trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
19.5.2002
Hà Vũ Trọng
Chiêm ngắm Ðoá hoa vô thường
 

Các
anh chị Talawas mến,

Xin
gửi tới bài viết “Chiêm ngắm Đoá hoa vô thường” để chia
sẻ  với
bài “ Nghệ thuật ca từ của TCS qua tác phẩm DHVT” của anh
THQuang. Vì thấy có một số ý tưởng trùng hợp thú vị khi cùng
nhìn về tác phẩm này. Và 
để góp thêm vào … “Huyền thoại Trịnh Công Sơn” cho
vui ở Góc cuối tuần.

Bài
"Chiêm ngắm DHVT đã đang trên Hợp Lưu số tưởng niệm TCS ra
khoảng tháng 5,6 năm ngoái (2001).

Thân,

hà
vũ trọng
]

Chìm dưới cơn mưa một người chết đêm
qua

Chìm dưới đất kia một người sống
thiên thu

Chìm khuất trong ta một lời nói vu vơ

Chìm
dưới sương thu là một đoá thơm tho…

Chỉ
có trong tình yêu ta mới bắt gặp được cái chết của chính
mình. Tình yêu cũng mở ngõ cho những lần hoá kiếp. Hãy thử
bước vào thế giới đó để khởi đầu bằng một cái
chết thật vô cùng yêu dấu
.


–
Trịnh Công Sơn (Lời tựa Tình Khúc, 1967)

Bởi
chàng nhập vai Orpheus, nhà thơ… nhà kiến trúc nên huyền thoại,
nhà phù thuỷ trước sự man rợ, và là người hành hương về cõi
chết…

 –
George Steiner

 
“Silence and the Poet”


 




Khúc
dạo

Chúng
ta yêu nhạc Trịnh Công Sơn vì trong nhạc của anh có thơ. Vậy, chúng
ta có được cả hai. Tự thơ đã là một loại nhạc biểu hiện cái
đẹp và sự hài hoà của chữ nghĩa. Nhạc thơ ở anh song sinh từ
niềm thôi thúc muốn tỏ tình với cuộc đời. Nhạc thơ đó
cũng lung linh ảo diệu như bóng trăng in trên mặt nước mà chúng
ta thường không phân biệt nổi đâu là nhạc là thơ. Nếu nhạc là
con sông thì thơ là con trăng nhập vào mặt nước thành con thuyền
chở tình yêu của anh. Nói cách khác, thơ và nhạc là đôi cánh để
bay chở tình yêu trong những ca khúc của Trịnh Công Sơn, không thể
tách lìa được. Từ đó thơ nhạc sẽ la đà bay vào lòng người,
khiến tai ta có thể nghe được những âm thanh vọng xuống từ
trời cao, tiếng của đất trời rộn ràng… Dù em khẽ bước
không thành tiếng, cõi đời bao la vẫn ngân dài
. Mỗi khúc hát
của TCS là mỗi giấc mơ hoá thân thu mình bé lại làm mưa tan
giữa trời
, là mỗi lần tâm hồn bụi bậm thường nhật của
chúng ta được tuôn tưới, gột rửa.

 

Thơ
ca đích thực nảy sinh từ vũ điệu của tâm hồn (Inayat Khan).
Từ thơ mà nhịp điệu của tâm hồn được thể hiện. Có người
sẽ cho rằng nét nhạc của Trịnh Công Sơn giản dị, đơn điệu.
Hẳn là anh chuộng sự đơn sơ, giản dị, nhưng đây là cái giản
dị của sự đạm bạc, khổ hạnh, nghèo mà vẫn giàu
những cảm thức mĩ học tao nhã.  Nét
nhạc “đơn điệu” (monotone hay thể monophonic ballade)
đó lại là dòng cảm thức cô tịch, của cá nhân trực cảm được
nỗi cô đơn với vũ trụ, thiên nhiên. Người ôm lấy muôn loài
nằm trong tiếng bi ai
. Tiếng bi ai đó thấm cả vào lòng cảnh
vật, sỏi đá tưởng là vô tri. Làm sao em biết bia đá không đau…
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau…
Cảm được cái u ẩn của
vết lăn trầm hằn trên phiến đá nâu thêm ưu phiền
… hoặc
có một dòng sông đã qua đời
từ cơn mộng du nương chảy
theo dòng sông là chứng nhân già nua của địa cầu để đọc xem
nó đã ghi lại những gì về tình yêu sau những cơn địa chấn
kinh hoàng. Lời thơ nhạc ở đây “diệu” ở chỗ như những ngón
tay búng vào đúng những phím tơ trên mỗi người và để thả trí
tưởng tượng thâm nhập vào tính vô tận của đời sống. Trên
mỗi thân người có nghìn phím tơ, búng ngón tay đàn thức dậy ước
mơ
…  Ðôi khi thấy trên
lá khô một dòng suối
…

 

Và
nếu để đi tới chỗ rốt ráo vượt trên cả cái tiếng nhạc:
đó là tiếng người trong tiếng thơ Trịnh Công Sơn. Tiếng
của thân phận cát bụi úp mặt bùi ngùi trên đường:
tiếng thiết tha ân cần của một tình yêu vô ngã, hỉ xả để
gió cuốn đi
, để tim lăn trên đường mòn, để tình yêu
xay mòn thành đá cuội,
để treo tình trên chiếc đinh không [trên
cây thập giá đời], để ru tình nên chịu quì gối vong nô,
để làm đá cuội mà lăn theo gót hài,… Chúng ta có thể
kết tinh tất cả những hình ảnh đó vào trong sự tự nguyện
chọn  “qui y” hay ở trọ
trong chính đôi chân của một người đẹp: đi đứng ở trọ
đôi chân Thuý Kiều.
Ðôi chân ấy chính là đôi chân của đoạn
trường. Yêu cái giọng người nhu mì của Trịnh Công Sơn rõ
ràng đã đồng điệu với thi sĩ Lorca: “Thi ca đích thực chính
là tình yêu, hết mình, quên mình… Tôi có thể nói với bạn
rằng tôi ghét tiếng phong cầm, đàn, sáo. Tôi yêu cái tiếng người.
Cái tiếng người đã chịu hạ mình vì tình yêu
.” 
Tình yêu hết mình đó chính là viên ngọc để Dã Tràng nghe
và cảm thông được tiếng của muôn loài… Hoặc dẫu biết gập
gềnh nhiều kiếp lưu vong
nhưng vẫn gánh kiếp của một tên
tuyệt vọng
Sisyphus để lăn tảng đá đời:
Ta
lăn đời đã quá đôi tay vẫn còn ôm mịt mùng…

