V. Shemjatenkov
I.
Thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản” thể hiện bản chất của một phương thức sản xuất nhất định và hình thái lịch sử xã hội tương ứng với nó. Theo định nghĩa, bản chất này là duy nhất, và vì vậy, là như nhau đối với mọi nước tư bản chủ nghĩa. Trong cách hiểu ấy, những khác biệt rõ rệt giữa các hệ thống kinh tế quốc gia chỉ là những biểu hiện về sự phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản vốn có cùng một bản chất. Tiến bộ xã hội bao giờ cũng được liên tưởng với sự hoàn thiện thêm nữa của chủ nghĩa tư bản ở các nước tiên tiến và sự “vươn lên” dần dần của các nước lạc hậu để theo kịp trình độ của các nước kia. Như V.I. Lenin đã khẳng định lúc sinh thời: các nước tiên tiến chỉ là tương lai của các nước lạc hậu.
Cả biến chủng tư sản lẫn biến chủng mác-xít của chính trị-kinh tế học truyền thống đều cho rằng, có thể (và cần phải) trừu tượng hoá từ những đặc điểm của các hệ thống kinh tế quốc gia, trong khi vẫn sử dụng các bộ môn khác như địa lý kinh tế và lịch sử kinh tế để khảo sát chúng.
Trong học thuyết của Marx, vốn dựa trên những sự trừu tượng hoá “cao” loại hình của thuyết về giá trị lao động và học thuyết về giá trị thặng dư, nên những đặc điểm của từng nước quả là không quan trọng. Vả lại, ý muốn vươn tới sự phân tích khoa học chặt chẽ đã được củng cố thêm bởi tính định hướng chính trị, tức là dùng luận đề về tính phổ quát của chủ nghĩa tư bản để làm cơ sở khoa học cho chủ nghĩa quốc tế vô sản và cho khẩu hiệu đoàn kết những người vô sản ở tất cả các nước.
Ngược lại, môn chính trị-kinh tế học tư sản vốn không chuộng lý thuyết suông, đã tập trung chú ý vào những sự thực rút ra từ kinh nghiệm. Nhưng những sự thực này cũng đã xác nhận điều giả định về bản chất phổ quát và đồng nhất của chủ nghĩa tư bản – cái chung đã chiếm ưu thế so với cái riêng. Điều đó được lý giải bởi một lẽ là, trong lịch sử, chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện ở Tây Âu. Hồi giữa thế kỷ XIX, khi môn chính trị-kinh tế học truyền thống mới hình thành, phạm vi nghiên cứu của nó bị giới hạn ở một số nước thuộc nền văn minh châu Âu (bao gồm Mỹ và các lãnh thổ tự trị thuộc Anh). Vì vậy, “chủ nghĩa tư bản hiện thực” là chủ nghĩa tư bản châu Âu đồng nhất về chất.
Tính phổ quát của khái niệm chủ nghĩa tư bản đã cho phép trừu tượng hoá dễ dàng từ các đặc điểm lịch sử, xã hội, văn hoá, tôn giáo, dân tộc v.v. của đời sống kinh tế. Sau A. Marshall, kinh tế-chính trị học phi mác xít đã khép kín lại trong phạm vi của logic hình thức, của các phương pháp phân tích định lượng, và đã bị biến đổi trong kinh tế học.
Sang thế kỷ XX, quan niệm về tính phổ quát của chủ nghĩa tư bản châu Âu còn được củng cố thêm nữa. Một số nhân tố có quan hệ qua lại với nhau đã giúp cho điều đó.
Ngay từ đầu thế kỷ, chủ nghĩa thực dân đã đạt đến cực điểm – các trật tự “phổ quát” của châu Âu đã được cấy ghép ở châu Á và châu Phi một cách cưỡng bức, đơn phương.
Cũng trong thời gian ấy, sự phát triển của kinh tế thế giới đã bước sang một giai đoạn mới mà nét tiêu biểu của nó là xuất khẩu tư bản, vả lại, điều đó không chỉ diễn ra ở các nước tư bản chủ nghĩa khác mà cả ở khu vực ngoại vi lạc hậu phi tư bản chủ nghĩa. Tại khu vực này, các khoản đầu tư ắt phải là tạo dựng những hòn đảo nhỏ của chủ nghĩa tư bản châu Âu (hoặc Bắc Mỹ), điều đó càng xác nhận thêm tính phổ quát của của nó.
Sau thắng lợi của cuộc cách mạng năm 1917 ở Nga, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã xuất hiện và bắt đầu phát triển mạnh mẽ, nó tự đặt mình đối lập với chủ nghĩa tư bản nói chung, cái chủ nghĩa tư bản như nó vốn có, bất kể các sắc thái và những dị biệt ở từng nước. Cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai hệ thống, đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ hai, đã thúc đẩy sự liên kết của thế giới tư bản chủ nghĩa, xoá nhoà những khác biệt về cấu trúc giữa các nước tư bản chủ nghĩa riêng rẽ.
Cuối cùng, do sự tụ hợp của các hoàn cảnh lịch sử ở nửa cuối của thế kỷ XX, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã trở thành thủ lĩnh hiển nhiên về tư tưởng, chính trị và kinh tế của thế giới tư bản chủ nghĩa. Điều đặc trưng đối với giai cấp cầm quyền ở Mỹ là, họ luôn luôn tin rằng, biến chủng của chủ nghĩa tư bản ở Mỹ là mức độ cao nhất trong sự phát triển của toàn thể loài người, và sớm hay muộn, nó sẽ toàn thắng trên hành tinh. Trong suốt cả thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, việc di thực mô hình này là mục đích chính thức của nhà nước Hoa Kỳ. Kết quả là, cấu trúc lý thuyết trừu tượng đã biến thành một giáo điều về tư tưởng.
Bước sang thế kỷ XXI, đã nảy sinh nhiều hiện tượng mới, có vẻ như nói lên sự toàn thắng của luận thuyết về tính phổ quát của chủ nghĩa tư bản.
Chủ nghĩa xã hội hiện thực, kẻ thù đáng sợ nhất của chế độ xã hội tư sản, đã tan rã hoàn toàn. Các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã tuyên cáo tiếp nhận hoàn toàn những giá trị và thiết chế của chủ nghĩa tư bản phổ quát, coi đó là mục đích chiến lược của mình.
Bên cạnh những trung tâm cũ của chủ nghĩa tư bản trong suốt vài chục năm qua, còn có những trung tâm mới ở Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đông Nam Á, các nước lớn nhất của châu Mỹ Latinh. Logic cạnh tranh buộc các trung tâm này phải tiếp nhận các hình thức tổ chức đời sống kinh tế từng được đề ra bởi các nước tư bản chủ nghĩa “châu Âu”, trước hết là Hoa Kỳ.
