trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
13.2.2008
Phạm Phú Đức
Bước đầu của tiến trình hoà giải
 

Bạn có đủ can đảm để công khai xác nhận những lỗi lầm, dù thuộc quá khứ xa xưa, của đảng chính trị với các chủ trương đường lối mà bạn hằng tin tưởng và phục vụ, hay của những chính quyền đã từng đại diện cho thế hệ ông bà cha mẹ của bạn và, hơn nữa, của dân tộc bạn đối với các dân tộc khác không? Bạn có đủ niềm tin và tự tin để vận động hoặc ủng hộ chính quyền của mình công nhận lỗi lầm của quá khứ và chính thức nói xin lỗi với nạn nhân và gia đình của những nạn nhân không còn sống do các chính sách trước đây gây ra? Bạn có muốn đối diện với sự thật, dù sự thật đó có làm cho bạn bẽ bàng và đớn đau (hay sẽ phủ nhận tất cả những cái làm đau lòng đó và chọn thái độ tự chối bỏ để lương tâm mình không bị cắn rứt) nhưng tự tin rằng nó sẽ không làm mình yếu đi, mà ngược lại, sẽ làm cho bạn mạnh hơn khi biết chấp nhận sự thật và tiếp tục tiến bước (chứ không để quá khứ kéo lùi hay làm chậm bước tiến của mình)?

Hiển nhiên đây là những chọn lựa khó khăn, trong đời sống riêng tư cá nhân cũng như công việc tập thể. Có lẽ qua câu chuyện của người Thổ dân Úc (Australian Aboriginal), qua các cuộc tranh luận chính trị được quan tâm hàng đầu tại Úc trong nhiều tuần qua và những ngày sắp tới, nhưng đặc biệt nhất là qua cái nhìn của ông Malcolm Fraser, [1] cựu Thủ tướng Úc (1975-1983) về vấn đề hoà giải với người Thổ dân, có nhiều bài học có thể rút ra được cho mỗi người và cho dân tộc của mình.

Quá khứ chúng ta cần hiểu biết [2]

Bàn về những biến cố lịch sử, nhất là những sự kiện kéo dài hơn một trăm năm, trong vài trang giấy là điều khó tránh được sự chủ quan và thiếu sót. Những ai muốn tìm hiểu khách quan và ngọn ngành về sự cách ly trẻ con người Thổ dân và người dân sống ở đảo Torres Strait khỏi gia đình của họ (gọi chung là người Thổ dân trong bài này) có thể tham khảo Bản báo cáo về cuộc điều tra toàn quốc được thực hiện vào tháng Tư năm 1997. [3] Trong phạm vi giới hạn của bài này, tôi xin được tóm tắt các quan điểm chính của cựu Thủ tướng Úc Malcolm Fraser, tuy bao quát và sâu sắc đến mấy nhưng cũng không thể phản ảnh toàn bộ vấn đề. Lý do tôi chọn trích dẫn từ sách của ông Fraser sẽ được trình bày dưới đây, ngoài các yếu tố đặc biệt như ông từng giữ vai trò lãnh đạo cao nhất nước Úc trong vòng 8 năm, là người nổi tiếng về việc bảo vệ và phát huy các nguyên tắc dân chủ và nhân quyền, và là người có đủ thẩm quyền về kiến thức cũng như sự sáng suốt khôn ngoan (wisdom) trong địa hạt chính trị tại Úc và, ở mức độ nào đó, trên tầm thế giới.

Vào tháng 8 năm 2000, ông Fraser được mời phát biểu tại Vincent Lingiari Memorial (Lecture) thuộc đại học Northern Territory (University) ở Darwin. Vì thế nên Fraser bắt đầu nghiên cứu một cách sâu rộng các tài liệu liên quan đến người Thổ dân Úc, đặc biệt về cái mà ngày nay người ta thường dùng chữ là “Thế hệ bị đánh cắp” (Stolen generation) để diễn tả. Ông biết rõ đề tài này nhạy cảm và dễ gây tranh cãi, cho nên ông tìm đến tận các tài liệu gốc, đặc biệt là chính sách của các chính quyền Úc trước đây, để hiểu chính xác hầu biết rõ mình cần nói gì. Ông đã tìm ra được nhiều dữ kiện (facts) đã làm cho chính ông cảm thấy bàng hoàng.