 

Cảm
thức mĩ học [như trong Thiền tông, đã nói ở trên] và hồn thơ
của Trịnh Công Sơn  cũng
rất gần với những đoản khúc hoà ca (waka): “đem quả
tim làm hạt giống gieo, để từ đó nở ra vạn lá biếc của
lời” (Vạn Diệp Tập).  TCS
đã hoà điệu được cả hai mặt cảm xúc và biểu hiện phương
Ðông bằng con đường khổ hạnh và tối thiểu (Minimalism) cần
phải có trong tâm linh và nghệ thuật. Hơn nữa, cảm thức thẩm mĩ
của anh trong nỗi ám ảnh về cái đẹp, vô thường, cái chết…
cũng như khúc thức ballade của anh (mang âm hưởng chung của Ðông
[Nam] Á) màu sắc gần với những bài hát ru và dân dao (minyo)
của Nhật — giải thích một phần cho tầm ảnh hưởng không nhỏ
các ca khúc của anh đối với người Nhật vốn nổi tiếng về
khiếu thẩm mĩ. Về mặt lịch sử, có sự đồng cảm của Nhật
đối với một đất nước trong và sau cuộc chiến cũng tang thương,
đầy hiểm nguy và thường trực giáp mặt với cái chết. Sự
gặp gỡ của Trịnh Công Sơn trong Thiền học cũng là để tìm ra
một đạo sống, một lối thoát bằng ý niệm đồng hoá sống
với chết, sinh không tách li khỏi tử. Ðời sống được cái
chết hầu cận, cái chết tháp tùng đời sống, cả hai cùng nối
liền một vòng tử sinh
.  Người chết nối linh thiêng vào đời.
Trong
khi ta về lại thấy ta đi
.
Hoặc phủ nhận cả hai để đi tới chỗ vô thuỷ vô chung: Không
có cái chết đầu tiên… Không có cái chết sau cùng.
Từ đó
anh đã thăng hoa cho cát bụi tuyệt vời… Chìm dưới đất kia
hạt cát bao la
. Bởi không chỉ riêng cái chết mới là một
khủng hoảng toàn diện, mà sống cũng là một khủng hoảng1.
Một lần nằm mơ tôi thấy tôi qua đời… 
Sống trong cái chết cũng có thể hình dung một cách ngịch lí
bằng đời sống được ngắm nhìn từ cõi chết, qua cách nhìn
của nhà một nhà văn Tây ban nha: “…Tôi muốn nhìn thế giới
này bằng nhãn quan từ bờ bên kia… Tất cả phụ thuộc vào cái
nhìn của tôi lên bạn như kẻ chết nhìn vào kẻ chết; Tôi đang
sống trong một hoàng hôn vĩnh cửu của cõi chết, tôi ngửi thấy
những đoá hoa tựa như mùi tử thi…”
(Valle Inclán). Trịnh Công
Sơn đã từng nói về “cái chết yêu dấu” được hoá kiếp
trong tình yêu hay trong mỗi tình khúc của anh: Bởi cái chết đã
dựng hình tượng trong cõi sống… Con người chỉ là một loài
thiêu thân vô tội bay mãi vào ảo-tưởng-tình-yêu. Chỉ có trong tình
yêu ta mới bắt gặp được cái chết của chính mình. Tình yêu cũng
mở ngõ cho những lần hoá kiếp. Hãy thử bước vào thế giới đó
để khởi đầu bằng một cái chết thật vô cùng yêu dấu
(Tình
Khúc, 1967).

 

Trịnh
Công Sơn đã từng và ngay lúc này đây đang vọng nhìn cuộc đời
từ bờ bên kia: mệt quá thân ta này, nằm xuống với đất muôn
đời. Kìa còn biết bao người, dìu dặt tới quanh
đây. Ðã
từng ta thấy em trong tiền kiếp tới cách nhìn sau này với
nhãn quan lưỡng nguyên pha thêm tính u mặc (humour) kiểu Bùi Giáng
trong bài hát Con mắt còn lại. (Cõi bờ con mắt Hoa Nghiêm,
con mắt còn lại một con khóc người/Bây giờ riêng đối diện tôi,
còn hai con mắt khóc người một con
. – B.G.). Con mắt còn lại
là con mắt Hoa Nghiêm: con mắt thứ ba: con mắt huệ nằm giữa trán.

 

Văn
Cao đã gọi chính danh Trịnh Công Sơn là người ca thơ – để
nói về các thi ca sĩ troubadour/minstrel — những sứ giả
sống để phụng thờ và ca tụng tình yêu như là nguồn sáng cứu
rỗi trong đêm trường Trung cổ. Một khoảnh khắc sống với quả
tim yêu nồng nhiệt đáng giá hơn một trăm năm sống bằng quả
tim khô héo, dù ngay cả khi ca tụng tình yêu bằng những bài
tình ca không có hạnh phúc. Ðời thi ca sĩ là một kiếp
rong chơi
:

 

Ðời
vẽ tôi tên mục đồng

Rồi
vẽ thêm con ngựa hồng

Từ
đó lên đường phiêu linh.