Sự phát triển của kinh tế thế giới đã bước vào giai đoạn toàn cầu hoá. Nhờ những thành công vang dội của khoa học và kỹ thuật, yếu tố xa cách về địa lý thực sự chẳng còn ảnh hưởng gì nữa. Theo Lester Thurow, nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ, thì hiện nay “có thể sản xuất mọi thứ tuỳ ý ở bất cứ đâu, rồi đem bán ở bất kỳ nơi nào khác”. [1]
Con người và hàng hoá di chuyển từ nơi này đến nơi khác trên trái đất một cách dễ dàng. Cuộc cách mạng trong lĩnh vực chu chuyển tiền tệ tín dụng ghi lại một dấu ấn đặc biệt – ngày nay, có thể chuyển tiền đến bất cứ nơi nào trên trái đất một cách tức thời, chỉ trong nháy mắt. Các phương tiện thông tin đại chúng, các phương thức truyền thông mới đã tạo nên một mạng lưới thông tin thống nhất bao trùm toàn thế giới. Mọi người, dù sống ở đâu cũng đều được cung cấp cùng một lúc những tin tức và chương trình giải trí như nhau. Tất cả những điều đó chứng tỏ một điều là, cả thế giới đang biến thành một xóm làng lớn.
II.
Chủ nghĩa tư bản có sức mạnh “khiến các châu lục nhích lại gần nhau”. Tuy nhiên, phạm vi ngự trị của nó càng lớn thì giá trị nhận thức của môn chính trị-kinh tế học truyền thống càng ít. Càng ngày càng hiện rõ những đặc điểm đặc trưng của các bộ phận khác nhau trong thế giới tư bản chủ nghĩa mà hiện vẫn chưa có cách lý giải trong “lý thuyết thuần tuý”.
Đương nhiên, hiện tượng khách quan này không thể không được phản ánh trong tư tưởng xã hội phương Tây. Rõ ràng là, trong lĩnh vực chính trị học, Samuel Huntington là nhân vật nổi bật nhất trong số các đại biểu của trào lưu mới. Tác phẩm xuất sắc của ông “Sự đụng độ giữa các nền văn minh” rất được giới khoa học ở Nga chú ý. Đó là lời nhắc nhở nghiêm túc đối với những câu chuyện lạc quan về “những điều kỳ diệu” của quá trình toàn cầu hoá và sự xuất hiện “ngôi làng thế giới”.
Trong xã hội học, trước hết, những chuyển biến khách quan trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo một xung động cho hai trào lưu vốn có từ lâu – phê phán chủ nghĩa thực chứng và giải thích các quá trình kinh tế theo thiết chế. Đặc biệt, các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa tân thiết chế đã cố gắng đưa những công cụ phân tích mới vào hệ vấn đề kinh tế học, như các khái niệm “mạng lưới” (networks) và “phương thức chi phối” (governance), trong đó, điểm tựa được đặt trên sự tin cẩn, sự hợp tác và những đặc điểm về động cơ cá nhân của những người tham gia quá trình kinh tế.
Tuy nhiên, với toàn bộ ý nghĩa khoa học của mình, các khái niệm chính trị học và xã hội học mới mẻ nhất vẫn không thể gây tác động trực tiếp đến khoa học kinh tế do sự khác biệt của các đối tượng nghiên cứu. Như đã từng xảy ra nhiều lần trong quá khứ, các khái niệm này vẫn chỉ là “những chú thích ở cuối trang” đối với chính trị-kinh tế học truyền thống, nếu không có một tập thể các nhà khoa học đề xướng ra lý thuyết về “những mô hình thay thế nhau của chủ nghĩa tư bản” hoặc về “các thứ chủ nghĩa tư bản phân khai”.
Trào lưu mới không phải là một trào lưu cách mạng. Các đại biểu của nó không đặt ra cho mình nhiệm vụ bác bỏ hoặc xem xét lại môn chính trị-kinh tế học truyền thống. Họ chỉ muốn đặt nó vào bối cảnh lịch sử xã hội thích hợp hơn, trái lại cái cần thiết cho các thước đo văn hoá và xã hội của đời sống kinh tế. Song, những sự chia rẽ giữa lý thuyết mới và những định đề của chính trị-kinh tế học truyền thống là khá lớn. Không phải ngẫu nhiên mà một trong những bộ chuyên khảo tập thể muốn giữ vai trò tuyên ngôn của lý thuyết mới lấy nhan đề “Nền văn hoá có ý nghĩa” [2] , tương tự như quyển sách nổi tiếng “Tiền tệ có ý nghĩa” của M. Friedman từng mở đầu cho “cuộc cách mạng của chủ nghĩa trọng tiền”.
Như đã thấy, kinh tế học hoàn toàn tách rời khỏi lịch sử và xã hội học. Đối tượng của nó là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trừu tượng. Nó được xem xét như một cái gì có sẵn, như một thứ tồn tại độc lập. Ngược lại, chính trị-kinh tế học mác xít lại rất chú ý đến nguồn gốc của chủ nghĩa tư bản và mối tương quan của kinh tế học với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Nhưng việc phân tích các vấn đề này được tiến hành trên cơ sở của quyết định luận kinh tế học chặt chẽ, hết sức coi trọng sự phát triển của các lực lượng sản xuất và của các quan hệ sản xuất. Vì vậy, yếu tố mấu chốt trong sự phát triển của xã hội vẫn là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trừu tượng.
Khái niệm về các hệ thống thay thế nhau của chủ nghĩa tư bản xuất phát từ chỗ, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa “thuần tuý” mà các lý thuyết truyền thống vẽ ra chẳng phải là cái gì khác, mà chỉ là sự phản ánh nền kinh tế châu Âu một cách lý tưởng. Nhưng hiện nay, chủ nghĩa tư bản trừu tượng lại thể hiện ở những dạng cụ thể khác hẳn về chất, mà những điều đặc trưng của chúng không chỉ là những quy luật chung mà còn có có một số đặc điểm cốt yếu nữa. Vì vậy, đối tượng của lý thuyết mới không phải là “nền kinh tế” phổ quát mà là những “hệ thống kinh tế” phức tạp và cụ thể hơn. Khái niệm này là trường hợp riêng của phương pháp luận “các loại hình lý tưởng” mà trước đây Max Weber đã khởi xướng. Dựa trên đó, lý thuyết về các hệ thống thay thế nhau của chủ nghĩa tư bản vốn gần gũi với chủ nghĩa thiết chế kinh tế, nhưng có những đặc điểm khác biệt cả về đối tượng cũng như về phương pháp nghiên cứu.
Chính trị-kinh tế học truyền thống bị hạn chế bởi việc xem xét các quan hệ sản xuất, nghĩa là xem xét các mối quan hệ hình thành một cách khách quan giữa mọi người trong quá trình sản xuất, trao đổi và phân phối phúc lợi. Lý thuyết về các hệ thống thay thế nhau của chủ nghĩa tư bản cho rằng, cần phải tính đến các yếu tố phi kinh tế, không liên quan trực tiếp với các quan hệ sản xuất nhưng có tác động quan trọng đến tính chất của hệ thống kinh tế. Đó là sự kiểm soát, chính quyền, mối quan hệ giữa các cá nhân, sự tin cẩn. Đặc biệt, nếu không tính đến các yếu tố này thì không thể hiểu được chủ nghĩa tư bản “hoạt động” như thế nào trong các khu vực khác nhau trên thế giới.