Chính sách ngăn cách (policy of separation) đã được chính thức hoá vào khoảng năm 1911-1912. Trước đó sự đối xử dành cho người Thổ dân cũng rất tàn ác và tồi tệ. Ngay từ ban đầu khi đến định cư, những người da trắng “khai hoang” đã đối xử với thổ dân như thú vật, và xem đất nước này như không có con người sống ở đó, và đã bắn giết, đầu độc thổ dân một thời gian dài (khoảng 1788-1910). Về sau, người da trắng khám phá rằng những Thổ dân có thể làm các việc nhà, nên từ đó đối xử họ giống như trẻ con. Rồi sau đó đối xử giống như vị thành niên khi khám phá rằng những người này có thể cầm súng chiến đấu cho Úc và Anh. Mãi cho đến giữa thập niên 1960, người Thổ dân Úc mới thật sự được đối xử như người lớn, người trưởng thành, bằng các văn bản pháp luật hẳn hoi. Tất nhiên bản thân người thổ dân luôn là con người, và trưởng thành, nhưng vấn đề là đầu óc của người da trắng không nhìn nhận người thổ dân như thế, nên một thời gian dài đã không công nhận và đối xử với họ một cách văn minh, bình đẳng, do đó nên nhân quyền bị tước đoạt và chà đạp trắng trợn.

Baldwin Spencer, người có trách nhiệm chính về thổ dân sự vụ của Úc lúc đó (với mỹ từ của vai trò này là Chief Protector of Aboriginals, nghĩa là người bảo vệ chính của người Thổ dân, nhưng trên thực tế thì làm công việc kiểm soát và điều khiển hơn), khẳng định rõ rằng “không có trẻ con lai nào (half-caste) được phép ở lại các trại thổ dân”. Ông Spencer tin rằng trẻ con bị lai dù sao cũng có chút “máu trắng” trong người và như thế sẽ được khai hoá (civilised). Một Sắc lệnh Thổ dân (chính thức được hình thành vào năm 1912) trao cho những người như Spencer hay thuộc cấp (và các nhân viên cảnh sát) quyền để cách ly các trẻ con Thổ dân ra khỏi gia đình và cộng đồng của họ, mà trên thực tế chẳng cần đến sự đồng ý của cha mẹ họ. Những ai không cộng tác sẽ bị xem là có tội. Đến năm 1937, một buổi họp tại Canberra giữa các nhân sự chủ chốt về chính sách này đã diễn ra để tìm cách phối hợp chính sách giữa cấp liên bang và tiểu bang. Ông Auber Octavius Neville, Người bảo vệ Thổ dân tại Tây Úc, và là một trong hai người chủ toạ cuộc họp, cho rằng những trẻ con Thổ dân chính gốc (tức không bị lai) trước sau gì cũng chết vì mang giòng máu yếu trong người, vì thế trẻ con Thổ dân lai (được tăng cường sức mạnh bởi máu trắng) nên được tách khỏi môi trường Thổ dân để sống nhưng cần phải quên đi ngôn ngữ, lịch sử, văn hoá, gia đình, nhóm hay bộ tộc của họ. Với quan niệm như thế, và do quyền hạn tối cao và tuyệt đối trao cho họ với mệnh danh là bảo vệ người Thổ dân, chúng ta có thể nhìn thấy được chiều sâu của việc kiểm soát đời sống và hoạt động của người Thổ dân Úc chính gốc cũng như lai từ đầu thế kỷ 20 (kéo dài nhiều thập niên về sau).