 

Ðời
vẽ trong tôi một ngày

Rồi
vẽ thêm đêm thật dài

Từ
đó tôi thề sẽ rong chơi
…

           
(Chỉ
có ta trong một thời)

 

Chính
phong thái bohemien/gypsy này mà hình ảnh người du ca Trịnh Công
Sơn với cây đàn guitar cùng “nữ hoàng chân đất” Khánh Ly
thời ấy (1967) hiện ra giữa trời và trong các quán càfê (sau đó
là cặp tình nhân Lê Uyên và Phương), họ là những café
cantanta
(ca sĩ hát trong quán càfê) là một luồng sinh khí mới
thu hút được một thế hệ rất lớn những aficionado (người
hâm mộ), và đã trở nên một dấu ấn sâu đậm khó quên đối
với họ. Phong thái này mặc dù thiếu cái passion2
động của tiết nhịp flamenco nhưng nó lại là cái Passion3 tĩnh — 
đúng lúc để lặng mình mà chiêm ngắm lại những vết
thương lòng của người VN, của những vết lăn trầm,  của
thân xác quê hương đang tan nát từng giờ trong những Ca Khúc Da
Vàng
(1967). Những bài hát ru như Ngủ đi con, Lời mẹ
ru
và đặc biệt bài Ca dao mẹ: hình ảnh người mẹ
ngồi trăm năm như thân tượng buồn
để lại quê hương
là pho tượng bi cảm Pieta (Thương xót) sống động về người
mẹ VN ru con, ru mình, ru quê hương trong tiếng võng bấp bênh phận
người, trong lúc thần chết đang bay chập chờn… Cũng có thể nói
phần lớn ca khúc TCS là những bài hát ru và hát kể và là những
tự tình khúc. Rất nhiều lời tỏ tình mở đầu ca khúc
của anh luôn là ngôn ngữ nói đằm thắm gần gũi đời thường
như: Chiều nay em ra phố về… Ngày mai em đi…, Ði về đâu
hỡi em…  Em còn nhớ hay em đã
quên… Không có đâu em này…
 TCS
đã thăng hoa cho cái hồn đầy nhạc tính của tiếng Việt.

 

Những
khúc ca thơ chủ đề thân phận như Vết lăn trầm, Dấu
chân địa đàng, Từng ngày qua, Ru ta ngậm ngùi, Xin mặt trời
ngủ yên,
… làm ta nhớ tới những Trầm Ca (Cante Jondo
của García Lorca)4,
chúng thổ lộ được hết cái hồn duende 
— tiếng kêu bi thương phát toả được từ đáy lòng u uẩn
—  được hát lên trong những
quán café, góc phố,  hoặc
trong không khí bè bạn. Chúng biểu lộ được cái thân phận du
mục
của người VN trong thời chiến, trong khi không thể kiếm
được tình tự đó nơi những rạp hát hào nhoáng thường là nơi
mua bán cảm xúc như những sản phẩm; những nơi đó khó có thể
là môi trường thích hợp cho nhạc Trịnh Công Sơn. Ca khúc Da Vàng,
Kinh Việt Nam, Ta Phải Thấy Mặt Trời… cũng làm thức dậy
cái tính độc lập ”vô chính phủ” (arnachy) trong tiềm thức
của thanh niên. Từ đó ta hiểu tại sao nhạc TCS từng là mối
“taboo” (cấm kị) đối với chính quyền của cả hai phía, nó
bị kết án với cái tên gọi là nhạc Xanh. Xanh, bởi
nó không theo Vàng hoặc Ðoû. Hay có thể nói nhạc Xanh
cũng là Blues5
bởi nó nói lên được cái thân phận nô lệ da vàng đầy
tủi nhục. Nhìn lại Gia tài của mẹ là khát vọng “giải
thực” (decolonization) cho cái tinh thần bị tha hoá của người
Việt, đặc biệt là ở giới cầm quyền và trí thức trong thời nội
chiến6
.
Rất nhiều hình tượng về người Mẹ và người Nữ biểu tượng
cho tình yêu xuyên suốt trọn đời sáng tác của TCS, đó là sự hướng
về Nữ tính Vĩnh cửu (Éternal Féminin — Goethe) làm biểu tượng
cho sự cứu rỗi chung.

 

Ðịnh
mệnh của người thi ca sĩ Trịnh Công Sơn như định mệnh của chàng
Orpheus [trong thần thoại Hi lạp] đã phải hành hương xuống tận
cõi âm ti, bằng mãnh lực của lời thơ tiếng nhạc làm nguôi
dịu những linh hồn đang bị đày đoạ và để cứu lại người
tình đã bị rắn độc giết hại. Tiếng hát cung đàn lyra của
Orpheus cũng đã cứu bao người khỏi chết vì giọng mật ngọt
của ngư nữ Siren huyễn hoặc giữa trùng khơi… 
Do màu sắc tâm linh trong những ca khúc của Trịnh Công Sơn nên
tự chúng không thể là loại ca khúc phổ thông để tiêu khiển, vì
khi hát lên được cái hồn trầm uất của mình là giải nguôi
được cho tâm bệnh của mình. Ở trong đó đã tiềm ẩn chức năng
chữa trị của các shaman (thầy mo) là dùng những khúc phù
chú để chữa lành xoa dịu nỗi đau tâm hồn và thể xác. Shaman
là nhà thơ, nhạc sĩ, hoạ sĩ, thầy thuốc đồng thời hiệp thông
giữa hai cõi sống và chết — làm vai trò giải tà, giải oan và
chiêu tụ. Ðiều này thấy trong Ca Khúc Da Vàng và như trong
lời mở đầu kêu gọi thống thiết của Trịnh Công Sơn trong Kinh
Việt Nam
(1968): Ta phải đi tới bằng con tim sứ giả mang
niềm tin và lời hứa hẹn của những người đã nằm xuống…
Xin đừng bao giờ làm kẻ phản bội với một quá khứ hiển linh…

 

