Nguyễn Ngọc Giao
Bouda là cái tên tắt mà giới Việt học năm châu cũng như những bạn bè Việt Nam vẫn quen dùng để gọi Georges Boudarel, nhà sử học, nguyên giảng sư Trường đại học Denis Diderot (Paris 7). Gọi tắt cho dễ nhớ, nhưng trong trường hợp này, không phải chỉ có vậy. Bouda (bu-đa) nghe âm hao như Bouddha (tiếng Pháp nghĩa là Phật). Bạn bè mỗi lần nói tới Bouda, thường mỉm cười, nhớ tới con người chân thực, hiền lành mà cuộc đời là cả một nỗi đam mê: đam mê Việt Nam.
Tháng 12 này, Bouda sẽ vừa đúng 75 tuổi. Chưa ai có thời giờ và điều kiện làm một thư mục hoàn chỉnh các công trình nghiên cứu, trước tác và biên dịch của G.Boudarel, nhưng chỉ thoáng nhìn danh mục sơ lược, người ta cũng thấy sự đa dạng của sự nghiệp, phản ánh sự tò mò và ham mê “vô độ” của Bouda đối với bất cứ cái gì liên quan tới Việt Nam. Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh, Giáp, Việc làng, chế độ ruộng đất qua các thời đại, Chí Phèo, Dế Mèn phiêu lưu ký, Cải cách ruộng đất, hội làng, Vụ án Nhân văn Giai phẩm, những tabu cấm kị, nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt, tự do tính dục ở làng xã Việt cổ truyền…Sự ham mê của con người ấy còn thể hiện rõ rệt trong tủ sách và kho tư liệu đồ sộ mà ông đã tích luỹ từ hơn bốn chục năm nay, một gia sản quý báu mà trong giới Việt Nam học, ai cũng mong sẽ được bảo tồn và quản lí tốt để một ngày kia, những người nghiên cứu về Việt Nam có thể tham khảo trong một thư viện công cộng.
Bình thường, đây là dịp để giới đồng nghiệp và bạn bè họp mặt mừng thọ Bouda, và có ý nghĩa hơn, xuất bản một tập sách vinh danh một cuộc đời tận tuỵ nghiên cứu.
Song cố nhiên, số phận của Bouda không bình thường. Hôm qua, tới thăm ông, tôi đùa: anh ra đời dưới một ngôi sao xấu, cắc cớ gì mà anh sinh cùng ngày cùng tháng với.. Stalin!
Bouda sẽ “mừng” sinh nhật thứ 75 của mình tại một nhà dưỡng lão ở ngoại ô phía bắc Paris, không xa lắm căn hộ đầy ứ sách báo, tư liệu, mà từ hơn ba năm rưỡi nay, ông không được ngày ngày nhìn thấy, tra tìm…Sau một lần mổ và hai cơn tai biến mạch máu não, ông đã phải nằm bệnh viện hơn hai năm, và từ mùa thu năm 2000, phải thường trú nhà dưỡng lão. Điều kiện vật chất không có gì đáng nói, cũng như sự tận tuỵ của nhân viên phục dưỡng, song rõ ràng đây không phải là nơi lý tưởng cho một con người của sách vở, đầu óc còn minh mẫn, sự tò mò còn nguyên khôi, nhưng ăn nói khó khăn, đi đứng không được.