Sự biện minh của việc hình thành và thi hành các chính sách này vào lúc đó là để loại dần các đặc điểm không được ưa thích trong gốc thể người Thổ dân bằng cách sản sinh con cái qua các phương thức “cấy giống” chọn lọc (breeding out). Nghĩa là người ta tin rằng qua nhiều đợt lai giống, người Thổ dân có máu pha (mixed-blood) sẽ được tiếp sinh lực và sẽ tồn tại (nhờ máu người gốc da trắng). Hiển nhiên ngày nay có người cho rằng đây là sự nguỵ biện bởi nó chỉ là hình thức trá hình để tiêu diệt (tận gốc) người Thổ dân, xoá bỏ dần tính Thổ dân qua nhiều đợt lai giống. Trên thực tế, các chính sách này đã được thực hiện trong nhiều thập niên, đến cả thập niên 1950 và có tài liệu cho rằng vào thập niên 1960 hay đầu 1970 mới chấm dứt hẳn. Bản báo cáo của Ủy ban Nhân quyền và Cơ hội Bình đẳng của Úc vào năm 1997 (nói trên) tìm thấy rằng khoảng từ một phần mười đến một phần ba trẻ con Thổ dân bị đem ra khỏi gia đình từ thập niên 1910 đến thập niên 1970. [4] Ước đoán có khoảng 55,000 nạn nhân như thế, và có những nạn nhân còn sống sót kể lại rằng họ đã từng bị ngược đãi về mặt thân thể và tình dục. Nếu nhìn ở khía cạnh tích cực, nghĩa là chấp nhận biện minh rằng những người hình thành và thực hiện chính sách này tin tưởng rằng máu của người Thổ dân yếu và không thể tồn tại nên cần tăng cường máu của người da trắng để sống sót, thì sau cùng nó vẫn là một chính sách, mà theo ông Fraser, đã tướt mất bản sắc, lịch sử, văn hoá của người ta. Nhìn ở khía cạnh tiêu cực, nhất là theo tiêu chuẩn văn minh thời nay, thì đây là một chính sách vô cùng dã man, tàn bạo và phân biệt chủng tộc. Trên bình diện tổng thể, dữ kiện cho đến nay cho thấy rõ rằng chính sách này không thật sự vì sự an sinh của người Thổ dân, và chẳng khi nào tham khảo hay quan tâm gì đến ý kiến của họ. Nó hoàn toàn mang tính cách ép buộc cưỡng bách, mà hậu quả về các mặt đời sống và tinh thần cho đến nay vẫn còn quá sâu đậm. Những sự việc này và các biến động khác xảy ra cho người Thổ dân, kể cả việc mất các mảnh đất truyền thống, đã để lại một di sản văn hoá mang đầy chấn thương tâm lý lẫn thể xác, tình trạng sức khoẻ thì nguy cập (tuổi thọ giữa người Thổ dân và người Úc khác cách nhau 17 năm), và tỷ lệ bị bắt giam và tù tội đối với người Thổ dân là rất cao.

Úc, sau 200 năm định cư và phát triển (dân số hiện nay là 21 triệu, đa số vẫn là gốc Âu Châu), đã trở thành một quốc gia có nền văn minh rất cao, với nhiều lãnh vực như y tế, giáo dục v.v… đứng hàng đầu thế giới. Thế hệ trẻ lớn lên tại Úc có quyền hãnh diện về nước này, một quốc gia đa văn hoá mà trong đó tính chất đa dạng và tinh thần khoan dung được đề cao, một nền kinh tế vững mạnh và một thể chế chính trị dân chủ mà các quyền tự do chính trị đã ăn sâu vào đời sống người dân hơn một trăm năm qua. Nhưng dù có tự hào cách mấy, người trẻ Úc nói riêng và người dân Úc nói chung sẽ nghĩ gì về những chính sách và những dữ kiện không thể chối cãi về sự ngược đãi hay, nói đúng hơn, sự tàn bạo đối với người Thổ dân trong quá khứ?

