưởng mới của Âu Mỹ. Cuộc vận động này đã được tiến hành bởi những phong trào yêu nước như : phong trào Duy Tân (1903), Ðông Kinh Nghĩa Thục (1907), v.v.

Sau này, tiếng Việt, nói chung, kể cả ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói, đều đã biến chuyển nhanh chóng và đã tiến những bước khổng lồ, trải qua các thời kỳ đặc biệt quan trọng của văn học Việt Nam, từ phong trào Thơ Mới, Tự Lực Văn Ðoàn, đến văn học tiền Cách mạng, văn học Kháng chiến, văn học thời Chiến tranh chống Mỹ, thời sau 75, rồi cuối cùng, văn học thời Ðổi mới.

Quá trình phát triển đó của tiếng Việt qua thực tiễn của lịch sử, của đời sống xã hội và của văn học, cung cấp cho ta một số dữ kiện quý báu.

Trước hết, về mặt vốn liếng từ vựng, không thể nào phủ nhận được rằng ngôn ngữ viết của tiếng Việt ngày nay đã giàu có hơn nhiều so với thời kỳ chữ quốc ngữ mới ra đời, cách đây gần bốn thế kỷ, khi Alexandre de Rhodes viết Phép giảng 8 ngày, hay so với văn viết trong Gia định báo, Ðông Cổ Tùng Báo, cách đây trên 100 năm.

Văn viết của từng thời kỳ so với thời kỳ trước nó có những thay đổi đáng kể: văn của thời kỳ Tự Lực Văn Ðoàn khác xa so với văn của thời kỳ Nam Phong tạp chí, cũng như văn của thời kỳ “đổi mới” khác xa với văn của thời kỳ “bao cấp”. Chỉ riêng sự giàu có thêm về mặt từ ngữ, cũng có những nguyên nhân lịch sử và xã hội của nó.

Chẳng hạn như đợt du nhập đầu tiên những từ Hán Việt mới về chính trị, văn hoá, tư tưởng vào Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ 20, do nhóm Ðông Kinh Nghĩa Thục chủ xướng, qua những trước tác và phiên dịch sách Âu Mỹ – được gọi là Tân Thư – do nhóm Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi thực hiện ở Trung Quốc. Những từ như : dân tộc, dân chủ, dân quyền, tự do, bình đẳng, văn minh, học thuyết, chủ nghĩa, vật lý học, hoá học, điện cơ, v.v. bắt đầu xuất hiện trên văn đàn báo chí nước ta từ đó. Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong, sau khi Ðông Kinh Nghĩa Thục bị cấm, đã tiếp tục việc này và còn sử dụng thêm một số từ chữ Hán do Nhật Bản phiên dịch. Ngoài ra, nhóm Nam Phong còn phiên dịch ra tiếng Hán Việt nhiều từ không có trong Tân Thư, nhưng họ đã đưa ra nhiều từ quá ư cầu kỳ, khó hiểu, nên ở mỗi cuối trang cứ phải để một danh sách ngữ vựng giải thích bằng tiếng Việt và tiếng Pháp, lại thêm sử dụng ngữ pháp và từ ngữ tiếng Việt một cách khá vụng về, nên sau này đã bị loại bỏ. Trong phần “ngữ vựng” của bài “Bàn về chiến tranh” của Phạm Quỳnh (Nam Phong số 17, tháng 11-1918), có những từ như: diên-mạn (=kéo dài ra), phó-nạn (=chạy lại giúp việc hoạn nạn), lũ chiến-lũ thắng (=đánh bao nhiêu lần là được bấy nhiêu lần), liễu-kết (=kết cục xong mọi việc), châu-tuần (=năng đi năng lại nơi nào để mong cầu sự gì, chầu chực những chốn danh lợi). (theo Mai Ngọc Liệu, Tiếng Việt trong 25 năm đầu thế kỷ 20, NXB Nam Sơn, 1975).

Tháng 10-1918, qua một bức thư ngỏ, ông Nguyễn Hảo Vĩnh, một độc giả ở Nam kỳ, đả kích sự lạm dụng danh từ Hán Việt trên tạp chí Nam Phong. Nhóm này cho đăng nguyên văn bức thư, sau đó đã phản công kịch liệt, và viện những lý lẽ như sau: “…Người Việt Nam lấy chữ Nho làm văn tự…đã hầu thành riêng của mình rồi […] Chữ Nho có hại gì cho chữ Quốc ngữ ? “, và khuyên độc giả : ” nếu không hiểu những chữ ” chệt ” trong Nam Phong, thời hãy đọc cho thuộc những tờ tự vựng ở dưới, thời sẽ hiểu…“.

