Gần đây tôi có đọc một bài viết khá thú vị của ông Nguyễn Hưng Quốc: Cuộc đảo chánh trong một chữ [1] . Trong bài viết, tác giả chỉ xoay quanh hai chữ “cái”, “con” của tiếng Việt và đã khơi ra được khá nhiều điều bí ẩn nằm trong đó.
Xét về khía cạnh từ vựng (lexical) trong ngôn ngữ học, theo tôi, tiếng Việt có ít nhất bốn chủ đề phức tạp: cách tạo từ, tiếng xưng hô, tiếng đệm [2] và danh từ hình thức.
Bài viết của ông Nguyễn Hưng Quốc có liên quan đến chủ đề danh từ hình thức.
Thực ra, tập hợp danh từ hình thức của tiếng Việt không chỉ có hai tiếng “cái”, “con” mà còn nhiều lắm. Trong bài viết ngắn này, tôi xin góp thêm vài suy nghĩ của mình với ông Nguyễn Hưng Quốc và những người nghiên cứu Việt ngữ, bên cạnh đó, tôi cũng muốn chỉ ra một điểm yếu trong kỹ thuật soạn từ điển Việt Nam từ trước đến nay. Xin lưu ý, đây chỉ là một bài viết mà tôi cố gắng trình bày thật giản dị, chỉ bàn sơ quát, không nặng về lý thuyết để nhiều người đọc được chứ không phải là một bài chuyên luận khoa học đúng nghĩa.
“Cái”, “con” là mạo từ?
Hẳn ai cũng biết mạo từ (article) là gì, đại để có hai loại: mạo từ bất định (non-specified article), mạo từ xác định (specified article). Tiếng Anh có mạo từ bất định “a”, tiếng Ðức có “ein”, “eine”, tiếng Pháp có “un”, “une”. Tiếng Anh có mạo từ xác định “the”, tiếng Ðức có “der”, “die”, “das”, tiếng Pháp có “le”, “la”, …
Học ngôn ngữ học truyền thống ở nhà trường, chúng ta thường nghĩ “cái”, “con” là những từ đồng nghĩa với “the”, “der”, “die”, “das”, “le”, “la”: cái bàn (Việt), the table (Anh), con dao (Việt), das Messer (Ðức). Thực ra không hoàn toàn đúng vậy. Chức năng của “cái”, “con” trong tiếng Việt phức tạp hơn nhiều.
Ông Nguyễn Hưng Quốc nghĩ đúng: “cái”, “con” là những danh từ chỉ loại (mà tôi tạm gọi là danh từ hình thức (formal noun) [3] ). Nét từ vựng danh từ này rất quan trọng đối với mối quan hệ lệ thuộc từ và tính tôn ti trong hệ thống cú pháp tiếng Việt.
Tính đếm được của danh từ
Tính chất của danh từ tiếng Việt không hoàn toàn giống tính chất của danh từ những ngôn ngữ Âu châu. Tính đếm được là một trường hợp điển hình.
Ðối với người Tây phương, những gì cụ thể hầu như đều đếm được: 1 knife, 2 cats, (Anh), 1 Messer, 2 Katzen (Ðức). Nhưng đối với người Việt chưa chắc. Không ai nói: “tôi có một dao”, “nhà tôi có nuôi hai mèo”. Tất nhiên cũng có trường hợp cụm từ “một dao” nói được, thế nhưng nó không đồng nghĩa với tinh thần “a knife” của tiếng Anh hoặc “ein Messer” của tiếng Ðức. Những câu người Anh, người Ðức nói như “I give you a knife”, “Ich gebe Dir ein Messer” nghe không sao, nhưng nghe một người Việt nói “Tao cho mày một dao” thì hơi phiền.