Dõi
trông cuộc hành hương của người du ca sĩ Trịnh Công Sơn ta
thấy nhạc khởi đầu đã hoà chung vào với từng giọt nước
mắt buồn rơi trong đêm mưa từ độ ấy… và từ đó đêm[và mưa]
bao trùm lên những ca khúc của anh – như những bài Tụng ca
Ðêm
của thi sĩ Novalis: “Ðêm đã trở nên, dạ con kết trái,
đầy những mạc khải…” – Ðêm ta nằm nghe tiếng trăm năm…
đêm nghe tiếng muôn trùng, đêm nghe tiếng khóc cười của bào
thai.
Hoá thân vào dòng thác đêm là cái chết đang cuốn trôi
đi tất cả trong Ðêm thấy ta là thác đổ. Ðêm mạc khải
cho trăng vàng khai hội một đoá hoa quỳnh. Từ đó ta là đêm
nở đoá hoa vô thường…

 

Từ
thánh vịnh ca Cát bụi tới hương thiền ca Ðoá hoa vô thường,
ở thời khoảng giữa đã là một hành trình vượt qua những
chặng thương khó của từng Ca Khúc Da Vàng đầy ắp những
hình ảnh thánh giá, khổ nạn, phúc âm, lời kinh đêm, vực sâu,
những lời truyền tin đợi chờ phục sinh… là nỗi tuyệt cùng
chỉ còn hi vọng vào sự cứu rỗi của tình yêu. Chúa đã bỏ
loài người, Phật đã bỏ loài người, này em xin cứu một người,
này em có nhớ cuộc đời… Ðợi chờ yêu thương trên cây thánh
giá. Ðời có sân si dưới bóng bồ đề…
Cho tới thời điểm
tĩnh tịch giữa ngọ7cây trưa thu bóng dài và tôi thu bóng tôi
là nỗi khát khao đi tìm lại sự an nhiên (người về soi bóng mình)
trong cõi tâm linh với hương thiền đầy tính mĩ học (mà thiền sư
Nhật Suzuki Daisetz đã tung gieo ra ngoài thế giới). Những tác
phẩm mang hương vị Thiền thời kì này (1972 –75) như Ở trọ,
Biết đâu nguồn cội, Ngẫu nhiên, Nguyệt ca, Níu tay nghìn trùng,
Giọt lệ thiên thu, Lời thiên thu gọi, Phôi pha, Bên đời hiu
quạnh, Ðêm thấy ta là thác đổ, Cũng sẽ chìm trôi, Tự tình khúc,
Một cõi đi ve
à,... và được “viên thành” bằng tổ
khúc Ðoá hoa vô thường. Ðoá hoa vô thường có thể
coi là bức “tứ bình” bằng nhạc, thơ và hoạ mở ra cho ta
thấy trọn cuộc hành trình tâm linh đi tìm ý nghĩa trong cuộc
hội ngộ với tình yêu, cái đẹp, cái vô thường. 

 

Khát
khao đi tìm sự bình an của Trịnh Công Sơn trong Thiền tông, không
hẳn là để tìm sự giải thoát hoặc để đạt tới cõi hoàn toàn
an nhiên tự tại, mà có phần gần với lí tưởng Bồ tát [như đối
với nhà thơ Cao Bá Quát] là “mang cái bệnh Duy-ma” vì chúng
sinh8  Lí tưởng này không
nhằm đạt tới Niết Bàn, cho dù tình yêu ở đây có mang tính vô
ngã đi nữa: Tôi xin làm quán đợi buồn chân em ghé chơi/ Tôi
xin làm đá cuội mà lăn theo gót hài/ Tôi thu tôi bé lại làm mưa
tan giữa trời.
Trong ca khúc Biết đâu nguồn cội đó,
đầy những hình ảnh [mang Âm tính, Nữ tính, Mẫu tính và
Pháp tính] thường thấy trong Thiền tông: nước, trăng, thuyền [chứa
chở trời đất và người] đều nổi trôi, che chở và uyển
chuyển. Ở trong bài nhạc này để nói về sự tương tác luôn
“ở trọ” trong nhau và “thiếu nợ” lẫn nhau giữa cõi đời
và với trời đất (trăng muôn đời thiếu nợ mà sông không nhớ
ra)
hơn là để nói tới cái tâm chân như hay cái tánh không:
“Kìa xem bóng nguyệt lòng sông. Ai hay không có có không là gì”
(Thiền sư Ðạo Hạnh). Ở Trịnh Công Sơn, cái đẹp bi luỵ còn
in dấu khi bước tới hư vô khoác áo chân như nhưng
vẫn còn long lanh giọt lệ thiên thu (Giọt lệ thiên thu).
Ðôi khi trầm tư về cái đẹp với cảm xúc bâng khuâng trước cái
mênh mang mà sự giải thoát thì diệu vợi tận cõi “bỉ ngạn”
(bờ kia):

 

Bên
kia sông nước vô bờ

Hồng
nhan em có bao giờ bâng khuâng.

(Lời ở phố về)

 

 

 

Nhan
sắc Ðoá hoa Vô thường

 

Tim
tôi đã nở

Ðoá
hoa dưới trời

Chùm
cánh khát mong

Bầu
nhuỵ mơ mòng.

              
(García
Lorca)

 

Nếu
chiêm ngắm kĩ, bạn sẽ thấy con người là một bông hoa năm cánh
.
Một thiền giả Nhật đã có chiêm nghiệm như vậy.