Thời của ông Fraser, môn lịch sử dạy tại trường hiển nhiên không nói về các dữ kiện xảy ra cho người Thổ dân nêu trên. Thế hệ của ông được dạy rằng Úc là mảnh đất phì nhiêu, trống vắng và chờ đợi người da trắng đến để khai hoang, lập nghiệp và phát triển nó. Trên thực tế thì sự định cư của người da trắng và sự tiếp xúc giữa họ với người Thổ dân rất là cay nghiệt và đẫm máu. Giai đoạn lịch sử này đã và đang được viết lại để phản ảnh “sự thật”, nhưng do các yếu tố chính trị và có lẽ nhất là tâm lý cảm thấy “tội lỗi” và bất an về những gì đã từng được tin một thời với những gì đã thật sự xảy ra đòi hỏi sự thay đổi triệt để để chấp nhận sự thật phủ phàng. Đó là thử thách lớn cho nhiều người, nhất là các thế hệ đi trước, để vượt qua hố ngăn cách đó. Hơn nữa, đối với người da trắng, là người tự hào về sự văn minh và tính nhân bản của mình, thì sự thật của quá khứ này hiển nhiên làm nhiều người bàng hoàng, đẩy họ vào tâm trạng chối bỏ (self-denial) hoặc tội lỗi. Thử nghĩ có những người có công rất lớn đối với nước Úc, có người rất uy tín và ngày nay vẫn còn được tôn kính, nhưng vai trò và sự tham dự trong các chính sách này là một yếu tố khó tin và khó chấp nhận so với tâm thức ngày nay. Hiển nhiên, có những người hoàn toàn chỉ là người thi hành chính sách, làm theo lệnh cấp trên, nên trong các cuộc điều tra, họ thật sự cho biết nỗi đau và hối hận của họ khi phải làm các việc bất lương.

Đối với chính phủ Howard, vì lý do gì mà trong suốt 11 năm cầm quyền đã không chính thức thực hiện lời xin lỗi với người Thổ dân, vẫn là một điều khó hiểu. Ông Howard lên cầm quyền năm 1996 thì đến năm 1997 đã có đầy đủ tài liệu, bằng chứng và báo cáo về những chính sách và hành động sai lầm đó, và trong cương vị Thủ tướng thì ông có được những thông tin hiểu biết nhiều hơn ai hết. Ông cứ viện dẫn lý do rằng các thế hệ hôm nay không có lý do gì phải chịu trách nhiệm về những việc làm sai trái của các thế hệ trước. Đã đành, bởi chẳng ai “bắt” ông phải nhận lỗi lầm về phía mình, về phía chính phủ (hay nội các) của ông, về phía người dân da trắng nói chung hay các thế hệ đang sống tại Úc hôm nay, và thật sự thì cũng không có áp lực nào đòi hỏi phải đem từng nhân vật như Thủ tướng hay Chief Protectors (or Administrators) of Aboriginals hay cảnh sát ra điều tra công tội. Phần lớn các khuynh hướng cổ võ cho việc nói xin lỗi với người Thổ dân chỉ mong: một, sự thật lịch sử cần phải được chính thức công nhận; hai, chính thức xin lỗi người Thổ dân, nhất là những nạn nhân từng bị chính sách đó tàn hại, để tiến đến việc hoà giải; ba, tuy không bắt buộc nhưng có nhu cầu bồi thường (vật chất) đối với những nạn nhân này. Đối với người Thổ dân, ngoài ba điểm nêu trên, phần lớn họ yêu cầu được trả lại các mảnh đất truyền thống và những di sản văn hoá từng bị tướt đoạt trước đây.

Tính cách chính trị của lời xin lỗi

Trong một thập niên qua, càng ngày càng nhiều người Úc hiểu biết về những gì đã xảy ra trong quá khứ, mặc dầu vẫn có chủ trương che đậy hay che dấu sự thật. Vào tháng 5 năm 2000, các cuộc diễn hành trên các chiếc cầu lớn (mang tính biểu tượng nối nhịp cầu thông cảm) của Úc để ghi nhận nhu cầu hoà giải đối với người Thổ dân. Khoảng 250,000 người đi bộ qua cầu Sydney Harbour (Bridge), 25,000 trên cầu Hobart, 50,000 diễn hành ở Brisbane và 55,000 diễn hành ở Adelaide. Theo ông Fraser thì đây là những cuộc diễn hành lớn nhất và ôn hoà nhất trong lịch sử Úc, biểu hiện tinh thần ủng hộ mạnh mẽ đối với nhu cầu hoà giải, và cho thấy cơ hội bình đẳng (mà nước Úc thường dùng chữ ‘fair go’) cần phải được áp dụng cho mọi thành viên của xã hội, đặc biệt đối với những người dân cư từng sống trên mảnh đất này hàng chục ngàn năm trước khi người da trắng đến.