Thực ra cái ý mà người Anh, người Ðức muốn nói là “một con dao”, hoàn toàn vô hại, chứ không phải “một (nhát) dao” như người Việt hiểu tắt. Danh từ “knife” trong tiếng Anh, “Messer” trong tiếng Ðức đã nói lên cá thể con dao và tự động đếm được, trong khi đó ở tiếng Việt thì chưa. Danh từ “dao” có vẻ cụ thể tưởng chừng đếm được, vậy mà không. “Dao” là một tập hợp toàn thể, muốn đếm được, ta cần phải giới hạn nó bằng cách hình thức hóa, mô tả thêm “cái gì dao”. Ví dụ, phải thêm “cái”, “con” phía trước “dao” để thành “cái dao”, “con dao” thì mới đủ diễn tả cái cá thể của nó và mới đếm được. Từ đó mới nói được “một con dao”, “một cái dao” và mới đồng nghĩa với tinh thần “a knife” của tiếng Anh,“ein Messer” của tiếng Ðức.
Những danh từ làm được công việc hình thức hóa ấy, ta tạm gọi là danh từ hình thức. Ngoài “cái”, “con”, còn có rất nhiều danh từ hình thức khác.
Danh từ hình thức trong tiếng Việt
Trong kho tàng văn chương truyền khẩu Việt có mấy câu ca dao sau đây:
Bà già đi chợ cầu Ðông,
Hỏi thăm thày bói có chồng lợi chăng.
Thày bói xem quẻ nói rằng,
Lợi thì có lợi nhưng răng không còn
Ðể diễn tả cụm từ “bà già”, người Ðức thường nói “die Alte”. “Die” là mạo từ xác định, giống cái. “Alte” (già) là tính từ. “Die Alte” được hiểu gần như “bà già” trong tiếng Việt, hoặc đúng hơn, là “người già”.
Thế còn “thày bói” thì sao?
Người Tây phương khó có thể diễn tả được chữ “thày” (thày lang, thày thuốc, thày võ, thày đồ, thày chùa, thày mo, thày dùi, thày số, …) bằng một mạo từ trong ngôn ngữ họ. Họ cũng có từ “thày”, đại để như “teacher” (Anh), “Lehrer” (Ðức) để tạo ra những cụm từ như “thày dạy tiếng Anh” (englisch teacher, Englischlehrer), “thày dạy nhạc” (music teacher, Musiklehrer), … Thế nhưng ý nghĩa “thày” của họ ám chỉ một người dạy học chứ không hoàn toàn tương đương với ý nghĩa “thày” trong tiếng Việt. Làm sao họ có thể dùng “teacher”, “Lehrer” để diễn tả “thày mo”, “thày dùi”, “thày bói” được ?
“Thày” là một trường hợp không khó lắm. Có nhiều trường hợp nan giải hơn mà kể cả tiếng Ðức, một ngôn ngữ nổi tiếng về nghệ thuật tạo từ (Wortbildung), cũng bó tay. Lý do rất đơn giản là trong ngôn ngữ ấy không có loại từ ấy.
Có thể nói, danh từ hình thức là một loại danh từ đặc biệt của tiếng Việt. Loại danh từ này có thể:
kết hợp với một từ/thành tố đi sau (danh từ, động từ, tính từ) để thành lập một thành tố mang tính danh từ có khả năng miêu tả một thực thể hầu như đếm được.
đại diện cho “một thành tố/đối tượng thuộc môi trường ngữ cảnh phía trước” trong các ngữ đoạn/mệnh đề/câu theo sau.