Vậy, “hệ thống kinh tế” là gì? Khái niệm này không nằm trong số những cấu trúc logic hình thức chặt chẽ. Xét về bản chất, nó là một khái niệm rất linh hoạt. Tương tự như các kiểu mẫu lý tưởng của Weber, nó dễ dàng thích ứng với các đối tượng và các nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau. Vì vậy, các mô hình lý thuyết của các hệ thống kinh tế khác nhau có thể có những đặc trưng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về bản chất.
Tính không chặt chẽ của các tiêu chí không phải là chỗ yếu mà là chỗ mạnh của phương pháp nghiên cứu này. Một mặt, nó cho phép tính đến mọi đặc điểm đa dạng của các bộ phận riêng rẽ trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa; mặt khác, nó bao quát hoàn toàn một chỉnh thể. Các hệ thống kinh tế khác nhau gộp lại sẽ là các bộ phận của một “nhà thiết kế cơ khí” khổng lồ để cùng tạo nên nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới.
Bất kỳ một bộ phận “củng cố” bền vững cho cấu trúc chung của nền kinh tế thế giới – cả khu công nghiệp ở Bắc Ý, nền kinh tế của Nhật Bản hoặc của Mỹ, lẫn chủ nghĩa tư bản “châu Âu” hay hệ thống các quan hệ kinh tế bên trong một nhóm Hoa kiều ở các nước Đông Nam Á đều có thể đóng vai trò là một “hệ thống kinh tế”. Loại hình các hệ thống kinh tế mà người khởi xướng trào lưu mới là Richard Whitley đã nêu cũng đủ khẳng định về điều đó. Ông đã phân các hệ thống kinh tế ra sáu kiểu cơ bản tuỳ theo độ bền vững và tính chất của các mối quan hệ giữa những người điều khiển kinh tế:
- Các hệ thống phân tán (các cố kết hình thành một cách tự nhiên của các hãng có tổ chức lỏng lẻo và không liên quan với nhau);
- Các khu công nghiệp phối hợp (tập hợp các hãng nhỏ, hoàn toàn độc lập, quy định các mối liên quan với nhau bằng cách tạo nên các liên minh khác nhau);
- Các hệ thống biệt lập (nổi bật ở sự đối kháng của các lực lượng lớn có tổ chức, nhưng không có xu hướng liên hệ với nhau);
- Các hệ thống có tổ chức của nhà nước (các hệ thống thị trường đặc trưng bởi mức độ can thiệp cao của nhà nước);
- Các hệ thống dựa trên sự hợp tác (các hệ thống kinh tế đặc trưng bởi trình độ tập trung cao và sự phát triển rộng rãi các dạng liên minh và hợp tác khác nhau giữa các hãng lớn);
- Các hệ thống có mức độ phối hợp cao (được thực hiện thông qua các dạng liên hợp trong ngành và liên ngành, và qua thị trường, chúng phối hợp phần lớn hoạt động kinh tế) [3] .
Còn có các cách phân loại khác nữa dựa trên những tiêu chí khác.
Tuy nhiên, với mọi cách tiếp cận rất đa dạng, lý thuyết mới có một loạt đặc điểm cơ bản chung. Điều đó mang lại cho nó tính chất của một hệ thống quan điểm hoàn toàn xác định và chỉ rõ vị trí cùng vai trò của nó trong khoa học xã hội hiện đại.
III.
Lý thuyết mới xem xét xã hội như một tam đoạn thức gồm văn hoá, các thiết chế xã hội và kinh tế. Ý tưởng cốt lõi là, hệ thống kinh tế sinh ra từ các thiết chế xã hội, còn các thiết chế xã hội thì do nền văn hoá tạo ra chứ không phải là ngược lại. Tuy nhiên, các mối liên hệ nhân quả giữa các thành tố của tam đoạn thức này không phải là những mối liên hệ được quyết định cứng nhắc từ một phía. Ngược lại, mỗi một thành tố trong số đó đều tương đối độc lập và có thể tiến triển độc lập đối với các thành tố khác. Ngoài ra, mỗi một thành tố lại có ảnh hưởng sâu sắc đối với các thành tố khác. Vì vậy, với vai trò hàng đầu đương nhiên của văn hoá, quá trình phát triển xã hội là một hệ thống tương tác năng động phức tạp giữa kinh tế, các thiết chế xã hội và văn hoá. Vai trò hàng đầu của văn hoá thể hiện ở chỗ, bất cứ sự thay đổi nào của các thiết chế xã hội và hệ thống kinh tế, trước tiên đều phải do trí tuệ của con người quyết định, nghĩa là phải có những nhu cầu mới về văn hoá.
Các quá trình sinh tồn và phát triển của một xã hội nhất định không chỉ là sự tác động lẫn nhau giữa các thành tố trong tam đoạn thức đó, mà còn một số nhân tố khác ngoài chúng cũng đóng vai trò quan trọng.
Thứ nhất, đó là nhà nước đóng vai trò là khâu nối giữa văn hoá và các thiết chế xã hội. Nhà nước, thường là người bảo hộ nền văn hoá dân tộc. Ngoài ra, nó còn biến đổi các yêu cầu của văn hoá thành những hình thức tổ chức nhất định. Nhưng, nhà nước cũng có thể đóng vai trò là người cải cách, làm thay đổi các thiết chế xã hội, bất kể các truyền thống văn hoá.
Thứ hai, đó là những ảnh hưởng từ bên ngoài. Chúng có thể là những ảnh hưởng vật chất hoặc phi vật chất. Ví dụ, tác động mang tính mệnh lệnh của thị trường thế giới bắt buộc các hệ thống kinh tế địa phương phải tuân thủ logic cạnh tranh thị trường và phải có công nghệ hoàn thiện hơn là thuộc nhóm thứ nhất. Ảnh hưởng thuộc nhóm thứ hai gồm những ý tưởng, những chuẩn mực và những giá trị từ bên ngoài mang lại, tác động trực tiếp đến văn hoá địa phương. Trong trường hợp, nếu tác động đó tỏ ra có hiệu quả thì nó sẽ làm biến đổi tương ứng các thiết chế xã hội, và dần dần, thâm nhập vào hệ thống kinh tế.
Trong bất kỳ một xã hội nào, mỗi thành tố trong tam đoạn thức ấy đều có cấu trúc đặc thù của mình.
Những người ủng hộ lý thuyết mới cho rằng, chính bên trong mỗi một hệ thống kinh tế đều có ba thước đo cơ bản và quan trọng nhất, đó là: sở hữu; “mạng lưới”, nghĩa là tổng thể các mối quan hệ thực tế giữa những người điều hành kinh tế, bổ sung cho các quan hệ cạnh tranh thị trường; quản lý.
Các thiết chế xã hội, hiểu theo nghĩa hẹp, trong mối liên quan của chúng với hệ thống kinh tế, có thể phân chia thành ba nhóm: tư bản (không nên hiểu tư bản theo nghĩa thông thường, mà đó là toàn thể các nhân tố quyết định mức độ nắm bắt nó đối với các nhà điều hành kinh tế); tư bản người (toàn thể những năng lực của mọi người do hệ thống giáo dục và thuê mướn tạo nên); tư bản xã hội (những tiền đề xã hội vô hình được trao đổi trên thị trường, như sự tin cẩn giữa các nhà điều hành kinh tế với nhau, sự ổn định về trật tự luật pháp và các quan hệ hợp đồng, tính minh bạch của các vụ giao dịch v.v.).