 

“Giao
hưởng thơ” Ðoá hoa vô thường là một dụ ngôn/ẩn dụ
bằng ý thơ nẻo nhạc để kể về cuộc hành hương đi tìm ý nghĩa
của tình yêu, nghệ thuật và cái chết. Tương tự như trong
truyền thuyết đi tìm Ðoá hoa Xanh biểu trưng cho nghệ thuật của
thi sĩ Lãng mạn Ðức Novalis — Một cuộc luyện đan (alchemy) trong
tình yêu và nghệ thuật. Hoặc gần với Thiền tông hơn, nó 
được luân diễn trong 10 bức tranh chăn trâu, là hình ảnh
kẻ mục đồng hay hành giả/lữ khách lạc nẻo giữa đồng hoang
nội cỏ, khởi đi tìm cái tâm (chân như) của chính mình đã đánh
mất trên siêu lộ mê ảnh trong cõi sinh tử chập chùng mộng
mị…

 

Bốn
“chương” (movement) nhạc của Ðoá Hoa Vô Thường tương
ứng với bốn mùa hay bốn tâm cảnh về một đời người, như vòng
“qui hồi vĩnh cửu” (eternal recurrence) trong Một cõi đi về.
Lối tiến hành âm hình giai điệu của Ðoá Hoa Vô Thường là
một cuộc chuyển hoá liên tục giọng, điệu tính, tiết nhịp, tâm
thái… trong từng đoạn, câu hoặc tiết nhạc. Ý thơ dựa trên
một chủ đề chính tái hiện nhiều lần là bông hoa xuyên suốt tác
phẩm. Sự chuyển hoá sắc thái liên tục này làm gợi nhớ tới
ý niệm “giao hưởng thơ”  [symphonic poem của các nhà soạn nhạc Ðức
như F. Liszt thời Lãng mạn] đưa ra tính tự do của một nhạc thể
và khả năng sử dụng dàn nhạc như là một bảng pha màu, từ đó
vẽ ra một bức tranh linh động bằng âm thanh-hình ảnh.

 

 

Chương
I

Tìm
tình, nhịp thong dong

Khởi
đầu bằng thể hát kể đồng dao bốn chữ Tìm em tôi tìm…
như nhịp chân rảo bước đi tìm Tình trong vẻ Ðẹp mà hình ảnh
thanh tao hiện thân trong mình hạc xương mai. Bước đầu tìm
trong cái đơn độc, cái một: tìm trên non ngàn một cành hoa khôi
—
hiển hiện trong đoá hoa tinh khôi đó là nụ cười mong
manh, một hồn yếu đuối, một bờ môi thơm
mang tấm lòng sơ
nguyên của một hồn giấy mới. Khiến chúng ta liên tưởng
tới những vần thơ tình tâm linh diễm tuyệt “vì tình tôi phải
tìm tình” trong Nhã Ca (Kinh Thánh) hoặc trong Tụng ca Tâm
linh
[của San Juan de la Cruz] để đi tới chỗ kết hợp huyền
nhiệm (unio mystica).

 

(rộn
rã bồi hồi)

Ðường
nét “hướng thượng” trong giai điệu này: “Tìm em tôi tìm
nhủ lòng tôi ơi
…”  là
nỗi quyết tâm tìm trong cả những thấp thoáng ảo hoá (maya) của
vạn vật đắp đổi; thời gian: tìm đêm chưa từng, tìm ngày
tinh khôi
. Trên trời: tìm chim trong đàn ngậm hạt sương bay.
Dưới đất: tìm lại trên sông… 
những dấu hài
. Từ thơ bốn chữ giờ còn lại còn ba chữ:
những dấu hài…  giọng
ngậm ngùi tưởng nhớ.  Ở đây
“tình lại gặp tình” lần tìm theo chỉ thấy từng bước in rêu
của một hồng nhan bạc mệnh…

(Trầm
tưởng).


 

(Dịu
lắng)

“Tìm
em xa gần đất trời rộn ràng…”
lòng
người đi tìm bây giờ đã lắng xuống để quán tưởng mà
ôm lấy đất trời xa gần trong cả cái tính phù du, bạc mệnh, tàn
và tận của tấn tuồng ảo hoá đó: Tìm trong sương hồng,
trong chiều bạc mệnh
, trăng tàn nguyệt tận, chưa từng
tuyệt vọng đâu em
. Thêm hai chữ đâu em như lời nhắn
nhủ mãi mãi tới cõi phù sinh này (Ðừng tuyệt vọng tôi/em ơi
đừng tuyệt vọng…).

 

(Rộn
ràng)

Từ
thể hát đồng dao giờ hoá thành bài kệ (gatha) tụng reo:

 

Tìm
trong vô thường

Có
đôi dòng Kinh

Sấm
bay rền vang

Bỗng
tôi thấy em

Dưới
chân cội nguồn…


 

Là
lúc cảnh giới của đất trời giao hội từ khi câu Kinh đã bước
vào đời
(Nguyệt ca) — đôi dòng Kinh Sấm (Vajracchedika)
ấy bay rền vang là ánh kim cương chẻ toang bóng tối âm u… 
Cũng chính là lúc bỗng tôi thấy em dưới chân cội
nguồn – cội nguồn
của chân như, bản lai diện mục – Người
Tình hay cái Tâm sẽ tự hiển hiện cho thấy khi thôi tìm
trong hình sắc, âm thanh… Giờ tôi mời em về trong đêm thiêng
liêng có ơn mưa trời gội rửa tuôn tưới. Em giờ hiện
hữu ở khắp bốn bề tẩm hương trầm thơm ngát. [Tiếng đàn…
như tiếng mưa nhỏ giọt]. Khi vườn mưa tạnh, tiếng nhạc
liền cất lên hân hoan để soạn sửa cho cuộc lễ mạc khải thiêng
liêng dưới ánh trăng vàng: một đoá hoa quỳnh trong ngọc
trắng ngần lồng với bóng trăng tròn. Cũng từ lòng đoá hoa tố
tâm đó mở ra [chỉ trong một đêm thắp sáng] mà vạn vật được
phản chiếu và mở phơi như trong một tấm gương trong. Cái nôi vũ
trụ tình yêu nhiệm màu đó là những ngón tay xoè bung ôm lấy
tất cả làm Một.

 

Tới
đây lời thơ ngưng. [Tiếng đàn… giờ là ánh trăng lung
linh tĩnh mặc] để chiêm ngắm vẻ đẹp của đoá ngọc quỳnh. Như
cái thị kiến ân sủng (beatific vision) của thi sĩ Dante chói mắt
trước ánh sáng tâm linh phát toả từ tình yêu được kết thành
đoá hoa hồng trắng.