Nói tóm lại, Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong chủ trương đề cao chữ Hán, suy tôn Nho học và khinh rẻ ngôn ngữ nôm na. Quan điểm này đã gặp một sự phản kháng mạnh mẽ ở những người như Nguyễn Văn Ngọc, Dương Quảng Hàm, lúc ấy còn là sinh viên.

Bài góp ý của ông Nguyễn Văn Ngọc đăng trên tạp chí Nam Phong cũng vào lúc đó, có đoạn viết như sau : “…Tiếng nói là ở như sự cần dùng của nhiều người mà lập thành, chớ không phải ở như các cụ thánh-nhân đời xưa hay các ông thánh-nhân đời nay đặt ra được. Vả chăng trước khi sinh ra tiếng tất cả có tư tưởng (khái niệm) : Tư tưởng hay đồ vật sinh ra tiếng . Tiếng chỉ là cái hình ngoài để bọc cái hồn tư-tưởng ở trong thôi. Vậy cái gì trong tâm trí đã có nghĩ qua mà muốn diễn ra ngoài thì tất phải mượn một tiếng gì để nêu dệt ra cho thiên hạ người ta biết. Mà khi tiếng đã nêu dệt rõ ràng được tư tưởng rồi, ai ai cũng công nhận cả, thì khó lòng mà phá hoại đi được, khó lòng mà bảo nhất-đán bỏ cũ thay mới được.[…] Tiếng nói không phải là một đồ vật riêng cho một bọn làm văn thôi : tiếng nói là chung cho cả nhân-dân trong một nước…“.

Ông Dương Quảng Hàm, lúc đó còn là sinh viên, cũng đã đưa ra nhiều ý kiến xác đáng về vấn đề mượn tiếng nước ngoài, đặc biệt là chữ nho : “Những tiếng (từ) về khoa học, triết học, kỹ nghệ, ta nên mượn chữ nho mà dịch – trừ những tiếng mới của bàn-dân đặt ra (như : tàu bay, tàu ngầm, xe hơi, xe đạp, v.v.) và những tiếng của bàn -dân dùng quen (như sà-phòng, dầu xăng, xe ô tô, bông tàu, sà-lan, v.v.) bây giờ nói quen đã thành tiếng ta rồi…không cần phải lấy chữ nho mà dịch nữa “. Trong văn chương, ông chủ trương: “…những tiếng về văn chương, chỉ các ý tưởng ta thường nghĩ tới nên tiếng ta đã có nhiều. Vậy nhiều tiếng chữ nho có mà tiếng ta cũng có, vừa hay, vừa đúng bằng chữ nho, thời khi nói chuyện, lúc viết văn, nên hết sức dùng tiếng ta mà đừng dùng tiếng chữ nho…vì tội gì tiếng nước mình có lại không dùng, mà dùng thế, chắc có nhiều người hiểu hơn… Tôi không dám bảo bỏ hết chữ nho không nên dùng… Có điều tiếng nào nên dùng chữ nho hay không là tự các ông nói chuyện, viết văn kén chọn và định liệu.“. Về vấn đề ngữ pháp của tiếng Việt, ngay từ thời đó, ông Dương Quảng Hàm đã có những nhận xét sâu sắc và những ý tưởng mới mẻ: “Lạ thay cho nước mình! Có tiếng nói mà không hề ai học tiếng, không đâu dạy cách dùng tiếng, không sách nào nói đến nghĩa tiếng cùng mẹo đặt câu. Ðiều đó là tự xưa nay ta học chữ nho, thi cử, thơ từ, sách vở đều dùng chữ nho, khinh rẻ tiếng nôm. Hoạ có người làm thơ văn nôm được hay…là nhờ lúc cao hứng, tài thiên bẩm, chớ chưa từng ai nghiên cứu, học hành tiếng An-nam cả…” (Mai Ngọc Liệu, sđd).

Xem như vậy, sự vay mượn những từ gốc Hán là do tiếng Việt thiếu từ để chỉ định những khái niệm trừu tượng, nói chung. Nó không phải là một sự gì có tính chất cưỡng ép, giả tạo, như nhóm Nam Phong đã làm và đã thất bại một phần nào. Thật ra, đó chỉ là một phản ứng, một việc làm tự nhiên, tự nhiên như ông cha ta đã từng làm khi tạo ra chữ Nôm, hoặc khi sáng tác ra những tác phẩm trong đó có nhiều từ gốc Hán, và điển cố Hán: Truyện Kiều của Nguyễn Du, bản Nôm Chinh Phụ Ngâm của Ðoàn Thị Ðiểm, và những truyện Nôm như : Lục Vân Tiên, Nhị Ðộ Mai, Phan Trần, v.v., là những thí dụ điển hình. Số từ gốc Hán trong Truyện Kiều không biết chính xác là bao nhiêu, nhưng chắc cũng phải đến ít nhất 70% ! Vậy mà không thấy ai chê là cụ Nguyễn Du đã sử dụng quá nhiều từ gốc Hán!