Trong lĩnh vực văn hoá, những người ủng hộ trào lưu mới thường phân chia các thành tố chủ yếu như sau: tính hợp lý; sự tự hoà đồng, điều này xác định tính mạnh hay yếu của “trật tự theo chiều ngang” (nói khác đi, của xã hội dân sự) và tính chất của nó – cá nhân chủ nghĩa hay tập thể chủ nghĩa; quyền lực – các giá trị và chuẩn mực tạo thành “trật tự theo chiều dọc” (nhà nước).
Tính hợp lý đóng vai trò then chốt trong động thái của toàn bộ tam đoạn thức. Sinh thời, M. Weber đã viết: “Chung quy, các nhân tố sinh ra chủ nghĩa tư bản là sự kinh doanh luôn luôn hợp lý, hạch toán sổ sách hợp lý, công nghệ hợp lý và luật lệ hợp lý, nhưng không phải chỉ có thế. Còn những nhân tố bổ trợ cần thiết khác là tinh thần duy lý, sự hợp lý hoá lối sống nói chung và đạo đức kinh tế duy lý” [4] .
Một thời gian dài, người ta cho rằng, tính hợp lý trong kinh tế học, trong khoa học và kỹ thuật là tài sản đặc biệt của Tây Âu, nó cho phép Tây Âu tạo nên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và vượt lên phía trước trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Những người ủng hộ các lý thuyết về các hệ thống thay thế nhau của chủ nghĩa tư bản đã khẳng định rằng, tính hợp lý có thể tồn tại ở những dạng khác nữa, “khác với Châu Âu”. Ở dạng tổng quát nhất, tính hợp lý là sự đề xuất rõ ràng những mục tiêu đúng đắn và sự lựa chọn đúng các phương thức tốt nhất để đạt được các mục tiêu ấy, mà theo lẽ thường, là dựa trên sự tính toán so sánh định lượng.
Các nhà lý luận về các hệ thống thay thế nhau của chủ nghĩa tư bản phân biệt tính hợp lý hình thức và tính hợp lý bản chất.
Tính hợp lý hình thức là phương thức khách quan, khoa học, tách ra khỏi những phán đoán về giá trị, dùng các công cụ của toán học và của logic hình thức để xác định phương tiện tốt nhất nhằm đạt được mục đích.
Tính hợp lý bản chất có liên quan với những mục tiêu cuối cùng của hệ thống kinh tế, hơn nữa, mối quan hệ này dựa trên một vấn đề xã hội cơ bản là sự phân chia phúc lợi giữa các thành viên của xã hội. Quá trình này không nằm trong khuôn khổ của logic hình thức. Nó không những phụ thuộc vào vị trí của con người trong nền kinh tế mà còn phụ thuộc vào tính chất của các mối quan hệ giữa họ trong khuôn khổ trật tự theo chiều ngang và trật tự theo chiều dọc (tức là phụ thuộc vào những đặc điểm của xã hội và của nhà nước). Các yếu tố dân tộc, tôn giáo, chính trị, xã hội và tư tưởng cũng như các truyền thống văn hoá của một xã hội nhất định đóng vai trò to lớn trong quá trình này. Vì vậy, trong phạm trù về tính hợp lý bản chất, các “mục tiêu” để từ đó lựa chọn các “phương tiện” đều không thể quy về giá trị kinh tế trung dung, mà chủ yếu, chúng được xác định bởi các giá trị văn hoá và xã hội.
Chính các giá trị này áp đặt sự lựa chọn của xã hội trong lĩnh vực xây dựng các thiết chế xã hội. Cuối cùng, xã hội chọn ra những thiết chế được coi là phương tiện tốt nhất để thực hiện các mục tiêu có tính hợp lý bản chất. Việc làm cho các mục tiêu ngày càng phức tạp này tương xứng với những phương tiện đa dạng để thực hiện chúng tạo nên nội dung của cái gọi là tính hợp lý về giá trị. Các mục đích suy ra từ các giá trị xã hội đều có thể thực hiện được một cách vô ý thức bằng các phương tiện của thực tế truyền thống, cũng như nhờ tính hợp lý của công cụ có định hướng.
Từ đó rút ra một kết luận cực kỳ quan trọng đối với thực tiễn hiện nay: cùng một kiểu hợp lý hình thức (ví dụ, sự trao đổi trên thị trường hoặc sự kinh doanh tư bản chủ nghĩa) có thể được “đưa vào” các hệ thống hoàn toàn khác nhau về tính hợp lý giá trị. Điều đó có nghĩa là, cùng một cơ chế kinh tế có thể phục vụ các mục đích xã hội khác nhau, kể từ chủ nghĩa bình quân dân chủ-xã hội theo khuôn mẫu Bắc Âu cho đến “chủ nghĩa tư bản cho mình” vốn đã cắm rễ bền chắc ở miền nam nước Ý và ở các nước châu Mỹ Latinh.
IV.
Từ lâu, các nhà doanh nghiệp phương Tây làm việc ở châu Á đã nhận thấy rằng, các hệ thống kinh tế hiện có ở đây đều “không tuân thủ” các thể chế trừu tượng của chủ nghĩa tư bản mà họ đã nghiên cứu ở các trường đại học. Nhưng môn chính trị-kinh tế học truyền thống không nêu được những cách lý giải khác. Quan niệm về các hệ thống thay thế nhau của chủ nghĩa tư bản là một sự thử nghiệm thành công nhằm lấp khoảng trống này [5] .
Lý thuyết mới vẽ nên một bức tranh sinh động về các động lực và các hình thái cụ thể của sự phát triển tư bản chủ nghĩa ở bên ngoài nền văn minh châu Âu. Chẳng hạn, khi suy nghĩ về tiến trình cải cách kinh tế ở Trung Quốc, những người ủng hộ lý thuyết mới đã đi đến những kết luận gì. Theo họ, không thể lý giải sự thành công của các cuộc cải cách ấy bằng sự “sáng suốt” của Đảng Cộng sản Trung Quốc hay bằng nghệ thuật cải cách của chính phủ Trung Quốc. Chẳng qua các nhà cầm quyền đã mở cửa cho việc khôi phục và phát triển tự nhiên của “chủ nghĩa tư bản gia đình”, kẻ đã làm nên mọi thứ cần thiết.
Biến chủng này của chủ nghĩa tư bản (trong phương án hiện đại của nó) trước tiên đã phát đạt trong đám cư dân Trung Quốc ly hương ở Hồng Kông, ở Đài Loan và ở các nước Đông Nam Á. Khi cọ xát với thị trường thế giới, các nhà doanh nghiệp người Hoa đã hiện đại hoá các truyền thống kinh doanh gia đình có hàng ngàn năm của họ rồi làm cho chúng nở hoa kết trái bằng kinh nghiệm của phương Tây. Thành công của họ là một trong những bộ phận chủ yếu của “sự thần kỳ kinh tế” mà các “con hổ châu Á” đã đạt được.