 

 

Chương
II

Ðưa
tình về, nhịp hớn hở  (Nhạc…)


Thanh
thoảng (Nhạc…)

 

Bình
an

Từ
khi có duyên hội ngộ, đã có tình là có đối đáp. Lời thơ
chuyển sang thể lục bát trữ tình để bày tỏ khoảng an bình khi
cả hai đã có nhau như hình với bóng. Bằng một nhịp thơ
liền lạc, vui và đầm ấm: “Từ nay tôi đã có người, có em
đi đứng bên đời líu lo…  Từ
em tôi đã đắp bồi, có tôi trong dáng em ngồi trước sân.”
 

 

Hát
tự do

Giọng
chuyển đột ngột chùng xuống thành khúc hoài cảm (melancholy)
đượm vẻ nuối tiếc, man mác, buốt lạnh như lời linh cảm trước
cho tính bạc mệnh của đoá hoa “mới chớm đã viên thành” như
nụ tình ái Kim-Kiều.
Mùa
đông cho em nỗi buồn, chiều em ra đứng hát kinh đầu sông… chút
tình mới chớm đã viên thành.

 

Và
tàn đông con nước kéo lên đợi mùa xuân tới:

 

Nhịp
nhàng thơ thới

Ðiệp
từ Từ nay… đã luôn được nhắc lại, cung giọng bây giờ
cao và nhấn nhá vui hơn. Toàn chương II diễn tả một cuộc “đối
đáp” nói–thưa (đối điểm/counterpoint), đắp-bồi
giữa hai bè ngôi thứ khởi từ tôi-người, tôi-tình sang tôi-em;
cho tới đoạn này là anh-nàng để đồng xướng (homophony)
một chữ có. Ở đoạn này như là giai điệu chim hót trầm
bổng cùng với tiếng ca đồng thanh của đất trời sông núi đáp
đền
tới cuộc hội ngộ từ khi đã có… Từ nay anh
đã có nàng, biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca. Mùa xuân trên
những mái nhà, có con chim hót tên là ái ân.

 

 

Chương
III


Bốn
mùa yêu nhau trong lẽ vô thường của trời đất

(Nhạc
chuyển…  Chậm lại…)

 

Bình
an


Khúc
arioso (vịnh tự khúc): “Sen hồng một nụ…” Chuyển từ
hình ảnh đoá quỳnh trắng của chương I sang một hoá thân khác là
nụ sen hồng đang ngồi đong đưa — khoảng cách từ “thơ ngây”
tới “kinh nghiệm” — bằng một giọng kể hoài tưởng lại
thời thanh xuân êm đềm chuyển sang sắc màu “chín” của tình yêu
đã nếm trải từ rạng đông cao đến đêm ngọt ngào.
Bảng màu “mùa xuân chín” rõ rệt hơn: Em hồng một thuở
xuân
xanh… giờ còn lại nỗi buồn hoài niệm để đền
trọn mối tình
. (Hồng đi nhé xin hồng với nụ. Vàng phai
sẽ cuốn đi mịt mù
– Vàng phai trước ngõ).

(nhạc
chuyển…)

 

Hiu
hắt

Từ
đây chuyển đoạn trầm xuống hiu hắt như tiếp nối đoạn hoài
cảm
ở chương II nhưng đã trở thành thể thơ độc thoại sáu
chữ. Một chiều em đứng cuối sông, gió mùa thu rất ân cần
chở lời kinh đến núi non, những lời tình em trối trăng…”
Cuộc
tình đã trải qua cả hạnh phúc lẫn khổ đau, và thân phận lưu
lạc hoa trôi bèo dạt, lênh đênh từ đầu sông cho tới cuối
sông
đoạn trường “tính từ sông nước cát lầm”. Cánh gió
mùa thu chở lời Kinh hát về thân phận gửi tới non nước quê nhà.
Một thời yêu dấu đã qua. Giờ đây gót hồng (gót sen/đôi
chân hồng trần củaThuý Kiều) mong mỏi được quay về. Từ khúc
hoài cảm ở trên giờ hợp lại trở thành khúc hoài hương
(nostalgia) trối trăng rằng: dù trần gian có xót xa cũng đành
về với quê nhà.


 

(Con
sóng biển dâu đã mang tình về quê quán cũ)

[Nhạc…]


 

 

Chương
IV

(Nhạc
chuyển… ) Rộng rãi

Dồn
dập vừa

Mênh
mông

 

Tình
đi, người ở lại — (Ðoạn cuối)

Êm
đềm, xa vắng


Khúc
1: “Từ đó trong vườn khuya, ôi áo xưa em là một chút mây phù
du, đã thoáng qua đời ta…”.

Khúc
bi ca (elegy) u huyền này bằng thể thơ tự sự năm chữ, là
tiếng thở dài mênh mang khi tình đã đi, người ở lại. 
Có thể diễn tả lại bằng lời thơ trong Lửa Thiêng:

 

Bóng
đêm toả không lấp niềm thương nhớ, 


Tình
đi mau, – sầu ở lại lâu dài.

Ta
đã để hồn tan trong tiếng thở

Kêu
gọi người đưa tiễn nỗi tàn phai.

                                              
(“Bi ca” – Huy Cận
)

 

Từ
cảnh vườn đêm hội ngộ có ánh trăng vàng mạc khải của chương
I tới cảnh vườn khuya cô tịch trong chương cuối này, là nỗi
thấu cảm tính phù du của chữ tình, của vẻ đẹp mong manh là hình
ảnh chính cái chết. Từ đó trong hồn ta, ôi tiếng chuông não
nề…
Nỗi tuyệt vọng mênh mang, nhịp tim xao động trong lòng là
tiếng chuông não nề văng vẳng như tiếng chuông cầu hồn. Tiếng
ngựa hí vang rừng xa vọng suốt đất trời kia, mang tính
ẩn dụ đầy âm-hình (audio-visual) loan báo cho giờ phút khởi hành
chuyến xe cuối cùng của đời người.
Từ
đó ta ngồi mê, để thấy trên đường xa, một chuyến xe tựa như,
vừa đến nơi chia lìa.