Người dân Úc đã chứng tỏ sẵn sàng nói xin lỗi, nhưng yếu tố đó chưa đủ, bởi vai trò của chính quyền rất quan trọng cho tiến trình hoà giải. Fraser cho rằng chính quyền Úc (chính phủ Howard lúc ông viết bài này) không chịu học hỏi từ Canada (quốc gia đi đầu về chính sách đa văn hoá, đến năm 1998 chính phủ Canada đã công bố Kế hoạch Hành động dành cho người Thổ dân của Canada, chi $350 triệu đô la cho bước đầu hàn gắn và xoa dịu những vết thương đối với người Thổ dân), Tân Tây Lan và Hoa Kỳ. Fraser cho rằng “Nếu sự đối xử người Thổ dân tại Úc bởi người khai hoang da trắng biểu hiện những giây phút tối tăm nhất trong lịch sử Úc, thì việc phủ nhận những điều mà nhiều người Úc cho là những phê bình xác đáng về chính sách của Úc đối với các định chế quốc tế (ý ông phê bình sự can dự của Úc vào cuộc chiến Iraq mà không được Hội đồng Bảo an Liên hiệp Quốc thông qua hay các chính sách di dân đối xử thiếu nhân đạo đối với người tị nạn v.v…), bằng cách đặt chủ nghĩa quốc gia mang tính hiếu chiến ra ngoài và lên trên các quan niệm và lý tưởng về nhân quyền, thì đó là một bước lùi lịch sử mà chúng ta không bao giờ nên làm”. [5] Hơn nữa, đây là một chính quyền có đầy đủ thông tin và dữ kiện, có tài nguyên, thẩm quyền và quyền lực, thì phải có trách nhiệm để hướng dẫn dư luận, lãnh đạo và thuyết phục người dân về nhu cầu hoà giải. Rất tiếc, chính phủ Howard không chia sẻ cái nhìn như thế, nên đợi mãi đến kỳ bầu cử lại cuối năm ngoái khi chính phủ Lao Động (Kevin) Rudd lên thì mới thay đổi nguyên trạng.

