trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
17.9.2007
Robert Reich
Chế độ tư bản đang triệt hạ thể chế dân chủ như thế nào?
 
Thị trường tự do vẫn được coi là con đường dẫn đến xã hội tự do. Nhưng ngày nay kinh tế toàn cầu đang làm mất dần sức mạnh của người dân trong những thể chế dân chủ khắp nơi trên thế giới. Kết quả lời lỗ sau cùng lấn át cả lý tưởng tốt đẹp và chính quyền trở thành thứ yếu đối với những đại công ty.

Đáng nhẽ đây phải là một sự kết hợp hoàn hảo. Từ lâu chúng ta được chỉ bảo rằng chế độ tư bản và thể chế dân chủ là hai cột trụ lý tưởng để mang lại thịnh vượng và tự do chưa bao giờ thấy trên thế giới. Trong những thập niên vừa qua, cả hai lãnh vực này đều thăng tiến. Bằng mọi cách đo lường, chế độ tư bản toàn cầu đã toàn thắng. Hầu hết các quốc gia trên thế giới ngày nay là một phần của một thị trường toàn cầu duy nhất, thống nhất và phát triển nhanh chóng. Nền dân chủ cũng bước vào thời kỳ Phục hưng. Ba chục năm trước chỉ có một phần ba số quốc gia trên trái đất tổ chức bầu cử tự do; ngày nay con số này lên đến gần hai phần ba.

Theo quan điểm thông thường, ở đâu có chế độ tư bản, ở đó sẽ sớm có dân chủ, và ngược lại. Tuy nhiên hiện nay, vận mệnh của hai thực thể này đang bắt đầu tách nhau ra. Chế độ tư bản, vốn vẫn được quảng cáo là gắn liền với thể chế dân chủ như âm gắn liền với dương, đang tăng trưởng tốt đẹp, trong khi thể chế dân chủ phải phấn đấu một cách khó khăn. Trung Quốc, ở tư thế sẽ trở thành một nước tư bản lớn thứ ba trong năm nay sau Hoa Kỳ và Nhật Bản, đã chấp nhận tự do buôn bán, nhưng không không chấp nhận tự do chính trị. Nhiều nước thành công về mặt kinh tế – từ Nga cho đến Mễ Tây Cơ – là những nước dân chủ, nhưng chỉ dân chủ trên danh nghĩa mà thôi. Những nước này vấp phải đúng những vấn đề đã gây trở ngại cho sự phát triển của nền dân chủ Hoa Kỳ trong những năm gần đây. Đó là tình trạng những công ty và những lớp người có nhiều quyền thế và giầu có trong xã hội được khích lệ bởi sự thành công dễ dàng về mặt kinh tế, nhưng làm suy giảm khả năng đáp ứng của chính phủ đối với những quan ngại của dân chúng.

Dĩ nhiên là nền dân chủ bao gồm nhiều thứ, không phải chỉ có tiến trình bầu cử tự do và công bằng. Đây là một hệ thống để thực hiện những gì chỉ có thể đạt được khi các công dân hợp tác với nhau để theo đuổi mục đích chung. Mặc dầu những thị trường tự do đã mang lại thịnh vượng chưa từng thấy cho nhiều người, nhưng chúng cũng gia tăng cách biệt giầu nghèo, sự bất ổn về việc làm và những rủi ro về môi trường như sự hâm nóng địa cầu. Thể chế dân chủ được thiết lập để cho phép công dân nêu lên chính những vấn đề này trong tinh thần xây dựng. Tuy nhiên, công dân ở châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ cảm thấy mất dần quyền hành, trong khi đó giới tiêu thụ và đầu tư lại cảm thấy có nhiều thế lực hơn. Nói tóm lại không một quốc gia dân chủ nào có thể đối phó với những ảnh hưởng tiêu cực của chế độ tư bản.

