Tôi rất hoan nghinh tinh thần vô tư của diễn đàn Talawas để cho mọi người có thể tranh luận thoải mái. Tôi vẫn theo rõi những cuộc bút chiến qua lại hay đóng góp của nhiều người trên mọi mục, như Ngôn ngữ và Dịch thuật, Tranh luận văn học v.v.. Chẳng hạn như Hoặc Ngữ nêu ra việc Nguyễn Quốc Trụ dịch sai. Cho nên tôi cũng đóng góp ý kiến với một người viết nhiều và năng nổ như Nguyễn Quốc Trụ, đó là Thụy Khuê. Chị đang ở lãnh vực phê bình văn học, nhẩy sang phê bình triết học.
Phê bình văn học có thể theo cảm tính, chứ nếu phê bình triết học mà theo cảm tính thì chỉ có võ tự do. Sau đây là một vài điểm sai lầm to lớn trong những bài viết của chị:
1.
Trong bài viết Albert Camus, giữa ánh dương và khốn cùng trên tạp chí Văn số 51 tháng ba, 2001, Thụy Khuê dịch “je révolte donc nous sommes” là: “tôi nổi loạn, vậy chúng ta cùng nổi loạn“. Chỉ cần một kiến thức căn bản về triết học nhập môn, người ta cũng hiểu là Camus đã muốn đưa ra một định thức triết lý về nổi loạn của ông, như ông giải thích là giữ một vai trò như “cogito” lấy từ định thức nổi tiếng của Descartes “cogito ergo sum” (tôi nghĩ vậy tôi hiện hữu). Câu nói trên chỉ có thể dịch là “tôi nổi loạn, vậy chúng ta hiện hữu”. Có thể đối chiếu bản dịch sang tiếng Anh của Anthony Bower: “I rebel – therefore we exist”. Ngay về mặt ngữ pháp, câu nói trên cũng không thể nào dịch bừa bãi là “chúng ta cùng nổi loạn” được.
Tôi không ngạc nhiên là có nhiều người sống ở Mỹ không hiểu tiếng Mỹ. Ở Pháp cũng có thể không hiểu tiếng Pháp. Trong một bài viết khác của Thụy Khuê đăng trên tạp chí Hợp Lưu, số 68, tháng 12, 2002, chị chua tiếng Pháp “neutre” để dịch thành từ “lạnh lùng” trong cụm từ “lối văn lạnh lùng (neutre) của Camus”. Tôi không còn nghi ngờ khả năng đọc và hiểu tiếng Pháp của Thụy Khuê nữa!
2.
Nhẩy ngang vào lãnh vực triết học, Thụy Khuê mới đưa ra một bài viết Triết học hiện sinh trên Hợp Lưu số 67, tháng 10 & 11, 2002 để “giới thiệu cuốn Triết học Hiện sinh của Trần Thái Ðỉnh“. Việc thích thú giới thiệu một cuốn sách xuất bản đã trên ba mươi mấy năm là quyền của tác giả, nhưng những diễn giải rộng ra là [các giáo sư thời ấy]…”đã bình dân hóa triết học hơn các thời kỳ khác và đó có thể cũng là một trong những lý do khiến miền Nam, sau 54, đã có những thành tựu đáng kể trong việc đổi mới văn học” không hẳn chỉ chủ quan, mà nói mò chẳng khác gì khi Thụy Khuê viết về nhà văn Mai Thảo “có đọc Sartre, Camus nhưng chỉ rút ra phần tư tưởng triết lý mà không dùng phương pháp luận của Sartre, cũng không dùng hiện tượng luận của Husserl…”, tôi nghĩ nhà văn Mai Thảo có sống dậy đọc những điều hậu sinh võ đoán về mình như thế cũng phải cười đến sặc rượu!