Cũng xin mở ngoặc ở đây một chút để nói thêm về quan hệ giữa ông Malcolm Fraser và ông John Howard cũng như về đảng Tự do mà hai ông là đảng viên trên nhiều thập niên qua. Sau khi lên cầm quyền, Thủ tướng Fraser bổ nhiệm ông Howard làm Tổng trưởng Thương Mại và Tiêu thụ Sự vụ (Minister for Business and Consumer Affairs) vào cuối năm 1975, và đến cuối năm 1977 được Fraser bổ nhiệm làm Tổng trưởng Ngân khố (trên thực tế lo về toàn bộ nền kinh tế quốc gia), một trong những người trẻ nhất giữ chức vụ này. Sau thời Tự do (liên minh với Quốc gia) của Fraser (1975-1983) thì đến thời Lao động của Hawke và Keating (1983-1996), rồi trở lại thời Tự do – Quốc gia dưới sự lãnh đạo của Howard (1996-2007). Hiện nay, ông Fraser vẫn tiếp tục là đảng viên của đảng Tự do, và vì ông không ngừng hoạt động cho từ thiện, nhân quyền và chính trị (trên bình diện quốc tế) nên tiếng nói của ông vẫn tiếp tục ảnh hưởng trên nhiều phương diện. Hiển nhiên ông không phải là một Thái Thượng Hoàng, điều không hề có trong văn hoá chính trị của các thể chế dân chủ đích thực, nhất là đối với Tây phương. Mặc dù hai ông ngày nay có nhiều quan điểm khác nhau nhưng vẫn ở trong cùng một đảng chính trị. Nhưng với cá tính mạnh mẽ và tự tin, Fraser dám nói thẳng nói thật, và thẳng thắn phê bình bất cứ ai đi ngược lại các nguyên tắc tự do, dân chủ và nhân quyền, vì đó là nền tảng ý thức hệ tự do phóng khoáng (liberalism) mà đảng Tự do được xây dựng lên (do cựu Thủ tướng Robert Menzies sáng lập tháng 2 năm 1945, tiền thân là Đảng Thống Nhất Úc – the United Australia Party – thành lập năm 1931). Trong tác phẩm Common Ground, và trong nhiều dịp đi thuyết trình ở các đại học, ra mắt sách hay vận động cho nhân quyền hay hoà giải với người Thổ dân, Fraser đã không ngần ngại nói ra những điểm khác biệt hay bất đồng của mình với đảng Tự do hay với chính phủ Howard. Sau khi đảng Tự do thua đậm đảng Lao động vào kỳ bầu cử cuối năm ngoái, xét thấy không cần phê bình Howard hay đảng Tự do ở cấp liên bang vì đã thất cử, Fraser quay sang phê bình đảng Tự do ở cấp tiểu bang (Victoria, nơi ông cư ngụ) bằng một bài viết đến báo The Age ngày 11/2/2008. [6] Cũng một lập trường nhất quán, Fraser kêu gọi (chủ yếu đảng viên của đảng Tự do qua việc vận dụng truyền thông đại chúng) xem xét kỹ lưỡng để chỉnh đốn đảng Tự do tại tiểu bang Victoria (nếu không sẽ mãi ở thế đối lập thay vì cầm quyền), và cổ võ đức tính nói thẳng những gì suy nghĩ và mở rộng sự tranh luận công khai về các chính sách, và đề cao tính độc lập suy nghĩ cũng như các nguyên tắc của chủ nghĩa (tự do) phóng khoáng v.v… Ông quan ngại rằng suốt thời của Menzies đến thời của ông, đảng Tự do tại Victoria có khoảng 30,000 đảng viên, nay chỉ còn khoảng 11,000 đảng viên. Ông đưa ra những đề nghị nhằm cải tổ sâu sắc các nguyên tắc và cung cách hành xử cho đảng Tự do. Tất nhiên, sự thẳng thắn của ông sẽ làm nhiều người (trong đảng Tự do) phiền phức và bực mình, và có khi coi ông như phản đảng không chừng, nhưng tính thuyết phục và uy tín của ông không phải là nhỏ.

Trở lại chủ trương hoà giải với người Thổ dân, thì trước cuộc bầu cử liên bang năm ngoái, ông Kevin Rudd hứa là nếu thắng cử sẽ tiến hành chính thức nói xin lỗi. Trong những tuần qua, chính phủ Rudd đã chuẩn bị ráo riết cho sự kiện này, đặc biệt Tổng trưởng Thổ dân Sự vụ Jenny Macklin đã tham khảo sâu rộng đại diện của các sắc tộc Thổ dân khác nhau để tìm hiểu nguyện vọng và ý kiến của họ hầu thảo ra một tuyên bố với nội dung đúng đắn và ngôn từ thích hợp được công bố ngày Thứ Tư 13/2/2008. Đây là ngày thứ ba mà quốc hội Úc trở lại hoạt động sau kỳ nghỉ lễ Giáng sinh và Năm mới đến nay, và ngày này đã được chọn để chính phủ công bố đến toàn thể dân Úc văn bản nói lời xin lỗi, đặc biệt đối với “thế hệ bị đánh cắp”. Điều may mắn là Thủ tướng Rudd không cần phải dầy công thuyết phục dân Úc ủng hộ chủ trương này bởi đa số người Úc đã sẵn sàng. Cuộc thăm dò mới đây xác định có hai phần ba người Úc ủng hộ lời xin lỗi. Trong nhiều cuộc thăm dò khác, đa số (hơn 50%) người Úc, nhất là giới trẻ, ủng hộ một lá cờ Úc mới thay thế cho cờ hiện tại vì họ cho rằng biểu tượng hiện nay không thật sự đại diện cho nước Úc như là một quốc gia dân tộc trưởng thành.