Tuy nhiên sự kiện này không phải là một thất bại của chế độ tư bản. Khi hai lực này lan rộng khắp thế giới, chúng ta đã làm lu mờ trách nhiệm của chúng, làm thiệt hại đến trách nhiệm dân chủ của chúng ta. Vai trò của thế lực tư bản không có gì khác là làm cho chiếc bánh kinh tế lớn hơn. Và trong khi tư bản đáp ứng một cách đáng kể đòi hỏi của người tiêu thụ, những thế lực dân chủ phải tranh đấu để thực hiện những nhiệm vụ căn bản: diễn đạt và thực hiện lý tưởng tốt đẹp chung, và giúp đỡ xã hội có được cả tăng trưởng lẫn quân bình. Thể chế dân chủ cho phép công dân có thể tranh luận tập thể về những vấn đề như nên chia chiếc bánh ra sao và ấn định luật lệ nào để áp dụng cho sản phẩm tư và công. Ngày nay, người ta ngày càng để mặc những việc này cho thị trường quyết định. Điều tối cần thiết là phân chia ranh giới rõ ràng giữa hai lãnh vực tư bản và dân chủ – giữa một mặt là trò chơi kinh tế, và mặt khác là cách ấn định luật chơi của cái trò này. Nếu mục tiêu của chế độ tư bản là cho phép những công ty được tham dự vào thị trường càng năng nổ bao nhiêu càng tốt, thì thử thách đối với công dân là không để cho những thực thể kinh tế này làm ra luật lệ khiến chúng ta phải sống theo.

Phí tổn làm thương mại

Phần lớn người ta có hai lối suy nghĩ. Thứ nhất, là những người tiêu thụ và đầu tư, chúng ta muốn thương lượng có lợi và lời nhiều mà nền kinh tế toàn cầu đem lại. Thứ hai, là những công dân, chúng ta không thích những hậu quả xã hội do những trao đổi này gây ra. Chúng ta thích đổ lỗi cho những công ty về những tai hại tiếp theo nhưng thực ra chính chúng ta là một phần của sự kiện này. Tuy nhiên chúng ta biết nguyên nhân đưa đến những hiệp thương lớn hiện nay. Đó là những công nhân bị ép buộc phải chấp nhận tiền công và phúc lợi thấp. Đó là những công ty từ bỏ sự trung thành với cộng đồng và biến vào mạng lưới sản xuất toàn cầu. Đó là những viên chức điều hành chính yếu (chief executive officer – CEO) được hưởng lương bổng quá cao. Đó là những ngành kỹ nghệ thường gây ra những thiệt hại lớn cho môi trường.

Thật không may là tại Hoa Kỳ, những cuộc tranh luận về sự thay đổi kinh tế thường xẩy ra giữa hai nhóm cực đoan: một nhóm muốn thị trường tuyệt đối tự do và một nhóm muốn bảo vệ việc làm và bảo tồn cộng đồng như hiện nay. Thay vì tìm những phương cách để làm nhẹ bớt những ảnh hưởng bất lợi do việc toàn cầu hoá gây ra, bồi thường những người bị thiệt thòi, hoặc làm chậm bớt sự thay đổi, chúng ta lại gây chiến với nhau. Giới tiêu thụ và đầu tư hầu như luôn luôn thắng, nhưng giới công dân thỉnh thoảng cũng tấn công một cách tượng trưng bằng cách cố gắng ngăn chặn một thoả ước thương mại mới hay chống việc bán công ty Mỹ cho doanh nghiệp ngoại quốc. Những phản ứng mang tính tinh thần phân lập này là một dấu hiệu của một sự xung đột nội bộ mà người dân Mỹ cảm thấy – sự xung đột giữa bản chất người tiêu thụ và bản chất người công dân trong chúng ta.