 

(Tình
do tâm mà sinh, có khi tình mất mà tâm còn động vọng. Ðến lúc
tâm bình an thì tình kia cũng đoạn nỗi).

[Nhạc]
Mạnh và liền nhau

 

Êm
dịu lại

Khúc
2: “Từ đó ta nằm đau, ôi núi cũng như đèo, một chút vô thường
theo…”

Bài
tự tình khúc cuối này như bức tranh thuỷ mặc của cõi tâm bao
la vô cùng.

Từ
đó…
từ chốn vô thuỷ vô chung để mà
chiêm nghiệm toàn cảnh lộ trình đã qua của người nghệ sĩ –
kẻ hành hương — giờ nằm đau dạt dào bi cảm trước cái như tính
của vẻ đẹp, của sự vật; chẳng còn biện biệt nữa không
gian (ôi núi cũng như đèo) với thời gian (từng phút cao
giờ sâu
) để rồi nhập vào với trạng thái tịnh mặc (samadhi)
ngay trong nỗi đau – [ở một nghĩa nào đó] là đang trải qua kinh
nghiệm về cái chết. Ði vào cõi chết như một âm điệu ngân
vang rồi cũng sẽ chìm trôi vào với cái tịch lặng: cõi
đi về
thiết yếu của âm nhạc, của chính đời người.

 

Từ
đó
— tình
yêu là hoa nở hồng ban sớm nở hết trong hoàng hôn, vẫn còn mãi
khát mong, lại phải nhờ tới ngọn gió vô thường thổi qua để
tiếp tục hoá thân thành sương tinh khiết rụng mát trong bình minh.


 

Vườn
khuya đoá hoa nào mới nở,

Ðời
ta có ai vừa qua
…

                     
(Ðêm thấy ta là thác
đổ)

 

Từ
đó ta là đêm, nở đoá hoa vô thường.

 

Từ
đó —
người
đi hành hương nhập thể vào với bóng đêm vô tận (là cõi chân
không) để nở ra đóa hoa vô thường: người chiêm ngắm [đoá
hoa] đã trở thành cái [đoá hoa] mà mình chiêm ngắm. Vẻ đẹp
của đoá hoa vô thường là nở ra nụ cười khúc khích trên lưng
đài gương của cái dục mang hương sắc hoa tình của cái chết.

 

Từ
đó

— đoá hoa là biểu hiện rõ nhất về sự vô thường: hiện,
hiển và biến:

 

Mùa
mưa tới cành hoa trắng ngần

Ðã
ra đời đùa vui phút giây

Sau
một lần đến bên người

Khép
lại tấm lòng nghìn năm nhớ ai…

           
(Chuyện
đoá quỳnh hương)

 

Từ
đó

— đoá hoa ấy đã khép lại những cánh mong manh trước cả lúc trăng
tàn nguyệt tận
.

 

Từ
đó —

Chìm
dưới sương thu là một đoá thơm tho.

                                      
(Chìm dưới cơn mưa)

 

Nhưng
từ đó, để kết tinh nên một đoá mong manh, thơm tho ấy dâng
cho đời, đã là sự cưu mang và hi hữu kể từ trăm năm trong cõi
người ta
…

 

(Nhạc
để chấm dứt…)

 


 

Khúc
kết


Những
phương trời gió loạn nào đã đi qua,

Còn
lại đoá hoa vô thường

Phất
phơ giữa tuế nguyệt không thời.9




Hà Vũ Trọng (Toronto)

________________________________________


Chú thích:


1
Xem vấn đề “Sinh tử sự đại” và “Cái Chết Lớn” trong bài
“Mondo: At the Death of a Great-Death-Man” trong A Zen Life: D. T. Suzuki
Remembered
. (Vấn đáp: cái Chết của một Ðại-Tử-Nhân — Một
đời Thiền: Hồi tưởng về D. T. Suzuki
]. Masao Abe chủ biên,
Nxb Weatherhill, Tokyo, 1986.

2
passion:
cuồng nhiệt.

3
Passion
(viết hoa): sự thương khó, thống
khổ.

4
Poem del Cante Jondo
(Thi tập Trầm ca): Tác
phẩm chính đầu tay của Federico García Lorca, 1921, nhà thơ 23 tuổi
lúc đó đã kết tinh được những chủ đề sẽ đi xuyên suốt các
tác phẩm của ông: tình yêu, cái chết, và sự lạc loài.  Như Lorca nói: “Sắc thái địa phương [của nhạc
phổ thông Flamenco] đối lập với sắc thái tâm linh [của Trầm
Ca
] — đó là sự khác biệt rất sâu xa.” 
Sắc thái tâm linh trong các khúc ca của Trịnh Công Sơn cũng
khác biệt xa với loại ca khúc phổ thông VN khác (tương tự như
Blues đối với Rock and Roll ở Mĩ).

5
Chất Blues của người da đen có thể thấy trong các ca
khúc chủ đề về thân phận của TCS đặc biệt những năm 1964-66 
mang giọng thở than não nề nhưng không có tính 
u mặc mai mỉa của blues da đen và cấu trúc nhịp cũng đơn
giản hơn. Riêng ở những Ca Khúc Da Vàng và Kinh Việt Nam,
chất blues được “Trịnh Công Sơn hoá” và nâng lên thành
những khúc hát Kinh, để tụng (lập đi lập lại lời đầu của
đoạn một; vd: Chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người…
hay Người con gái Việt Nam da vàng…) mà sắc thái gần với
thể gospel blues (= phúc âm buồn) 
và spirituals (nhạc tâm linh da đen) mà điệu thức có
cả thang âm ngũ cung như điệu hát chầu văn Huế mà tiết tấu [thay
vì dùng sênh, phách, mõ]  có thể vỗ tay hoặc dậm chân đệm khi hát. Ðiệu
blues thở than vì thân phận đoạ đày mất quê hương của
người da đen đã gặp điệu “blues Nam ai” não nề của dân Chàm
[trong chầu văn Huế]. 