Không thể nói tuỳ tiện rằng Bouda lâm bệnh vì “vụ án Boudarel” do phái cực hữu Pháp gây ra cách đây 10 năm, với sự a tòng của phần lớn phái hữu. Song có thể nói chắc: suốt mấy năm liên tiếp phải đương đầu với những đợt vu khống, mạ lị được các phương tiện media truyền thông khuếch âm ầm ĩ, đấu tranh qua các vụ kiện (kể cả khiếu kiện với Bộ giáo dục về số năm làm việc để tính tiền hưu bổng), phải sống liên tục trong bầu không khí căng thẳng (chung cư nơi ông ở nhiều lần bị vẽ khẩu hiệu mạ lị, có lần bị bắn nhiều viên đạn), sức khoẻ của G.Boudarel đã suy giảm trông thấy. Đáng buồn hơn nữa, ông bị tổn thương tinh thần khi thấy trong những người phái tả, một thời cực tả, sẵn sàng “chống đế quốc Mĩ tới người Việt Nam cuối cùng“, có người đã quay ngược 180 độ, coi Bouda như là “đồ tể” của trại tù binh 113 ở chiến khu Việt Bắc. Và trong khi đó, ở Việt Nam, bạn kháng chiến của Bouda viết bài bênh vực, báo Lao Động đăng được một kì thì ngưng, vì có lệnh điện thoại của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh (“Y ta đang viết sách nói xấu ta, cho đáng kiếp!“). “Y ta” không phải là người xa lạ với ông Mười Cúc: năm 1948, khi giáo sư triết học trường Marie Curie Sài Gòn G.Boudarel chống cuộc chiến tranh “bẩn thỉu” bằng cách ra bưng tham gia kháng chiến, ông đã gặp tổng bí thư tương lai.
Làm việc tại Cục địch vận và Ban Pháp ngữ Đài phát thanh Nam Bộ kháng chiến, rồi đi bộ từ chiến khu Đ dọc miền Trung qua Thanh Hoá, lên Việt Bắc, làm phụ tá cho trại trưởng trại tù binh 113. Công việc, về nguyên tắc, đơn giản thôi: giải thích cho binh sĩ Pháp thực chất cuộc chiến tranh thực dân, và khuyên họ ký kiến nghị đòi hoà bình. Trên thực tế, phức tạp hơn: sương lam chướng khí, không thuốc men, ăn uống thiếu thốn (mặc dầu khẩu phần tù binh Pháp cao hơn khẩu phần bộ đội), tỉ lệ tử vong rất cao. Về mặt tinh thần, trong binh sĩ Pháp, không thiếu người đầu óc còn mê muội (và kiêu căng), và nội bộ tù binh bị xâu xé trong những mâu thuẫn triền miên: người “thoả hiệp” ít thì trách người “thoả hiệp” nhiều, lên án họ là “đầu hàng”…Những ân oán giang hồ ấy tích tụ, chồng chất ba bốn chục năm trời trong hàng ngũ các “hội cựu tù binh ở Đông dương”. Đến tháng 2.1991, chiến tranh vùng Vịnh bùng nổ trên hoang tàn của chiến tranh lạnh, họ tìm ra bung xung lí tưởng: Georges Boudarel. Người ta đoàn kết lại trên lưng một con người không có “tội” gì khác hơn là muốn việc làm và lời nói đi đôi với nhau, phù hợp với lý tưởng tự do, công bằng. Chàng trai trẻ vùng Trung Pháp, xuất thân từ tiểu chủng viện, đang hăng say với lý tưởng thế giới đại đồng, có thể đã quá hăng say và đơn giản trong những cuộc đấu lý với mấy đồng bào ương ngạnh, nhưng chứng từ của những tù binh Pháp thực sự đã ở trại 113 đều nhất trí: không bao giờ Boudarel đối xử tệ với họ (có người đã trở thành bạn của ông). Điều mỉa mai là tiếp tục sự gắn bó với Việt Nam, sau bao nhiêu năm hết mình ủng hộ Việt Nam giành độc lập và thống nhất, Bouda lại tận tuỵ ủng hộ những tiếng nói chủ trương dân chủ hoá đời sống chính trị Việt Nam.