Tiếng Việt có ít nhất những danh từ hình thức sau đây:
Cái, Áng, Anh, Ánh, Bà, Bác, Bài, Bãi, Bản, Bao, Bận, Bầu, Bầy, Bề, Bó, Bọn, Bộ, Bờ, Buồng, Bụm, Bức, Cách, Cánh, Cảnh, Căn, Cặp, Câu, Cậu, Cây, Chàng, Chị, Chiếc, Chiều, Chồng, Chú, Chùm, Chuỗi, Chương, Con, Cô, Cỗ, Cú, Cục, Cụm, Cuốc, Cuộc, Cuốn, Dãy, Dịp, Dòng, Ðám, Ðàn, Ðạo, Ðấng, Ðóa, Ðoàn, Ðoạn, Ðôi, Ðồ [4] , Ðống, Ðợt, Ðứa, Ðức, Em, Gã, Gian, Giọt, Góc, Gói, Hạt, Hòn, Hột, Hớp, Kẻ, Khẩu, Khóm, Khu, Khúc, Kiện, Kỳ, Làn, Lão, Loại, Loài, Loạt, Lô, Lời, Lũ, Luồng, Mảnh, Mảng, Mẩu, Mé, Miếng, Món, Mớ, Mụ, Mùa, Mụn, Nải, Nàng, Nắm, Nén, Nền, Ngọn, Ngôi, Ngụm, Người, Nhà, Nhóm, Niềm, Nỗi, Nụ, Ông, Phần, Pho, Quả, Quyển, Sự, Sợi, Tay, Tảng, Tấm, Tấn, Tập, Tên, Thang, Thanh, Thằng, Thày2), Thể, Thứ, Thửa, Tiếng, Tính, Toán, Tốp, Tờ, Trái, Tụi, Viên, Vị, Việc, Vở, Vốc, Vũng, Xấp, Xó, …
Danh từ hình thức có khả năng:
diễn tả cá thể người: ông giám đốc, anh kỹ sư, …
diễn tả cá thể đồ vật: cái nhà, cánh cửa, …
diễn tả cá thể thực vật: cây cam, trái quít, …
diễn tả cá thể thú vật: con chó, con mèo, …
diễn tả phái tính nam nữ: cô dâu, chú rể, …
diễn tả sự già trẻ: bà lão, cháu bé, …
diễn tả tính cao quý, sang hèn, kính trọng, khinh khi: đấng anh hùng, nhà tư bản, ngài đại sứ, kẻ ăn mày, …
diễn tả nhân vật linh thiêng: đức Chúa Trời, đức Phật, …
diễn tả sự kiện: cuộc biểu tình, màn trình diễn, …
diễn tả tinh thần: niềm hy vọng, nỗi nhớ thương, …
diễn tả số lượïng: bầy trẻ, đàn gà, đám tang, …
diễn tả khối lượng: giọt mưa, trái núi, đống rác, …
diễn tả tính từng phần: thửa vườn, mảnh ruộng, …
diễn tả thứ loại: loại nghệ thuật siêu đẳng, thứ văn chương rẻ tiền, …
…
Về tính kết hợp
Không kể “cái”, ta hãy xem một vài ví dụ kết hợp của danh từ hình thức với danh từ, động từ, tính từ. Mọi kết quả đều là những thành tố danh từ. (Dấu ? có nghĩa là không biết).
Kết hợp với danh từ:
Anh lính, Bà hoàng hậu, Bài thơ, Bản nhạc, Bầu vú, Bầy con nít, Bọn học trò, Bộ luật, Bức tranh, Cánh cửa, Cảnh đời, Cặp vợ chồng, Câu chuyện, Cây cau, Chàng nghệ sĩ, Chị sinh viên, Chiếc lá, Chú học trò, Con bò, Cô y tá, Cục đá, Cuộc đời, Cuốn sách, Ðám bèo, Ðàn trẻ nhỏ, Ðạo luật, Ðấng trượng phu, Ðống rác, Ðôi đũa, Ðứa bạn, Ðức Phật, Em gái, Gã thủy thủ, Giọt nuớc, Hạt cát, Hòn đảo, Hột đậu, Kẻ ?, Khẩu súng, Khúc sông, Lão phường truởng, Loại xe, Lời nhạc, Lũ quỷ, Mảnh vườn, Mảng đời, Mẩu truyện, Miếng cơm, Món cá chiên, Mụ tú bà, Nàng công chúa, Nền văn hóa, Ngôi chùa, Ngọn núi, Người lính, Nhà văn, Nhóm bạn, Niềm ?, Nỗi lòng, Ông vua, Pho tượng, Quả địa cầu, Quyển truyện, Sự đời, Tay anh chị, Tấm hình, Tấn tuồng, Tên tài xế, Thanh gươm, Thằng em, Thày võ, Thứ trái cây, Thửa vườn, Tiếng chuông, Tờ giấy, Trái chuối, Viên Thống đốc, Vị tổng thống, Việc nhà, Vở kịch, Vốc nước, Vũng nước, Xấp giấy, Xó nhà, …