Điều đáng trách, và có lẽ hơi buồn cười nữa, là thái độ của một số chính trị gia, đặc biệt của Thủ lãnh Đối lập Brendan Nelson, về việc nói xin lỗi. Hơn hai tuần qua, ông Nelson vẫn chưa tán thành nói xin lỗi, và giống vị tiền nhiệm Howard, Nelson lập luận rằng thế hệ hôm nay không nên chịu trách nhiệm đối với những sai lầm của thế hệ trước. Sau nhiều áp lực, và có lẽ phần chính là do dư luận Úc phần lớn sẵn sàng ủng hộ lời xin lỗi và hơn nữa nhiều đảng viên và lãnh đạo khác của đảng Tự do cũng tán thành sự chính đáng này, nên sau đó ông Nelson đòi hỏi phải được xem nguyên văn lời xin lỗi rồi mới quyết định. Tuy đây là một đòi hỏi hợp lý nhưng nó là một chiến thuật chính trị dở, cho thấy sự thiếu thành tâm về vấn đề này. Nếu muốn thì ông Nelson vẫn có thể khẳng định rằng chúng tôi (đảng Tự do) tán thành lời xin lỗi, nhưng nội dung của văn bản này là rất quan trọng trong toàn chủ trương hoà giải với người Thổ dân, do đó chúng tôi muốn đọc và góp ý bản văn cho hoàn chỉnh. Vì tính cách lưỡng lự đó nên trong cuộc phỏng vấn 7:30 Report với đài truyền hình ABC, Thủ tướng Rudd đã lý luận rằng hoặc là nói xin lỗi, hoặc là không, đơn giản chỉ có thế, mà lập trường của chúng tôi trước khi bầu cử cho đến nay vẫn vậy, là nói xin lỗi và tiến bước; còn văn bản thì đang được đúc kết để phản ảnh đúng tinh thần cần thiết. Đối với ông Rudd, nói xin lỗi, khoan nói đến việc bồi thường, là một biểu tượng quan trọng để “xây dựng một nhịp cầu kính trọng (lẫn nhau)”. Và ông sẽ nói xin lỗi với tư cách là Thủ tướng Úc, đại diện cho chính quyền Úc, và tất nhiên sẽ khẳng định rằng thế hệ người dân Úc hôm nay không có lỗi gì hết đối với những hậu quả mà các chính quyền trước đã gây ra. Ông Rudd và bà Macklin hy vọng rằng tất cả các thành viên của quốc hội Úc thuộc mọi đảng phái và khuynh hướng chính trị sẽ phát biểu ủng hộ lời xin lỗi này tại quốc hội Úc sau lời phát biểu của ông Rudd vào sáng Thứ Tư 13/2/2008.

Vài suy nghĩ kết luận

Sự giết chóc tàn bạo, sự phân biệt tàn nhẫn, sự đối xử tàn tệ… kéo dài gần 200 năm (1788-1970) đối với người Thổ dân, dù họ không có nền văn minh văn hoá cao hay giống người Âu Châu, tất nhiên xứng đáng hơn lời xin lỗi. Nhất là trong thời đại nay, mọi người phải được cơ hội bình đẳng để sống xứng đáng với nhân phẩm của mình như mọi người khác trên thế gian này. Nhìn như thế thì lời tạ lỗi nếu đến sớm hơn thì ý nghĩa biết mấy, ít nhất là sẽ xoa dịu bớt những vết thương chưa lành.

Nhiều trí thức khoa bảng và ký giả truyền thông gạo cội của Úc cho rằng đáng lẽ việc làm này được thực hiện sớm hơn, bởi đây là trách nhiệm đối với lịch sử, và nó thể hiện sự liêm chính đứng đắn cần phải có, và nó là sự cần thiết để xoa dịu nỗi đau còn rên rỉ trong lòng người. Những người Thổ dân, một số thuộc thế hệ bị đánh mất, cho biết họ mong chờ ngày này từ lâu nay. Nói xin lỗi, về việc làm trước đây, đối với họ “có ý nghĩa đồng cảm, tình thương và hiểu biết” và chính thức chấp nhận quá khứ của quốc gia này.