Sau khi Đặng Tiểu Bình lên cầm quyền, “chủ nghĩa tư bản gia đình” đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ trên lục địa Trung Quốc. Hàng ngàn Hoa kiều đã trở về tổ quốc, mang theo cả tư bản tài chính, tư bản xã hội và tư bản người, là những thứ cần thiết cho sự vận hành tốt đẹp của thị trường. Các hình thức của chủ nghĩa tư bản gia đình đã tỏ ra tương thích với các truyền thống văn hoá và với tâm tính của dân chúng, bất chấp những tàn dư của chủ nghĩa Mao. Trong suốt những năm đó, hàng triệu nhà doanh nghiệp mới trưởng thành trên đất Trung Hoa đã liên kết với một số ít kiều bào hồi hương.
Hiện nay, chính “chủ nghĩa tư bản gia đình” là cơ sở của hệ thống kinh tế ở Trung Quốc. Đặc điểm chủ yếu của nó là ở chỗ, trong đó, sở hữu tư nhân tồn tại chủ yếu dưới dạng sở hữu của từng gia đình riêng lẻ hoặc của các nhóm cộng tác mật thiết trên cơ sở gia tộc. Các mặt mạnh và mặt yếu của nền kinh tế Trung Quốc hiện nay đều được lý giải bởi điều đó.
Phương pháp luận của các hệ thống kinh tế thay thế nhau cũng soi sáng nhiều nét “bí hiểm” của các cuộc cải cách ở Trung Quốc. Theo các định đề của lý thuyết mới, nếu xuất phát từ tác dụng chủ yếu của văn hoá trong sự phát triển kinh tế-xã hội, thì các hình thái đặc thù của tính hợp lý, của sự tự hoà đồng, và của chính quyền, phải đóng vai trò quyết định trong sự hình thành chủ nghĩa tư bản Trung quốc.
Như G. Redding [6] nhận xét, sự độc đáo của tính hợp lý hình thức ở người Trung Hoa thể hiện trước hết ở tính cụ thể, tính “bám đất”, tính không ưa trừu tượng. Sự vật là đối tượng của nhận thức hay của những hành động đều được xem xét như một bộ phận hữu cơ của thế giới. Vì vậy, cái được coi là quan trọng nhất không phải là tính chất của từng sự vật riêng rẽ, mà chính là mối liên hệ qua lại giữa sự vật này với sự vật khác, là logic biện chứng ràng buộc chúng với nhau, cũng như ảnh hưởng của những hành động được hoạch định đối với các quan hệ giữa mọi người.
Tính hợp lý giá trị còn mang tính chất đặc thù hơn nữa. Theo G. Redding, nó có bảy chiều đo chủ yếu:
- Thể chế xã hội. Theo truyền thống, mỗi cá nhân cần phải đóng một vai trò nhất định trong xã hội. Tính ổn định và trật tự được duy trì bởi nhà nước đang thống trị xã hội. Mỗi cá nhân đều được giáo dục lòng kính trọng đối với chính quyền và lòng tin vững chắc vào sự cần thiết phải biết xử sự sao cho hoà thuận.
- Tôn ti. Ở Trung Quốc hiện nay, vẫn còn duy trì luân lý Khổng giáo, nó hợp pháp hoá và cổ vũ chủ nghĩa gia trưởng ở mọi cấp của xã hội, kể cả ở cấp nhà nước. Trách nhiệm quan hệ qua lại theo chiều dọc của các thành viên trong xã hội là một trong những chuẩn mực luân lý quan trọng nhất. Chủ nghĩa gia trưởng là cơ sở của tôn ti trật tự bao trùm hết thảy trong các quan hệ xã hội.
- Quan hệ qua lại. Sự tin cẩn, vốn cần thiết đối với việc thực hiện các mối quan hệ xã hội theo chiều ngang chỉ tồn tại trong phạm vi hạn chế của các quan hệ qua lại giữa các cá nhân. Tuy nhiên, trong phạm vi ấy, nó rất bền vững.
- Sự kiểm soát. Thiết chế về “sự kiểm soát sở hữu tư nhân” (K. Marx), đặc trưng cho chủ nghĩa tư bản nói chung, nhưng ở Trung Quốc lại nổi bật bởi cường độ đặc biệt, vốn được lý giải bởi sự cạnh tranh gay gắt giữa các gia đình, bởi sự khan hiếm tài nguyên và nguy cơ cần có sự can thiệp của nhà nước.
- Thiếu an toàn. Đặc điểm này, vốn là do sự tồn tại của chế độ cực quyền nhà nước và tính bấp bênh về quyền sở hữu, càng nổi bật do sự cạnh tranh gay gắt và những đặc điểm của luân lý lao động ở Trung Quốc. Việc tích lũy các nguồn dự trữ và thiết lập các phương tiện bảo vệ được đòi hỏi không những bởi lợi ích cá nhân của người chủ sở hữu, mà còn bởi trách nhiệm của người đó đối với các thành viên trong gia đình và những người làm thuê cho mình.
- Chủ nghĩa tập thể gia đình. Toàn thể cấu trúc của trật tự theo chiều ngang trong xã hội Trung Quốc đều lấy chỗ dựa là gia đình với tư cách là đơn vị xã hội mấu chốt.
- Tri thức. Niềm khát khao đối với tri thức từ bao đời nay vốn có lịch sử liên quan với tính năng động theo chiều dọc, nay vẫn còn rất mạnh ở Trung Hoa hiện đại, bất chấp cuộc thí nghiệm mang tính huỷ hoại của “cách mạng văn hoá”.
Đặc tính của các quan hệ xã hội và các mục tiêu của xã hội cũng ảnh hưởng sâu sắc lên cách lựa chọn các phương tiện thực hiện các mục đích này, hoặc lên phạm vi của tính hợp lý công cụ. Cũng giống như ở bất kỳ một nước nào khác, xã hội Trung Quốc cố gắng tìm ra những phương tiện thực hiện các giá trị, vừa mang tính tích cực lại vừa dễ chấp nhận về mặt luân lý. Quá trình lựa chọn mang tính chất cực kỳ phức tạp và vô ý thức. Vì vậy, kết quả của nó thường là tính hợp lý tiềm ẩn, trong đó, mối liên hệ giữa các mục tiêu và các phương tiện là có thực, nhưng không rõ ràng.
Trong những điều kiện có tính bất định cao, với ưu thế của các gia tộc đơn độc cạnh tranh lẫn nhau, với sự yếu kém của các thiết chế xã hội như luật lệ, ngân hàng, vốn cổ phần, sở giao dịch chứng khoán, thì các mối quan hệ cá nhân với tư cách là công cụ đắc lực để tiến hành hoạt động kinh tế, đóng vai trò to lớn. Vì những nguyên nhân ấy nên tính bí mật trong đời sống của giới kinh doanh Trung Quốc càng biểu hiện sâu sắc. Thông tin là một trong những vũ khí chủ yếu trong cuộc đua tranh. Sự nắm bắt được thông tin, hoặc ngược lai, sự thiếu thông tin, thường quyết định vị trí xã hội của từng cá nhân và mức độ thành công của người đó trong kinh doanh.