Kết hợp với động từ:
Anh khuân vác, Bà bán chiếu, Bài ca, Bản phụ họa, Bầu ?, Bầy ăn cướp, Bọn cá độ, Bộ lao động, Bức vẽ, Cánh quạt, Cảnh sinh hoạt, Cặp ?, Câu nói, Cây ?, Chàng hát dạo, Chị giúp việc, Chiếc ?, Chú phụ rể, Con ở đợ, Cô phục vụ, Cục nợ, Cuộc sống, Cuốn ?, Ðám biểu tình, Ðàn ăn cướp, Ðạo làm người, Ðấng cứu thế, Ðống nợ, Ðôi ?, Ðứa bội tình, Ðức ?, Em đứng đường, Gã mua vui, Giọt ?, Hạt ?, Hòn ?, Hột ?, Kẻ sát nhân, Khẩu ?, Khúc hát, Lão ăn mày, Loại tuyên truyền, Lời hứa, Lũ ăn bám, Mảng ?, Mảnh ?, Mẩu ?, Miếng ăn, Món nhậu, Mụ mai mối, Nàng tiếp tân, Nền ?, Ngôi ?, Ngọn ?, Người gây chiến, Nhà lãnh đạo, Nhóm truyền giáo, Niềm thương, Nỗi nhớ, Ông đạp xích lô, Pho ?, Quả ?, Quyển ?, Sự bố thí, Tay chơi, Tấm ?, Tấn ?, Tên cướp, Thanh ?, Thằng buôn lậu, Thày bói, Thứ ăn chơi, Thửa ?, Tiếng hát, Tờ báo cáo, Trái cấm, Viên thông dịch, Vị chỉ huy, Việc học, Vở ?, Vốc ?, Vũng ?, Xấp ?, Xó ?, …
Kết hợp với tính từ:
Anh cả, Bà điên, Bài ?, Bản ?, Bầu ?, Bầy trẻ, Bọn nhỏ, Bộ ?, Bức ?, Cánh ?, Cảnh éo le, Cặp ?, Câu ?, Cây ?, Chàng hào hiệp, Chị lớn, Chiếc ?, Chú tiểu, Con thơ, Cô bé, Cục ?, Cuộc vui, Cuốn ?, Ðám du côn, Ðàn trẻ, Ðạo ?, Ðấng linh thiêng, Ðôi trẻ, Ðứa nhỏ, Ðức ?, Em bé, Gã khùng, Giọt sầu, Hạt ?, Hòn ?, Hột ?, Kẻ khốn cùng, Khẩu ?, Khúc thần tiên, Lão mù, Loại tốt, Lời ai oán, Lũ lai căng, Mảng tình, Mảnh tình, Mẩu tình ?, Miếng ngon, Món rẻ, Mụ ác độc, Nàng quê, Nền ?, Ngôi ?, Ngọn ?, Người nông cạn, Nhà thông thái, Nhóm trí thức, Niềm vui, Nỗi buồn, Ông già, Pho ?, Quả ?, Quyển ?, Sự lạnh lùng, Tay cứng đầu, Tấm ?, Tấn ?, Tên lưu manh, Thanh ?, Thằng gù, Thày ?, Thứ thật, Thửa ?, Tiếng xấu, Tờ ?, Trái đắng, Viên ?, Vị thần linh, Việc khó, Vở ?, Vốc ?, Vũng ?, Xấp ?, Xó ?, …
Những ví dụ bên trên đã minh họa cách thành lập những cụm danh từ tiếng Việt. Mỗi cụm từ danh từ như thế là một ngữ đoạn danh từ (noun phrase). Cấu trúc ngữ đoạn danh từ của tiếng Việt có dạng: danh từ + phụ/bổ ngữ, tức danh từ được phụ/bổ nghĩa bên tay phải (right attributed). Phụ/bổ ngữ có thể mang tính danh từ, động từ, tính từ. Ví dụ:
Tấm hình = Tấm (danh từ) + hình (bổ ngữ = danh từ)
Người đẹp = Người (danh từ) + đẹp (bổ ngữ = tính từ)
Cấu trúc ngữ đoạn danh từ của tiếng Việt ở trên ngược với cấu trúc ngữ đoạn danh từ của tiếng Hoa, tiếng Anh, tiếng Ðức. Trong tiếng Hoa, người ta không nói “người đẹp” theo kiểu người Việt mà là nói “mỹ nhân”: mỹ (bổ ngữ) + nhân (danh từ), tức danh từ được phụ/bổ nghĩa bên tay trái (left attibuted). Cách tạo từ xuôi theo kiểu Việt có liên quan đến nguyên tắc Ðề-Diễn (Theme-Rheme) (khi có dịp, tôi sẽ trình bày ở một bài khác hoặc bạn đọc có thể xem tài liệu tham khảo [5] ). Nguyên tắc này là một trong những hạt nhân quyết định cái trật tự (mối quan hệ lệ thuộc từ và tính tôn ti) cú pháp tiếng Việt. Cấu trúc cơ sở này mà bị làm hỏng, nó sẽ làm hỏng lây những cấu trúc khác, và như một phản ứng dây chuyền, cả tập hợp cấu trúc ngôn ngữ có thể trở nên vô hệ thống.
Xét về khả năng kết hợp, có lẽ trong hầu hết mọi trường hợp, “cái” đều có thể đứng trước những cụm từ được phái sinh từ danh từ hình thức. Nếu tạo ra một cụm từ nói được, “cái” có hai tác dụng: nhấn mạnh, xác định cụm từ phía sau hoặc/và có thể tiêu cực hóa tinh thần cực tính (polarity) của cụm từ ấy. Người ta có thể nói “cái con dao”, “cái bản nhạc” mà không làm biến đổi tinh thần cực tính. Nhưng khi nói “nhà văn” thành “cái nhà văn”, tinh thần cực tính từ tích cực (positive) sẽ đổi thành tiêu cực (negative) ngay lập tức, nói nôm na là từ thanh biến thành thô; càng thanh, càng thô, v.d. “cái đấng linh thiên”. Cả những cụm từ thô cũng bị “cái” làm cho thô thêm, v.d. “cái mụ già” nghe thô hơn “mụ già”. Nói chung, “cái” có khả năng tầm thường hóa một sự vật.
Bởi tự bản thân “cái” cũng là một danh từ hình thức, nên nó cũng có khả năng kết hợp với danh từ, động từ, tính từ theo sau để làm thành một ngữ đoạn danh từ: “cái nhà” (cái + danh từ), “cái sinh hoạt” (cái + động từ), “cái hay”/ “cái dở” (cái + tính từ). Trên thực tế, khả năng kết hợp của “cái” cao hơn so với những danh từ hình thức khác. Tuy vậy điều đó không có nghĩa là bao giờ nó cũng đẻ ra được những cụm từ nói được. “Cái lính” (cái + danh từ), “cái cướp” (cái + động từ), “cái trắng” (cái + tính từ) là những cụm từ không nói được.
Về tính đại diện
Ðã xem qua những ví dụ tạo từ, tính đếm được của danh từ hình thức, nay ta thử xem tiếp một ví dụ về tính đại diện của nó về mặt ngữ pháp:
Cô ấy vừa ngâm hai bài thơ hay quá. Một bài của Quang Dũng, một bài của Hữu Loan.