Cuốn Triết học hiện sinh của linh mục Trần thái Ðỉnh chỉ là một loại sách giáo khoa soạn cho sinh viên, như những loại sách giáo khoa triết của Foulquié ở bậc trung học Pháp, cho nên ông có dịch tổng hợp lại các sách viết về hiện sinh của những tác giả Pháp như Jean Wahl, E. Mounier v.v… cho dễ hiểu, mà không có một quan điểm sáng tạo, nếu không muốn nói chỉ có tính chiết trung, cũng là chuyện bình thường đối với loại sách phổ thông. Sở dĩ sách bán chạy, vì vào thời điểm bấy giờ ,67, 68, học sinh đậu Tú tài ồ ạt ghi danh học ở những trường Luật, Văn khoa đông đảo (ai cũng biết lý do chính là để hoãn dịch!), tài liệu giáo khoa Ðại học thường được in ra sách để bán cho sinh viên với lượng tiêu thụ cao. Không phải “triết học đã đi vào đời sống thường ngày” đâu. Ngày nay nếu có người còn hoang tưởng là những bài viết của mình có ảnh hưởng đưa thanh niên vào bưng, chỉ là tự lừa dối mình và lừa dối người không biết chuyện.
Tạp chí Ðại học xuất bản ở Huế vào những năm linh mục Cao văn Luận làm Viện trưởng nếu có công, là đã dùng hình thức sao chép, dịch thuật tài liệu báo chí phần lớn là tiếng Pháp. Cho nên có khi nguyên một bài viết dịch ra từ một sách loại Que sais-je?, như tôi còn nhớ một bài viết trên tạp chí này dịch nguyên chương đầu cuốn Le personalisme của E. Mounier, vậy mà ký tên một tác giả Việt Nam, cũng chẳng sao!
3.
Với mấy bài viết trên, chứng tỏ kiến thức triết học của chị như thế, nhưng Thụy Khuê lại lớn tiếng mượn cớ một bài viết (?) gần như lập lại những điều trong cuốn sách, để chêm vào mấy lời “phê bình”, thực ra là “chửi xéo” những người cùng thế hệ chị bây giờ:
“Ở ngoài nước, vấn đề cũng không khác: Các tác giả ngoài nước có cảm tưởng rằng sự tự do và đọc được ngoại ngữ sẽ đương nhiên đưa tới việc đổi mới và cập nhật với văn chương thế giới… Trong sách báo hải ngoại, đôi khi có những tác giả muốn bước thẳng vào những cái mới nhất của thời đại này, họ đưa ra những isme thật tân kỳ, ầm ỹ, nhưng thường họ lại không giải thích được cặn kẽ nội dung những điều muốn nói, rút cục lại cũng rơi vào cái trống rỗng của những người muốn bước vọt quá cao mà không dựa trên một nền tảng suy luận vững chắc về ‘cái biết’ của mình.”
Thụy Khuê muốn ám chỉ “những tác giả” nào? Xem ra chỉ có tạp chí Việt xuất bản ở Úc với những chủ đề như “Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học Việt Nam” (số 7, tháng 1, 2001); “Lý thuyết, Phê bình & Sáng tác văn học” (số 8, tháng 7, 2001) với những tác giả như Nguyễn Minh Quân, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Hoàng Văn là đối tượng Thụy Khuê nhắm đến. Họ là những người hay nói đến Derrida, Lyotard mà bản thân Thụy Khuê chẳng hiểu gì khi hạ bút viết những câu như “tóm lại, Déconstruction dẫn đến chỗ Hồ nghi là một niềm tin”, “Post-moderne (Hậu hiện đại) của Lyotard có những nét giống Déconstruction”…
Những khái niệm nhập môn sơ đẳng về triết học, Thụy Khuê không có, nên chị viết những câu không có mảy may giá trị tri thức!
Tưởng Thụy Khuê phải “xét lại mình” trước khi muốn “bước vọt”. Cũng nên lưu ý Thụy Khuê ở trên đất Pháp mà ngay tên họ những tác giả Pháp chị dẫn ra cũng cẩu thả, như Ponty thay vì Merleau-Ponty, Lévy Strauss thay vì Lévi-Strauss, Clézio thay vì Le-Clézio, không biết có phải chị chép lại ở đâu đó chứ không phải đọc chính nguyên bản của họ…
© 2003 talawas