Được biết ngoài những người Thổ dân trên khắp nước Úc và những người Úc khác hỗ trợ mạnh mẽ cho tiến trình hoà giải này về Canberra tham dự vào Thứ Ba và Thứ Tư 12-13/2/2008 còn có hơn 100 người thuộc “thế hệ bị đánh cắp” sẽ có mặt để chứng kiến.

Bài học cho tiến trình hoà giải của Úc, theo tôi, là sự can đảm của thế hệ Úc hôm nay, điển hình nhất là tấm gương của ông Malcolm Fraser cùng bao người can trường khác, nhìn thẳng vào vấn đề và xác định rằng các thế hệ đi trước đã làm sai, nay cần phải công nhận, và nỗ lực vận động mọi người, kể cả chính quyền, chấp nhận và thực hiện lời xin lỗi. Biết nhận lỗi là bước đầu của tiến trình hoà giải. Không nhận lỗi thì mọi nỗ lực hoà giải chỉ là vá víu và tượng trưng, và sự hận thù khó thể nào vượt qua và các vết thương khó thể nào lành lặn. Để thật sự nhận lỗi thì phải dám nhìn thẳng vào sự thật, chấp nhận những gì đã xảy ra, và không phủ nhận hay tránh né trách nhiệm thuộc về mình hay dân tộc của mình. Làm được những điều trên hẳn nhiên không dễ chút nào, nhiều khi cần phải “lột xác” tư tưởng, hay phải đặt mình vào vị trí của nạn nhân để hiểu biết và thông cảm, hay phải có tình thương và sự bao dung để vượt qua chính mình. Làm được như thế, tôi đồng ý với ông Fraser rằng, nước Úc sẽ trở nên mạnh hơn chứ không yếu đi, sẽ đoàn kết hơn chứ không chia rẽ, và tiến về phía trước dễ hơn chứ không bị gánh nặng của quá khứ đeo đuổi mãi. Với quan niệm như thế, tôi lạc quan tin rằng nước Úc sẽ luôn chan chứa tình người và sẽ vững tiến bằng những chính sách đúng đắn và tiến bộ trong thế kỷ này.

Melbourne 12/02/2008

© 2008 talawas


[1]Tiểu sử về ông Malcolm Fraser có thể được tìm hiểu trên trang http://en.wikipedia.org/wiki/Malcolm_Fraserhttp://www.unimelb.edu.au/malcolmfraser/. Liên hệ đến người Việt thì bài Chủ nghĩa phóng khoáng đăng trên Talawas (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10533&rb=0301) có đề cập một số chi tiết chính về ông.
[2]Nội dung chính của phần này là dựa trên chương 7: Hoà Giải: Quá Khứ Chúng Ta Cần Hiểu Biết (Reconciliation: The Past We Need to Understand) của chính ông Malcolm Fraser trong tác phẩm “Common Ground: Issues that should bind and not divide us” do nhà xuất bản Viking (The Penguin Group) phát hành vào năm 2002.
[3]Report of the National Inquiry into the Separation of Aboriginal and Torres Strait Islander Children from Their Families, April 1997, http://www.hreoc.gov.au/social_justice/bth_report/report/index.html.
[4]Xin đọc bản báo cáo trên hoặc bài “Stolen birthrights” của báo The Economist, số ra ngày 31/1/2008, có thể đọc ở trang web http://www.economist.com/world/asia/displaystory.cfm?story_id=10608877.
[5]Malcolm Fraser, Common Ground: Issues that should bind and not divide us, …, trang 223.
[6]Malcolm Fraser, “How to revive a party that seems to be stuck in opposition”, The Age, 11/2/2008, có thể tham khảo tại http://www.theage.com.au/news/opinion/how-to-revive-a-party-stuck-in-opposition/2008/02/10/1202578597189.html và Paul Austin, “Libs need drastic fix, says Fraser”, The Age, 11/2/2008, có thể tham khảo tại http://www.theage.com.au/news/national/libs-need-drastic-fix-says-fraser/2008/02/10/1202578601332.html.

 
© talawas 2026