Ở đoạn sau (“Một bài của Quang Dũng, một bài của Hữu Loan”), ta thấy, danh từ hình thức “bài” đóng vai đại diện cho đối tượng/thành tố “bài thơ” ở đoạn trước. Chỉ nhờ ngữ cảnh “bài thơ” ở đoạn đầu, người ta mới có thể lược bỏ (tỉnh lược) chữ “thơ” bằng cách nói tắt là một “bài”. Còn không, không thể nói khơi khơi “bài”. Không ai hiểu “bài” đây là bài gì cả.
Có trường hợp, đối tượng được ám chỉ không được nói ra bằng lời nói cụ thể mà chỉ xuất hiện trước mặt người quan sát. Chỉ nhờ hình ảnh ấy, người quan sát mới có thể hành ngôn một cách vắn tắt. Ví dụ: Một người cha đi làm về, cho đứa con nhỏ hai cái kẹo. Bà mẹ thấy, mới đùa với nó: “Cho mẹ một cái đi”. Ta thấy, “cái” ở đây ám chỉ đối tượng “cái kẹo”. Nhờ đối tượng đã tồn tại ở môi trường ngữ cảnh có trước, bà mẹ mới được vậy, còn không, không ai hiểu “cái” đây là cái gì.
Tỉnh lược là một cách hành ngôn rất phổ biến của người Việt. Nó xuất hiện khắp nơi: trong ca dao, tục ngữ, trong thi văn, trong đời sống hằng ngày …
Những bí ẩn của danh từ hình thức
Ngôn ngữ nào cũng có những bí ẩn của nó. Chẳng hạn như tiếng Ðức có ba mạo từ số ít dùng để chỉ phái tính: “der” chỉ nam tính, “die” chỉ nữ tính, “das” chỉ trung tính. “Der Mann” có nghĩa là người đàn ông, “die Frau” có nghĩa là người đàn bà. Nhưng “người con gái”, người Ðức lại gọi là “das Mädchen” với mạo từ trung tính thay vì nữ tính.
Tiếng Việt cũng vậy, cũng có những bí ẩn của nó. Tại sao gọi là “cái búa” mà không gọi là “con búa”, nhưng “con dao” thì được ? Phải chăng dao nhỏ hơn búa, có vẻ mảnh khảnh hơn búa, nên người ta gọi vậy ? Thế thì sao lại gọi là “cái kim” mà không gọi là “con kim” ? Chắc là con dao dài hơn cái kim, nên người ta mới gọi vậy, cũng giống như “con sông”, “con đường”, … Nếu vì dài, mảnh khảnh, nên mới gọi là “con”, thì tại sao lại gọi là “con dao” mà không gọi là “con kiếm” ? Kiếm cũng dài vậy và thậm chí còn dài hơn dao nữa.
Phan Khôi [6] giải thích hai chữ “cái”, “con” như sau:
“Có người tưởng lầm rằng con, cái trong tiếng ta cũng như le, la trong tiếng Pháp, để chia ra giống đực giống cái. Không phải đâu: tiếng ta, con, cái không để phân biệt đực và cái, mà để phân biệt động và tĩnh.
Căn cứ theo nghĩa trên, con đặt trên danh tự chỉ động vật, cái đặt trên danh tự chỉ vật nhân tạo, là vật không động mà cũng không sống nữa, rồi suy rộng ra, bất kỳ vật nào có vẻ động thì cũng gọi là con; vật nào không phải nhân tạo mà tương đối tĩnh hơn vật cùng hàng với nó thì cũng gọi là cái.
Cái thuyền, cái tàu, cái dao, cái quay, cái roi cũng gọi là con thuyền, con tàu, con dao, con quay, con roi, vì cái thuyền thì đi, cái tàu thì chạy, cái dao thì cắt, cái quay thì quay, cái roi thì quất: đều có vẻ động”.
Giải thích như Phan Khôi nghe khá thú vị, thế nhưng lại không hiệu nghiệm cho trường hợp “cây kim”, “thanh kiếm”. Cái kim thì đâm, cái kiếm thì chém; đều có vẻ động, vậy sao không gọi là “con kim”, “con kiếm” ?