Điều đó ông cựu bộ trưởng J.Beucler không cần biết. Cũng như những năm làm bộ trưởng, ông không hề đấu tranh để đồng đội được hưởng quy chế cựu tù binh (phải đợi đến khi đảng xã hội Pháp lên cầm quyền, quy chế này mới được áp dụng). Boudarel trở thành vật tế thần thuận tiện để ông xí xoá chuyện cũ. Từ nay, trên hoang tàn của Liên Xô, những người lính của đạo quân thực dân thất trận năm xưa nghiễm nhiên trở thành những “chiến sĩ của tự do” (họ chia sẻ danh giá ấy với các chiến sĩ “Hồi giáo” của Usama bin Laden được CIA vũ trang và tài trợ bằng buôn ma tuý). Đó cũng là chuyện dễ hiểu, đời là thế. Khó hiểu hơn một chút là sự tê liệt và á khẩu của đa phần phái tả Pháp trong những ngày Bouda hầu như phải đơn phương độc mã chống trả cái mà chính một chính khách phái hữu (ông F.Léotard) đã gọi rất đúng là “lynchage média–tique” (xử tử hội đồng bằng tivi).
Hầu như đơn độc thôi, vì may thay, suốt mười năm dài, bên cạnh Bouda đã thành hình một uỷ ban ủng hộ, mà ở hàng đầu phải kể tới hai nhà toán học, bạn chí cốt của Việt Nam, bà Hélène và ông Laurent Schwartz (L.Schwartz, cha đẻ của thuyết phân bố / théorie des distributions, giải thưởng Fields, thành viên Viện hàn lâm khoa học Pháp, người đã thành lập các Uỷ ban Việt Nam thập niên 1960). Cùng với hai người bạn già kiên trung, là một nhóm bạn âm thầm, thường xuyên tới bệnh viện rồi nhà dưỡng lão…, người có thời giờ thì giúp giấy tờ (một mớ bòng bong), người ít thời giờ thì trò chuyện giải khuây, nhiều người không biết nhau mà chỉ tình cờ nghe thấy nói tới tên…
Cho đến một ngày mới đây, hội Les Amis de Bouda được thành lập [1] , họ mới gặp nhau. Để tìm cách thực hiện một mục đích khiêm tốn: có mặt bên cạnh một con người đáng quý, tìm cách giúp ông giải quyết những rối rắm giấy tờ hành chính, tài chính, để Bouda ổn định cuộc sống, và trong chừng mực có thể, hoàn thành một số công trình nghiên cứu mà ông đã bắt đầu trước ngày lâm bệnh [2] . Có lẽ đó là món quà thiết thực mà những người bạn quen và chưa quen có thể gửi tới Bouda nhân ngày sinh thứ 75 của ông [3] .
20.12.2001
[1]Les Amis de Bouda, Association Loi 1901 (Journal Officiel, 18 août 2001), 76 rue Charlot, 75003 PARIS, Email : boudarel@wanadoo.fr
Một ban trị sự của hội đã được thành lập, gồm Laurent Schwartz (chủ tịch danh dự), Jeanine Gillon (chủ tịch), Catherine Derivery (tổng thư kí), Heinrich Schütte (thủ quỹ), Christopher Goscha, Nguyễn Ngọc Giao, Jean-Claude Serex.
Ghi tên vào hội : gửi về địa chỉ trên, cùng với niên liễm 100F
(hội viên) hay 500F (hội viên ân nhân).
Bạn bè ở xa (quen hay chưa quen) có thể viết thư thăm hỏi qua địa chỉ bưu điện hay địa chỉ điện tử ở trên.
[2]Đầu năm nay, Tạp chí Nghiên cứu Việt Nam (Etudes Vietnamiennes, số 1-2001) đã ra số đặc biệt đăng những bài viết của G.Boudarel về Tabous et autres coutumes du Viet-nam.
[3]Vừa qua, Hội đồng Nhà nước (Toà án hành chính tối cao) đã xử thắng cho Bouda trong vụ khiếu kiện Bộ giáo dục về hưu bổng. Lương hưu của ông từ nay đủ để trang trải chi phí ở nhà dưỡng lão và những chi tiêu bình thường khác.