Tất cả vấn đề là sử dụng làm sao cho hợp lý và cho nghe lọt lỗ tai. Tất cả “nghệ thuật” là ở chỗ đó!

Trong một thời gian dài hàng hơn một chục thế kỷ, văn học nước ta đã sử dụng chữ Hán làm ngôn ngữ diễn đạt. Cái ngôn ngữ tượng hình đó không chỉ chuyên chở những khái niệm mà còn chuyên chở cả một nền văn hoá lâu đời, và cả một ý thức hệ phong kiến. Ðiều đó là một thực tế lịch sử. Ngôn ngữ viết của tiếng Việt hiện nay có khoảng 30% từ thuần Việt và 70% từ gốc Hán, gọi là từ Hán Việt. Những từ này nguyên là từ Hán, được người Việt sử dụng từ những thời xa xưa – với cách phát âm thoạt tiên là của thời Tần-Hán (đầu thế kỷ 2 tr. C.N., khi Giao Châu bị biến thành quận huyện nhà Hán), rồi đến thời Ðường-Tống, trải qua thời gian hơn một ngàn năm nước ta được độc lập, cách phát âm đó đã trở thành cách phát âm Hán Việt ngày nay. Nhưng ngay cả những từ, mà chúng ta tưởng là từ thuần Việt, như: cờ (kỳ), chìm (trầm), dễ (dị), bia (bi), tim (tâm), buồm, buồng, ghế, tuổi, v.v., thật ra cũng là những từ Hán Việt phát âm theo âm Hán cổ thời Tần Hán. Sau này đến đời nhà Ðường, nhà Tống, âm Hán cổ đó đã bị mất hẳn đi trong cách phát âm của người Hán, nhưng ở Giao Châu người Việt vẫn còn giữ được số âm cổ đó trong tiếng nói của mình. Ngược lại, từ những từ đơn Hán Việt, người Việt lại sáng tạo ra được những từ kép riêng của mình, không có trong tiếng Hán, như : ám ảnh, sinh tử, ngoại ô, linh mục, chung cư, truyền hình, đồng hồ, liệu hồn, v.v. (Vũ Thế Ngọc, Chữ Hán và tiếng Hán Việt, NXB EastWest Institute, 1989).

Ðiều đáng chú ý, là trong cả ngàn năm, mặc dầu trí thức nước ta sử dụng chữ Hán một cách thuần thục, như hệt những người Trung Hoa, thậm chí có người đã từng làm tới chức đại phu, tể tướng ở bên Trung Quốc, và nước ta đã từng có tới hai ” lưỡng quốc trạng nguyên “, song đại đa số nhân dân ta mà đại bộ phận sống ở nông thôn, do không được học hành nhiều, cho nên cũng ít biết cái thứ chữ ấy. Có lẽ cũng nhờ đó mà văn hoá của ta vẫn khác xa với văn hoá Trung Quốc?

Ðó cũng là một thực tế lịch sử, và quy luật chung về ảnh hưởng của nền văn hoá, và ngôn ngữ của kẻ đô hộ lên nền văn hoá và ngôn ngữ của kẻ bị đô hộ, thường vẫn là như thế.

Tiếng Pháp, chẳng hạn, là một thí dụ rất điển hình. Ðó là một thứ tiếng có nguồn gốc La-tinh, cũng như tiếng ý, tiếng Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha, Roumain, v.v. Ngay từ năm 50 trước C.N., khi Cesar chiếm được lãnh thổ của người Gaulois (tổ tiên của người Pháp), thì người dân ở đây bắt đầu phải nói tiếng La-tinh. Cái ngôn ngữ nói được truyền bá ở đất Gaule lúc bấy giờ không phải là tiếng La-tinh chuẩn mực, mà là tiếng nói thông dụng, dung tục, của lính tráng và của những người lái buôn La Mã. Ðối với người Gaulois, đó là một thứ tiếng ngoại quốc mà họ nghe không rõ, chữ được chữ chăng, do đó khi họ nói, cách phát âm cũng không đúng hẳn. Kịp đến khi người Francs tràn xuống chiếm đóng đất Gaule, ngôn ngữ này lại bị bóp méo đi một lần nữa, để trở thành tiếng “roman”. Từ tiếng này sinh ra tiếng Pháp cổ. Tiếng Pháp hiện đại chỉ thành hình bắt đầu từ thế kỷ 17. Trong văn học Pháp, ở những thế kỷ trước Descartes (1596-1650), người ta vẫn cho rằng chỉ có chữ La-tinh mới diễn đạt được hết và một cách sáng sủa những tư tưởng cao siêu của con người. Bản thân Montaigne cũng đã được giáo dục trong tinh thần ấy! Kịp đến khi Descartes tước bỏ hết tất cả những gì rườm rà không cần thiết trong ngôn ngữ viết thời bấy giờ, để viết cuốn Discours de la Méthode (Phương pháp luận) nổi tiếng!