Những cảm nghĩ xung khắc nói trên không giới hạn trong nước Mỹ. Làn sóng thay đổi cấu trúc của các công ty tại châu Âu gần đây đã làm rung động một lục địa từng chủ trương bảo vệ việc làm ổn định và an sinh xã hội. Sự kiện này làm cho dân châu Âu bất đồng về câu hỏi liệu họ có ưa thích những phúc lợi riêng tư do sự toàn cầu hoá đem lại hay không khi phải đối diện với sự gia tăng chi phí xã hội trong nước và ở nước ngoài. Lấy kỹ nghệ xe hơi làm một thí dụ. Vào năm 2001, DaimlerChrysler đương đầu với mức lỗ vốn gia tăng khi những người mua xe tại châu Âu bỏ rơi công ty và ủng hộ những hãng rẻ hơn. Do đó, viên chức điều hành chính yếu Dieter Zetsche cắt bỏ 26.000 việc làm trong lực lượng nhân công trên khắp thế giới và đóng cửa sáu cơ xưởng. Ngay cả những công ty có lời cũng cảm thấy áp lực phải cải tiến hiệu năng hơn nữa. Vào năm 2005, Deutsche Bank cùng một lúc công bố tin lợi nhuận tăng 87% và kế hoặch giảm 6.400 việc làm, gần một nửa là tại Đức và Anh. Khoảng 1.200 việc làm chuyển sang những nước có mức lương thấp. Ngày nay, giới tiêu thụ và đầu tư tại châu Âu khá hơn bao giờ hết, nhưng tình trạng bất ổn trong việc làm và sự chênh lệch gia tăng, ngay cả tại những nước có thể chế dân chủ xã hội được thiết lập để chống lại những bất công của thị trường. Đứng trước những thay đổi như vậy, những xã hội dân chủ ở châu Âu tỏ ra bị tê liệt đến nỗi công dân những nước này chỉ còn một cách để chống đối là tẩy chay và đình công.

Tại Nhật Bản, nhiều công ty đã bỏ chính sách bảo đảm việc làm suốt đời, giảm số nhân viên, và đóng cửa những bộ phận không sanh lời. Chỉ một vài tháng sau khi được bổ nhiệm làm CEO đầu tiên không phải là người Nhật của công ty Sony, ông Howard Stringer đã công bố giảm 10.000 nhân viên, khoảng 7% nhân lực. Chắc chắn rằng một số người tiêu thụ và đầu tư Nhật Bản được hưởng lợi từ việc thu nhỏ công ty: vào cuối năm 2005, thị trường chứng khoán Nhật Bản lên cao nhất trong khoảng 14 năm. Nhưng nhiều công nhân Nhật bị bỏ rơi lại đằng sau. Một quốc gia từng hãnh diện về một xã hội, nơi mà tất cả mọi người đều thuộc giai cấp trung lưu, nay đã thể hiện sự cách biệt về lợi tức và phồn thịnh. Trong khoảng thời gian 1999-2005, tỉ lệ gia đình không có tiết kiệm tăng gấp đôi, từ 12% lên đến 24%. Và công dân Nhật thường xuyên biểu lộ cảm giác mất quyền lực. Giống như nhiều nước tự do trên thế giới, Nhật Bản ủng hộ hệ thống tư bản toàn cầu nhưng có một thể chế dân chủ quá yếu ớt để đối đầu với nhiều bất lợi của thị trường tự do.

Trung Quốc ở đầu kia của quang phổ chính trị tiến tới chế độ tư bản mà không chấp nhận thể chế dân chủ. Đây là tin tốt đẹp cho những người đầu tư ở Trung Quốc, nhưng người dân Trung Quốc ngày càng chịu nhiều hậu quả xã hội. Khoảng cách chênh lệch giầu nghèo ngày càng rộng hơn. Giới thương gia tinh hoa của Trung Quốc sống trong những dinh thự tại những khu vực ngoại ô có người canh gác và gửi con cái ra ngoại quốc học. Trong khi đó, dân quê tràn về vùng đô thị tại Trung Quốc và làm gia tăng nạn thất nghiệp và sự nghèo đói tại khu vực thành phố. Tuy nhiên những người bị ảnh hưởng nhiều nhất lại không có đủ thế lực chính trị để có thể thay đổi tình trạng này. Họ không thể làm gì được hơn ngoài việc biểu tình bạo động nhưng lại thường xuyên bị dẹp tan bởi vũ lực.