6
Ðể hiểu rõ quan điểm của TCS về cuộc chiến tranh VN 
là một cuộc nội chiến cũng như thái độ, ý thức
chính trị của TCS trước vàø sau 1975, xin xem cuộc tiếp xúc
và nói chuyện giữa kí giả Henry Kamm với Trịnh Công Sơn trong
cuốn Dragon Ascending — Vietnam and the Vietnamese (Thăng long – Nước
Việt và người Việt), chương 15: “The Wages of the Just” (Lương
bổng của người Công chính), Nxb Arcade, NY 1996. Bài hát cuối cùng
(“swan song)  của TCS là Ðồng
dao 2000
— sáng tác cho năm 2000 — là “giấc mơ tiếp nối”
của Ðồng dao hoà bình (1968); giấc mơ chấm dứt cuộc nội
chiến
Nam-Bắc đó, và thị kiến về hoà bình giờ như thể 
đã được hiện thực hoá: “Ðường sóng gió đã 
đã qua đi. Ðường hoà bình đã đến rồi. Năm hai ngàn ta
đi tới
…“

7
Nietzsche: Zarathustra đã nói thế, phần IV chương Về giữa
ngọ.
Bản Anh ngữ của R J Hollingdale. Penguin Books, 1961.

8
“Bồ-tát vì chúng sinh mà vào vòng sinh tử, đã có sinh tử thì
có bệnh, bao giờ chúng sinh hết bệnh thì Bồ -tát sẽ không còn
bệnh”. (
Kinh Duy-ma-cật).

9 Dịch nghĩa thơ của Vương Duy. Trích trong Ðường
thi – Vương Duy chân diện mục
của Vũ Thế Ngọc, Eastwest
Institute Press, CA 1987.



Trịnh Công Sơn

ÐOÁ
HOA VÔ THƯỜNG

 I

Tìm
em tôi tìm

Mình
hạc xương mai

Tìm
trên non ngàn

Một
cành hoa khôi

Nụ
cười mong manh

Một
hồn yếu đuối

Một
bờ môi thơm

Một
hồn giấy mới

 

Tìm
em tôi tìm

Nhủ
lòng tôi ơi

Tìm
đêm chưa từng

Tìm
ngày tinh khôi

Tìm
chim trong đàn

Ngậm
hạt sương bay

Tìm
lại trên sông

Những
dấu hài

 

Tìm
em xa gần

Ðất
trời rộn ràng

Tìm
trong sương hồng

Trong
chiều bạc mệnh

Trăng
tàn nguyệt tận

Chưa
từng tuyệt vọng đâu em

 

Tìm
trong vô thường

Có
đôi dòng Kinh

Sấm
bay rền vang

Bỗng
tôi thấy em

Dưới
chân cội nguồn

Tôi
mời em về

Ðêm
gội mưa trong

Em
ngồi bốn bề

Thơm
ngát hương trầm

 

Trong
vườn mưa tạnh

Tiếng
nhạc hân hoan

Trăng
vàng khai hội

Một
đoá hoa quỳnh

 

 

 

II

 

Từ
nay tôi đã có người

Có
em đi đứng bên đời líu lo

Từ
nay tôi đã có tình

Có
em yêu dấu lẫy lừng nói thưa

 

Từ
em tôi đã đắp bồi

Có
tôi trong dáng em ngồi trước sân

 

Mùa
đông cho em nỗi buồn

Chiều
em ra đứng hát kinh đầu sông

Tàn
đông con nước kéo lên

Chút
tình mới chớm đã viên thành

 

Từ
nay anh đã có nàng

Biết
ơn sông núi đáp đền tiếng ca

Mùa
xuân trên những mái nhà

Có
con chim hót tên là ái ân

 

 

 

III

 

Sen
hồng một nụ

Em
ngồi một thuở

Một
thuở yêu nhau

Có
vui cùng sầu

Từ
rạng đông cao

Ðến
đêm ngọt ngào

Sen
hồng một độ

Em
hồng một thuở xuân xanh

Sen
buồn một mình

Em
buồn đền trọn mối tình

 

Một
chiều em đứng cuối sông

Gió
mùa thu rất ân cần

Chở
lời kinh đến núi non

Những
lời tình em trối trăng

Một
thời yêu dấu đã qua

Gót
hồng em muốn quay về

Dù
trần gian có xót xa

Cũng
đành về với quê nhà

 

 

 

 

IV

Từ
đó trong vườn khuya

Ôi
áo xưa em là

Một
chút mây phù du

Ðã
thoáng qua đời ta

Từ
đó trong hồn ta

Ôi
tiếng chuông não nề

Ngựa
hí vang rừng xa

Vọng
suốt đất trời kia

Từ
đó ta ngồi mê

Ðể
thấy trên đường xa

Một
chuyến xe tựa như

Vừa
đến nơi chia lìa

 

Từ
đó ta nằm đau

Ôi
núi cũng như đèo

Một
chút vô thường theo

Từng
phút cao giờ sâu

Từ
đó hoa là em

Một
sớm kia rất hồng

Nở
hết trong hoàng hôn

Ðợi
gió vô thường lên

Từ
đó em là sương

Rụng
mát trong bình minh

Từ
đó ta là đêm

Nở
đoá hoa vô thường.

 

 



_____________________

*
Chữ in nghiêng các đoạn độc lập hay điệp khúc và phân đoạn
lời thơ bài ÐHVT thành bốn khúc là theo Hà Vũ Trọng
.

 
© talawas 2026