Ngày nay, vấn đề sử dụng chữ Hán để làm giàu cho tiếng Việt đặt ra cho chúng ta cũng hơi khác trước đây 100 năm. Cái tâm lý “trọng Nho khinh Nôm” của các cụ ta xưa, nay cũng không còn mấy dấu tích nữa, trừ ở một số học giả hiếm hoi, cũng như cái tâm lý “bài ngoại” ở nơi những người chủ trương “bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt” một cách quá đáng.

Vấn đề đặt ra cho chúng ta ngày nay, một cách cụ thể, là làm sao ngày càng làm giàu thêm được tiếng Việt, để đáp ứng nhu cầu biểu đạt những khái niệm trừu tượng trong các lãnh vực triết học và khoa học. Sự phát triển của các ngành công nghệ mới, đẻ ra những khái niệm mới, lại càng đòi hỏi phải có những từ mới, chính xác, ngắn gọn và “nghe lọt tai”.

Vậy, chúng ta có cần phải quay trở lại học chữ Hán “ngay từ những lớp trung học” không, như ông Cao Xuân Hạo đề nghị? Tôi xin để các nhà chuyên môn trả lời câu hỏi này. Riêng tôi, nghĩ rằng không. Nếu bỏ công sức học chữ Hán trong vòng ít nhất năm mười năm để nhận dạng được những mặt chữ tượng hình, và để quán triệt hết ý nghiã của mỗi chữ, thì tôi nghĩ rằng ở thời buổi này còn có nhiều chuyện khác cần thiết hơn và cần đổ hơi sức vào để học hỏi hơn!

Nếu chỉ cần hiểu hết ý nghĩa thâm sâu của mỗi từ Hán Việt, thậm chí học thuộc lòng những nghĩa đó, thì mỗi người Việt Nam, từ cậu học trò trung học đến nhà trí thức, chỉ cần có trong tay một hai cuốn từ điển thật tốt để tra cứu là đủ. Cùng lắm, thì người viết sách, viết báo phải chịu khó chú thích thôi, miễn là đừng làm quá mức cần thiết như một vài người trong nhóm Nam Phong đã làm ngày trước, là được rồi!

Mặc dầu vậy, tôi vẫn thấy sự cần thiết phải có một đội ngũ chuyên môn đi sâu vào việc nghiên cứu các vấn đề chữ Hán, chữ Nôm và vấn đề khai thác vốn từ Hán Việt, đặc biệt là cần có những bộ từ điển hoàn bị, không những từ điển Hán-Việt, Trung-Việt, Hán-Nôm-Việt, mà trước hết là những từ điển tiếng Việt chuẩn xác, đầy đủ, và được biên soạn một cách khoa học, ghi rõ xuất xứ và thời điểm ra đời của từng từ, từng khái niệm, từng thành ngữ, v.v. Ngoài ra, cũng cần bổ sung, và xem lại chất lượng của toàn bộ các cuốn từ điển hiện hành: Anh -Việt, Pháp -Việt, Đức-Việt, v.v.

Viết, hay đọc sách triết học và khoa học bằng tiếng Việt, hay bằng thứ tiếng nào đi nữa, cũng đều cần đến từ điển. Cũng như đọc Kiều, hay đọc các truyện Nôm, cần có những chú thích về từ ngữ và điển cố. Thời buổi này, trừ những người chuyên nghiên cứu sâu về những vấn đề lịch sử, về văn học chữ Hán, chữ Nôm ra, ai mà còn có điều kiện thì giờ để đi học chữ Hán, chữ Nôm để tra cứu trực tiếp các thư liệu cổ nữa? Nếu tất cả các thư tịch cổ này đều được dịch ra chữ quốc ngữ, thì có phải là hay biết mấy!

Tóm lại, muốn làm giàu thêm tiếng Việt, vấn đề không chỉ đơn giản là khuôn lại ở việc khai thác từ Hán Việt đã có sẵn và tạo ra từ mới, mà còn phải chú trọng đến nhiều vấn đề khác nữa của bản thân tiếng Việt, đặc biệt là vấn đề ngữ pháp, bởi vì câu có xuôi, thì từ ngữ mới có thể đi trót lọt được!

Ngoài ra, cái chính phải chăng vẫn là óc sáng tạo và khiếu thẩm mỹ của các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận văn học và ngôn ngữ học?

talawas trân trọng cảm ơn Diễn Đàn và tác giả Văn Ngọc
đã cho phép đăng lại

 
© talawas 2026