Công dân tại những quốc gia dân chủ không chịu những giới hạn như vậy. Họ có khả năng thay đổi luật lệ để giảm bớt thiệt hại cho xã hội. Tuy nhiên chúng ta thường bỏ mặc những trách nhiệm này cho khu vực tư nhân – cho những công ty, những đội quân vận động hành lang và những chuyên viên giao tế công cộng của họ – chúng ta tưởng rằng những nhân vật này sẽ hành động theo đạo lý hoặc bổn phận công dân của các công ty, để tìm kiếm một lý tưởng tốt đẹp hơn. Nhưng trên thực tế, những người này không có trách nhiệm tự giải quyết sự bất bình đẳng hoặc bảo vệ môi trường. Chúng ta quên rằng những người này chỉ đơn thuần làm theo bổn phận của họ là bảo vệ kết quả lời lỗ sau cùng.

Luật chơi

Tại sao chế độ tư bản thành công trong khi nền dân chủ tiếp tục suy yếu dần?

Dân chủ trở nên suy yếu dần, phần lớn vì đứng trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt để giành giật giới tiêu thụ và đầu tư toàn cầu, các công ty đã phải sử dụng những món tiền lớn để vận động hành lang, giao tế, hối lộ, đền ơn, thay đổi luật lệ để giành lấy ưu thế trước đối phương. Kết quả là một cuộc chạy đua vũ trang để tranh giành ảnh hưởng chính trị. Nó át hết tiếng nói của những người dân bình thường. Thí dụ tại Hoa Kỳ, những trận chiến trong Quốc hội, thường kéo dài nhiều tuần hay nhiều tháng, phần lớn là những cuộc chạy đua giữa các công ty hay các nghành công nghiệp đang cạnh tranh.

Trong khi các công ty ngày càng đặt ra nhiều luật lệ làm lợi cho chính mình, họ cũng lại được coi là phải có trách nhiệm và đạo đức xã hội. Các chính trị gia ca ngợi các công ty về những hành động có “trách nhiệm” hoặc lên án nếu những công ty này không làm như vậy. Tuy nhiên mục tiêu của chế độ tư bản là ký được những hợp đồng tốt cho giới tiêu thụ và đầu tư. Không ai, nhất là những người đầu tư – cho phép những viên chức điều hành các công ty tìm cân bằng giữa lợi nhuận của công ty và an sinh xã hội. Họ cũng không có khả năng chuyên môn để làm những tính toán đạo đức như thế. Thể chế dân chủ được xem như đại diện cho quần chúng để ấn định những làn ranh này. Có người lại cho rằng các công ty là những thực thể hiện hữu với những trách nhiệm xã hội. Thông điệp này làm quần chúng quên rằng chính quần chúng mới có trách nhiệm làm những luật lệ này.

Các hoạt động từ thiện của các công ty cũng tương tự như vậy. Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu mãnh liệt hiện nay, các công ty chỉ cống hiến tiền bạc cho những chính nghĩa lớn lao trong trường hợp sự cống hiến này có giá trị giao tế công cộng, do đó làm tăng lợi nhuận. Nhưng những cổ đông không bỏ tiền vào công ty cho mục tiêu từ thiện, họ đầu tư để kiếm lời. Cổ đông nào muốn làm việc từ thiện thì chắc đã gửi thẳng đến những tổ chức từ thiện họ tự chọn những số tiền họ tự quyết định rồi. Sự nguy hiểm lớn hơn là những hoạt động từ thiện được phơi bầy này của các công ty làm công chúng tưởng rằng các công ty có thiên hướng làm từ thiện và có thể dựa vào khi cần thiết.