Trật tự theo chiều ngang ở Trung Quốc, cũng như tính hợp lý, dựa trên gia đình – đơn vị xã hội cơ bản bảo đảm cho cá nhân được an toàn và có khả năng tự hoà đồng về tâm lý và thực tiễn. Khi trong xã hội thiếu sự tin cẩn “được thiết chế hoá” theo khuôn mẫu phương Tây, thì ắt là, sự hoài nghi sẽ ngự trị giữa các gia tộc cạnh tranh nhau. Trong thời kỳ chủ nghĩa xã hội, yếu tố này được khắc phục bởi chủ nghĩa tập thể của đảng và nhà nước. Trong thời kỳ cải cách, việc bảo đảm trật tự theo chiều ngang lại dựa theo những hình thức cổ truyền. Luân lý và thực tiễn của mối quan hệ qua lại xác định địa vị xã hội của mỗi cá nhân, sự tin cẩn và kính trọng giữa họ với nhau là “vật liệu xây dựng” chủ yếu.
Về trật tự theo chiều dọc, thì quan niệm thông thường về tính không thích hợp và thậm chí về sự xung đột giữa hệ thống kinh tế năng động và hình thái bất động của quyền lực chính trị ở Trung Quốc là một quan niệm sai lệch. Sự thống trị lâu dài văn phong mác-xit lê-nin-nit đã che giấu một sự thực là, ngay ở nước Trung Hoa cộng sản, nhà nước đã được xây dựng trên những nguyên tắc Khổng giáo cổ truyền. Chính những nguyên tắc này xác định hệ thống nhà nước của Trung Hoa hiện đại, một hệ thống đang dần dần thoát khỏi mọi ứ đọng tích tụ lại trong những năm của chủ nghĩa xã hội. Các cải cách kinh tế không làm xuất hiện chủ nghĩa cá nhân kiểu phương Tây mà chỗ dựa của nó là quyền con người. Những nguyên tắc Khổng giáo về các quan hệ giữa cá nhân và nhà nước vẫn bất di bất dịch, điều đó tạo thuận lợi cho các hình thái thực hiện quyền lực cụ thể của nhà nước dễ dàng thích ứng với những điều kiện mới. Nhà nước, với tư cách là khâu cao nhất của chế độ gia trưởng bao trùm hết thảy, vẫn là phương tiện không thể thay thế được để xã hội hoá cá nhân. Thông qua quan hệ với nhà nước, cá nhân sẽ tìm được vai trò xã hội của mình bên cạnh vai trò “tự nhiên” trong gia tộc. Nói một cách bóng bẩy, người Trung Quốc được sinh ra là để chiếm giữ vị trí của mình trong trật tự theo chiều dọc hiện có. Về phương diện này, “chủ nghĩa tư bản gia đình” không mảy may làm thay đổi đời sống của các thế hệ mới và số phận của cả hệ thống chính trị.
Về phần các thiết chế xã hội, thì những đặc điểm vận động của tư bản – bộ phận đầu tiên của nó – được xác định trước hết bởi sự hạn chế của hình thức sở hữu gia đình và những hệ quả từ đó là mức độ tập trung sản xuất luôn luôn thấp, các xí nghiệp vừa và nhỏ chiếm ưu thế. Các hệ thống hiện đại về tín dụng ngân hàng và huy động vốn tích luỹ thông qua việc phát hành chứng khoán đều không phát triển. Các doanh nhân Trung Quốc chỉ có thể trông cậy vào sự giúp đỡ từ các gia tộc của mình và vào các mối quan hệ cá nhân. Điều đó bóp nghẹt quy mô tích luỹ vốn và đầu tư.
Tình trạng của tư bản người (vốn nhân lực), một mặt, được xác định bởi sự thiếu hụt quá nhiều chuyên gia nắm vững tri thức hiện đại và những kỹ năng hoạt động thực tiễn, và bởi khuôn khổ quá hạn hẹp của các trường học tạo nên nền học vấn cần thiết hiện nay. Nhưng, mặt khác, ở Trung Quốc từ xưa đến nay vẫn tồn tại lòng ham muốn mạnh mẽ đối với tri thức, chính điều đó là một nhân tố tích cực đối với sự phát triển kinh tế.
Chỗ yếu của chủ nghĩa tư bản Trung Quốc hiện nay là tình trạng kém phát triển của tư bản xã hội. Trên nhiều phương diện, tư bản xã hội ở đây hoàn toàn là trái ngược với tư bản xã hội ở châu Âu. Ở Trung Quốc thiếu sự bảo vệ của pháp luật mà có thể tạo khả năng mở ra những quan hệ kinh doanh tin cậy với những người hoàn toàn không quen biết; thiếu tính cởi mở về thông tin và tính minh bạch trong hoạt động kinh tế; nói tóm lại là thiếu sự tin cẩn được thiết chế hoá. Các nhà doanh nghiệp Trung Quốc đành phải chi theo những quy tắc hoàn toàn khác và phải sử dụng những lực lượng hậu bị khác, mà trước hết đó là những mối quan hệ cá nhân. Tuy bị hạn chế ngặt nghèo về quy mô, nhưng so với các quan hệ “ai cũng như ai” theo kiểu Châu Âu thì họ tinh tường hơn nhiều, trong đó có cả phương diện lòng tin.
Như đã nhận định ở trên, hình thức sở hữu tư nhân kiểu gia đình là bộ phận chủ chốt của hệ thống kinh tế riêng ở Trung Quốc. Điều đó giải thích cho ưu thế của hình thức quản lý doanh nghiệp do một người đảm trách, ngay cả khi các doanh nghiệp ấy mang danh nghĩa là sở hữu tập thể. Mục đích cao nhất của người quản trị là gia tăng và bộ toàn vốn liếng của gia đình. Tính bất ổn định buộc ông ta phải luôn luôn thận trọng. Với mọi điều kiện khác như nhau, điều đó hạn chế những khả năng liên kết theo chiều ngang và theo chiều dọc.
Tuy nhiên, tình hình thực tế của thị trường hiện đại đang trái ngược với xu hướng này. Những mối quan hệ bền chặt của các doanh nghiệp gia đình với các nhà cung ứng và khách hàng, sự phát triển thầu lại và những hiện tượng tất yếu khác kèm theo cũng giúp khắc phục những trở ngại của hình thức sở hữu tư nhân hạn hẹp này. Những mối quan hệ cá nhân của các nhà lãnh đạo các doanh nghiệp phát triển tuỳ theo mức độ gia tăng khối lượng sản xuất và tiêu thụ cũng phát huy tác dụng theo hướng này. Tuy vậy, những mầm mống “xã hội hoá” đầu tiên ấy của giới kinh doanh ở Trung Quốc vẫn còn mang tính chất cục bộ và rời rạc do thiếu cơ sở hạ tầng xã hội tương ứng và do ưu thế của mối hoài nghi vốn có từ xưa đối với những “người lạ”.
Hệ thống kinh tế Trung Quốc hiện nay đã được mở cửa đối với những tác động bên ngoài. Trong những tác động đó, trước hết phải kể đến những mệnh lệnh của thị trường thế giới. Các nhà sản xuất ở Trung Quốc buộc phải chấp nhận vô điều kiện các yêu cầu của thị trường về chủng loại và chất lượng hàng hoá, về giá cả, về công nghệ sản xuất và các phương pháp cạnh tranh. Như thực tiễn cho thấy, “chủ nghĩa tư bản gia đình” của Trung Quốc không vấp phải những khó khăn trong việc này.