Ngoài “cái”, “con”, tiếng Việt còn hàng trăm danh từ hình thức khác. Ðồng ý rằng, có những trường hợp, người Việt có thể hiểu đại khái vì sao người ta gọi thế. Chẳng hạn cái gì tròn tròn, nho nhỏ thì gọi là “hòn”, như “hòn bi”, “hòn ngọc”; to thì gọi là “trái”, “quả” như “trái banh”, “quả núi”. Nhưng có trường hợp không rõ ràng. Trời sinh, phái nữ cũng có hai cái tròn tròn dễ thương giống như quả đào, nhưng người quan sát không chịu gọi một cách thanh tao là “quả …” mà gọi là “cái …”. Ngay cả làm thế nào để phân biệt giữa “mảnh” và “mảng”, giữa “viên” và “cục”, … cũng là một vấn đề. Nói “mảnh đất” thì được, nhưng “mảng đất” thì không. Nói “viên đạn” thì được, nhưng “cục đạn” thì không. Như thế nào đó, tuy có họ hàng với nhau, song mỗi danh từ hình thức đều có những nét tinh thần tinh vi riêng biệt.
Mỗi người học tiếng Anh đều biết, không ai gặp khó khăn khi dùng mạo từ xác định. Tiếng Anh chỉ có một mạo từ xác định “the”. Tiếng Pháp phức tạp hơn; người học cần phải nhớ từ nào đi với “le”, từ nào đi với “la”. Tiếng Ðức phức tạp nữa, vì có đến ba mạo từ xác định “der”, “die”, “das”. Tôi dám chắc rằng, có nhiều người Việt dẫu đã sống rất lâu ở Ðức như tôi, nói/đọc tiếng Ðức hằng ngày, nhưng chưa chắc bao giờ cũng dùng đúng ba mạo từ “der”, “die”, “das”. Cả người Ðức cũng vậy. Thế nhưng khi gặp hoàn cảnh bán tín bán nghi này, người ta còn có từ điển mà tra. Còn gặp tiếng Việt ư ? Một người Ðức có thể tìm thấy một chữ muốn tra trong từ điển tiếng Việt, nhưng chưa chắc đã biết cách dùng cho đúng, ví dụ: “con búa” hay “cái búa” hay “chiếc búa” ?, …. Ðây là kinh nghiệm tôi nhìn thấy nơi những người Ðức biết nói tiếng Việt sống quanh tôi. Nói chung, danh từ hình thức của tiếng Việt là một vấn đề lớn đối với họ.
Ðó là một điểm thiếu sót trong kỹ thuật soạn từ điển tiếng Việt mà tôi muốn nói. Cho nên tôi có lời đề nghị nên cải cách chỗ này. Mặt khác, nên nghiên cứu kỹ thêm về nguồn gốc, nguyên do, ý nghĩa, hệ tính của danh từ hình thức để cắt nghĩa cho người dùng hiểu rõ hơn. Theo chỗ tôi biết, đã có vài người nghiên cứu về vấn đề này, thế nhưng cũng chỉ có giới hạn mà thôi.
Stuttgart, 12.2003
[1] Nguyễn Hưng Quốc (2003): Cuộc đảo chánh trong một chữ. Talawas 04.12.2003.
[2]Những tiếng như ” à”, “hả”, “nhỉ”, “nhé”, ” đâu”, …
[3]Có tác giả còn gọi là phó danh từ (Nguyễn Kim Thản), tiền danh từ (Phan Khôi), loại từ (Lê Văn Lý).
[4]Ðồ: Không đếm được.
[5]Dũng Vũ (2003) Tiếng Việt và Ngôn ngữ học hiện đại – Sơ khảo về cú pháp. Stuttgart: VIET. (Có thể xem tại trang nhà Viện Việt Học:
http://www.viethoc.org/content.php?menu=2400&page_id=56 ).
[6]Phan Khôi (1997) Việt Ngữ Nghiên Cứu. Ðà Nẵng: Nxb Ðà Nẵng (tr. 93-94)