Một giả tưởng cho rằng sự thành công về kinh tế mà các công ty được hưởng sẽ buộc họ vào những bổn phận xã hội. Điều lầm tưởng này chỉ làm cho quần chúng quên đi trách nhiệm dân chủ của mình là ấn định luật lệ và do đó có thể bảo vệ được lý tưởng tốt đẹp chung. Cách duy nhất để bản chất công dân trong chúng ta có thể vượt trội hơn bản chất tiêu thụ trong chúng ta là phải có luật lệ để giúp chúng ta coi những quyết định mua bán và đầu tư như những chọn lựa có tính cách xã hội cũng như tính cách cá nhân. Thí dụ như sự thay đổi về luật lao động làm cho nhân viên có thể tổ chức đội ngũ dễ dàng hơn và thương lượng được những điều kiện tốt đẹp hơn, nhưng cũng làm cho giá sản phẩm và giá dịch vụ tăng. Bản chất tiêu thụ trong tôi không thích như thế cho lắm, nhưng bản chất công dân trong tôi có thể nghĩ rằng đây là giá công bằng phải trả. Mức thuế thấp đánh vào sự mua bán chứng khoán làm chậm chuyển động của tư bản lại đôi chút, nhưng sẽ cho quần chúng thêm ít thời gian để thích ứng với hoàn cảnh thay đổi. Lợi nhuận của quỹ hưu bổng có thể giảm chút ít, bản chất công dân trong tôi nghĩ rằng đây là việc làm thích đáng. Gia hạn bảo hiểm thất nghiệp, kết hợp với bảo hiểm lương bổng và huấn nghiệp sẽ làm giảm hình phạt đối với công nhân bị kẹt giữa những luồng gió của hiện tượng toàn cầu hoá ập xuống.

Chúng ta nên nói rõ một lần nữa rằng mục đích của thể chế dân chủ là đạt được những kết quả mà chúng ta với tư cách cá nhân không thực hiện được. Nhưng thể chế dân chủ không thể hoàn tất vai trò của mình khi các công ty dùng chính trị để thăng tiến hay duy trì vị thế cạnh tranh, hoặc khi các công ty ra vẻ lãnh trách nhiệm xã hội nhưng lại không có khả năng và trách nhiệm thật sự để hoàn thành. Điều này làm cho xã hội không thể đối phó với sự trao đổi giữa tăng trưởng kinh tế và những vấn đề xã hội như tình trạng việc làm bất ổn, cách biệt giầu nghèo gia tăng và môi trường thay đổi. Kết quả là quyền lợi của giới tiêu thụ và đầu tư hầu như luôn luôn lấn áp những quan ngại chung.

Phần lớn chúng ta là những người tiêu thụ toàn cầu và ít nhất là những nhà đầu tư toàn cầu một cách gián tiếp. Trong những vai trò này, chúng ta phải giành lấy những thoả hiệp tốt nhất. Chính vì thế mà chúng ta tham dự vào nền kinh tế thị trường toàn cầu. Nhưng những phúc lộc riêng tư thường có những phí tổn xã hội. Sống trong những xã hội dân chủ, cần phải nhớ rằng chúng ta cũng là công dân. Chúng ta có quyền lực để giảm thiểu những phí tổn xã hội này, làm cho cái giá phải trả cho những sản phẩm và dịch vụ mà chúng ta mua càng thấp càng tốt. Chúng ta chỉ có thể hoàn thành được kỳ công này nếu chúng ta thực hiện vai trò công dân một cách nghiêm chỉnh. Bước đầu tiên, thường là khó khăn nhất, là phải nghĩ đúng.

(Robert B. Reich, cựu Bộ trưởng Lao động, là một giáo sư về chính sách quốc gia căn bản tại Đại học California, Berkeley. Bài nhận định này rút từ cuốn sách của ông, nhan đề Supercapitalism: The Transformation of Business, Democracy, and Everyday Life, New York: Alfred A. Knopf, 2007.)

Bản tiếng Việt © 2007 talawas

 
© talawas 2026