Đối với những tác động phi vật chất thì vấn đề có phần phức tạp hơn. Vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa truyền thống, hệ thống kinh tế Trung Quốc loại bỏ những ý tưởng đến từ nước ngoài, không đáp ứng những lợi ích vật chất trực tiếp, chẳng hạn như, chủ nghĩa cá nhân của phưng Tây, tính minh bạch, sự tin cẩn, dân chủ v.v. Nhưng, đã nói đến điều «a» thì cũng phải nói đến điều «b». Đằng sau những cách tân về kỹ thuật mang lại lợi nhuận, phải có những ý tưởng và những thiết chế xã hội nhất định để triển khai những cách tân đó. Đó là ý tưởng tiến bộ ngược lại với nguyên tắc về tính bất biến của trật tự xã hội; là những quan niệm về chủ nghĩa đa nguyên và dân chủ không dung hợp với những nguyên tắc về thứ bậc của trật tự theo chiều ngang và trật tự theo chiều dọc ; là tư tưởng tự quản và kỷ luật thị trường, trái ngược với niềm tin cứng nhắc vào sự cần thiết một nhà nước mạnh; là những tư tưởng hưởng lạc và thích tiêu xài tỏ ra rất xa lạ trên nền tảng của lối sống khắc kỷ của đại đa số người Trung Quốc. Hoàn toàn tự nhiên là, những ý tưởng đó, dù sao đi nữa, chúng cũng tự tìm đường thâm nhập vào Trung Quốc. Tuy nhiên, kinh nghiệm của Đài Loan và Hồng Kông cho thấy, xã hội Trung Quốc, ngay cả những người giàu có, đã không câu nệ logic hình thức, không sao chép mù quáng các khuôn mẫu phương Tây, mà biết biến đổi chúng cho phù hợp với những truyền thống văn hoá và những nhu cầu của chính mình.
V.
Khi áp dụng kết quả của quan niệm về các hệ thống thay thế nhau của chủ nghĩa tư bản vào các nước Đông Á và Đông Nam Á đã đặt ra một câu hỏi rất hợp quy luật rằng, quan niệm này có quan hệ như thế nào với tình hình thực tế ở các nước tư bản chủ nghĩa “cổ điển”. Trong những năm gần đây, đã xuất hiện khá nhiều tác phẩm lý thú về chủ đề này. Qua các tác phẩm ấy, người ta đã có được cách lý giải đủ sức thuyết phục về mặt lý luận những đặc điểm nổi tiếng lâu nay của các nước và các khu vực mà chưa từng được giải thích trong các phạm trù của chính trị – kinh tế học truyền thống. Đặc biệt, phương pháp tiếp cận mới cho phép hiểu rõ hơn nữa những nguyên nhân khiến hệ thống kinh tế châu Âu luôn luôn chệch khỏi logic của lý thuyết kinh tế “thuần tuý”. Nó cũng cung cấp một quan niệm đầy đủ và sát thực hơn về chủ nghĩa tư bản hội đoàn ở châu Mỹ.
Các nhà lý luận về các hệ thống thay thế nhau của chủ nghĩa tư bản đã không quên chú ý đến các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Tác giả của các tác phẩm đã được công bố hồi những năm 90, đã luận chiến với những khuyến cáo hợp thức về các cuộc cải cách kinh tế dựa trên những định đề của chính trị – kinh tế học truyền thống, họ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố văn hoá và xã hội.
Ở nước Nga, lý thuyết mới hầu như không được biết đến, mặc dầu ý niệm về sự cần thiết phải chú ý đến phương diện kinh tế và xã hội của các cuộc cải cách kinh tế đã được phổ biến rộng rãi. Năm 1994, giới ưu tú chính trị ở Nga đã hiểu một cách trực giác rằng, các biện pháp của phương tây chẳng đem lại lợi ích thực tế, mặc dầu cho đến lúc bấy giờ, điều này chưa được chính thức thừa nhận trong mọi suy tính về chiến thuật. Phương pháp tiếp cận theo chủ nghĩa thực chứng của chính phủ Nga đã cho phép dần dần đạt được sự ổn định chính trị và kinh tế. Trong nước, đã hình thành một hệ thống kinh tế chỉnh thể dựa trên những nguyên tắc thị trường có khả năng tăng trưởng bền vững, mặc dầu còn khiêm tốn. Tuy nhiên, sự thiếu vắng một quan niệm dứt khoát trong xã hội về tính chất của hệ thống hiện hành đang cản trở việc đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đất nước.
Chỉ thoáng nhìn vào tiến trình cải cách ở Nga qua lăng kính của quan niệm mới cũng đủ thấy nó có thể có tác dụng tốt đẹp đến mức nào để tự nhìn nhận thực tế hơn về xã hội Nga và đề xuất chính sách hữu hiệu cho các cuộc cải tạo kinh tế-xã hội.
Đặc biệt, lý thuyết mới giúp ta hiểu, tại sao ở Trung Quốc, sự chuyển tiếp sang chủ nghĩa tư bản đã đạt được thắng lợi, còn ở Nga thì vấp phải những khó khăn rất lớn.
Bề ngoài, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc và ở Liên Xô hầu như giống hệt nhau. Nhưng thực chất, một số hình thức tổ chức chính trị và kinh tế xã hội đã được xây dựng trên những cơ sở văn hóa xã hội hoàn toàn khác nhau. Khi gỡ bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa, xã hội Trung Quốc còn có chỗ dựa – gia đình và các truyền thống Khổng giáo đã bảo đảm cho sự chuyển tiếp suôn sẻ và có trật tự sang hệ thống mới trong bối cảnh ổn định về chính trị. Ở Nga và ở các nước SNG khác, không có những tiền đề nội tại như thế. Vì vậy, xu hướng du nhập hệ thống kinh tế phưng Tây theo kiểu “chìa khoá trao tay” là điều hiển nhiên.
Khi đó, các nhà cải cách và các vị cố vấn nước ngoài của họ đã phạm một sự nhầm lẫn cơ bản. Ở bất cứ nước nào, hệ thống kinh tế chỉ có thể vận hành hữu hiệu nếu nó hài hoà với hai thành tố kia của tam đoạn thức – tức là với các thiết chế xã hội và với văn hoá. Vậy thì, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi ở nước Nga, các sơ đồ lý tưởng về “nền kinh tế chuyển tiếp” đã mâu thuẫn với di sản lịch sử thực tại.
Hệ thống kinh tế đã phát sinh ở Nga vẫn còn là một hỗn hợp chưa định hình gồm chủ nghĩa quan liêu xô viết, loạt tội phạm cuối thời xã hội chủ nghĩa, những mặt tồi tệ nhất của chủ nghĩa tư bản “hoang dã” phương Tây và cái mà thời trước người ta gọi là “thói dã man Châu Á”. Biến thể của chế độ tư hữu ở Nga khác xa với thiết chế tư bản chủ nghĩa chính quy ở sự định đoạt hợp lý sự vật để gia tăng giá trị của nó. Các “mạng lưới” mang tính chất hỗn độn, ngẫu nhiên, “chủ nghĩa tư bản vì mình” thắng thế. Thay cho các quan hệ hợp đồng được pháp luật bảo đảm, người ta lại sử dụng mẹo vặt, cuối cùng gây thiệt hại cho tất cả những người tham gia hoạt động kinh tế. Việc quản lý ở tất cả các cấp đều không có hiệu quả.
Sự yếu kém thậm tệ của tư bản xã hội là điểm yếu nhất của các thiết chế xã hội. Nguyên nhân chủ yếu là, giai cấp tư sản mới ở Nga vẫn chưa được tổ chức thành giai cấp lãnh đạo xã hội và không nhận thức được trách nhiệm xã hội của mình. Kết quà là, nó không đủ năng lực để hướng các cuộc cải biến xã hội đi đúng quỹ đạo cần thiết, và cũng không biết tổ chức hoạt động của mình cho hợp lý.
Vấn đề về khả năng hưởng dụng tư bản đúng là đang biểu hiện ở dạng đáng buồn. Sự yếu kém của tư bản xã hội đang loại trừ khả năng vay mượn bình thường và huy động vốn tích luỹ qua các ngân hàng và các thị trường chứng khoán. Một phần đáng kể tiền vốn tích luỹ được trong hệ thống kinh tế cũng bị đánh cắp và bị chuyển ra nước ngoài một cách phi pháp. Tài sản nhà nước là đối tượng tranh giành của các công ty tư nhân và là cơ sở vật chất của nạn tham nhũng vốn đã trầm trọng.
Tư bản người đang trong quá trình đột biến sâu sắc. Thế hệ trẻ nhanh chóng nắm bắt những tri thức thực tế cần thiết trong đời sống kinh tế hiện đại, đó là một ưu điểm rõ ràng. Tuy nhiên, trình độ giáo dục phổ thông cũng đang giảm sút một cách đáng lo ngại. Sự xa cách giữa tri thức nghề nghiệp và đạo đức kinh doanh đang ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế.
Những vấn đề của các cuộc cải cách kinh tế đầy nhức nhối mà vẫn không có hiệu quả mấy, phần nhiều là do đặc điểm của nền văn hoá Nga. Nhà thờ chính giáo Slav ở Nga có quyền tự hào là, khác với các nhánh khác của đạo Cơ Đốc, nó vẫn trung thành với những nguyên tắc của đạo Cơ Đốc ban đầu, kiên quyết lên án tính tham lam. Nhưng tính cao thượng về đạo đức do điều đó đưa đến lại kéo theo những hậu quả kinh tế tiêu cực, bởi vì, nếu không có lòng tham hợp lý thì không có chủ nghĩa tư bản. Văn hoá thế tục ở Nga trước cách mạng cũng thù địch với lối kinh doanh tư bản chủ nghĩa. Có lẽ không cần nhắc đến cái hố sâu ngăn cách giữa văn hoá xã hội chủ nghĩa và văn hoá của chủ nghĩa tư bản. Vì vậy trên thực tế, nền văn hoá mới tư bản chủ nghĩa ở Nga đang mọc lên trên một chỗ trống rỗng.
Nói về tính hợp lý kiểu Nga, nghĩa là nghệ thuật tìm ra những phương tiện tốt nhất để đạt được những mục đích đã đề ra, thì nó đã được thâu tóm một cách tuyệt vời trong câu châm ngôn bất hủ của Chernomyrdin: “Muốn tốt hơn nữa, nhưng chỉ nhận được có thế thôi”. Mặc dầu ở nước Nga hiện nay chỉ có kẻ lười biếng mới thờ ơ với những lý tưởng về một xã hội công dân, nhưng sự hình thành thực tế của trật tự theo chiều ngang vẫn diễn ra một cách cực kỳ phức tạp. Đáng tiếc rằng, trong xã hội thiếu hẳn thái độ kiên quyết, không khoan nhượng đối với tội phạm, nạn tham nhũng và thói gian trá, vốn là một trong những nguyên nhân khiến chủ nghĩa tư bản toàn thắng ở Bắc Mỹ.
Việc biến cải trật tự theo chiều dọc cũng đi đôi với những sự sai lệch lớn. Hệ thống răn đe, mà trong suốt nhiều thế kỷ vốn là cơ sở của bộ máy nhà nước Nga và Liên xô, đã sụp đổ. Tuy nhiên, sự nhận thức tự giác về tính tất yếu xã hội của nhà nước và kỷ luật tự giác kèm theo nhận thức đó đã không đến kịp để thay thế nó. Bộ máy hành chính còn lại từ hệ thống trước đây đã được “tư nhân hoá”. Kết quả là, sau những năm cải cách, tệ nạn quan liêu đã phát triển một cách quái đản. Nó là cái tròng đối với giới kinh doanh. Nhưng giai cấp tư sản Nga vẫn chưa thể giải quyết được mâu thuẫn giữa một bên là lợi ích giai cấp đòi hỏi phải nhổ tận gốc tệ nạn quan liêu, tham nhũng, và một bên là sự cám dỗ không cưỡng nổi, muốn lợi dụng “nguồn lợi hành chính” trong những mục đích tư lợi cá nhân của mình.
Sự ổn định kinh tế diễn ra trong những năm gần đây có liên quan hết sức rõ rệt với những chuyển biến trong văn hoá và trong hoạt động của các thiết chế xã hội của nước Nga kể từ khi chuyển đổi thế hệ. Phải chăng, sự ổn định đó chỉ là điều ngẫu nhiên sau thời gian trì trệ khủng hoảng kéo dài hay là sự mở đầu của thời phục hưng kinh tế trên cơ sở kinh tế xã hội mới về nguyên tắc? Lời giải đáp cho câu hỏi này không phụ thuộc vào “nền kinh tế” phi cá tính hoặc vào ý chí của chính phủ. Chìa khoá đem đến sự thành công của nước Nga trong nền kinh tế toàn cầu hiện đại là, xã hội công dân đang trưởng thành ở đó phải có năng lực tìm ra trong di sản văn hoá và các truyền thống lịch sử của mình những lời giải đáp hữu ích trước những thách thức của thời đại.
[1]L. Thurow,
The Future of Capitalism, N.Y., 1996, tr. 3.
[2]Xem:
Culture Matters/ Ed. by L. E. Harrison and S. P. Huntington, N.Y., 2000.
[3]Xem: R. Whitley,
Divergent Capitalisms: The Social Structuring and Change of Business Systems, Oxford, 1999.
[4]M. Weber.
General Economic History,
N.Y., 1961, tr. 260.
[5]Xem: M. Beeson,
Competing Capitalisms: Australia, Japan and Economic Competition in Asia Pacific, L.,1999; S. Eisenstadt,
Japanese Civilization: A Comparative View, Chicago, 1996; X. Fei,
From the Soil: The Foundations of Chinese Society, Berkley, 1992; G. Redding,
The Spirit of Chinese Capitalism, N.Y.,1990; G. Redding,
The Cultural Foundations of Economic Development, Working Paper, Euro-Asia Centre, INSEAD, 2001; G. Wang,
The Chinesness of China, Oxford, 1991.
[6]Xem: G. Redding, “The Capitalist
Business System of China and Its Rationale”.
Asia Pacific Journal of Management,
2002, No. 19, tr. 226.