Phạm Viết Đào
1. WTO – Không chỉ là một sân chơi kinh tế!
Chúng ta đã gia nhập WTO, đã tham gia một “sân chơi” với sự góp mặt của 150 quốc gia thành viên. Khi góp mặt vào “sân chơi” này, trước tiên chúng ta chấp thuận những “luật chơi” chủ yếu quy định trong các hoạt động giao lưu kinh tế – thương mại.
Bên cạnh các hợp đồng kinh tế, các quan hệ trao đổi kinh tế – thương mại sẽ được mở rộng cửa để có cơ hội ký kết nhiều hơn, vậy thì điều gì sẽ xảy đến sau cái được bình đẳng này?! Nhiều ý kiến hiện nay chủ yếu mới đề cập về “mặt kinh tế” của vấn đề hậu WTO: rằng rất ít quốc gia khi tham gia vào tổ chức này lại bị nghèo đi. Đó là một thực tế, nhưng nên nhớ WTO cũng không phải là một “cây gậy thần” mà ai sở hữu được nó đều có thế biến không thành có, biến một nền kinh tế hủ bại trong phút chốc trở thành “rồng, phượng”… Nhiều quốc gia đã gia nhập vào tổ chức này trước ta như một số nước Đông Âu, Mỹ La tinh, châu Phi nhưng hiện họ cũng vẫn còn chật vật lắm trong công cuộc mưu sinh, đi tìm lợi lộc trong các quan hệ giao lưu đổi chác về kinh tế trước một thế giới ngày càng trở nên của khó, ít người dại… Tóm lại rất không ít quốc gia khi tham gia vào tổ chức này rồi nhưng tốc độ tăng trưởng và các chỉ số an sinh xã hội không nhúc nhích chuyển động tăng lên được là bao. Không ít quốc gia tham gia sân chơi này để vui và oai là chính.
Về phía chúng ta điều mà nhiều người mừng là nhiều hàng hoá của Việt Nam có lợi thế xuất khẩu khi tham gia vào tổ chức này từ nay sẽ không bị chèn ép bởi hạn ngạch và những hàng rào thuế quan phi lý. Nhưng để tránh được sự thua thiệt này chúng ta lại phải đánh đổi những điều không kém phần quan trọng khác đó là: chúng ta phải hạ mức thuế đối với nhiều mặt hàng nhập khẩu, thậm chí có những loại thuế suất bằng 0!
Những sản phẩm có lợi thế xuất khẩu của chúng ta chủ yếu là nông, thuỷ, hải sản, những hàng gia công, thủ công mỹ nghệ, nguyên liệu chưa qua chế biến; trong khi đó những sản phẩm nhập khẩu thường là máy móc, những thiết bị công nghệ cao, đắt tiền, những chế phẩm công nghiệp! Người Trung Quốc có câu chuyện “Tái Ông mất ngựa” , một câu chuyện khá lý thú luận về chuyện may rủi, được mất ở đời. Cái sự mất này đôi khi là tiền đề cho cái được kia và ngược lại. Trong bài viết này chúng tôi muốn đề cập tới “mặt văn hoá” của vấn đề hậu WTO, theo chúng tôi nếu chúng ta không sớm đưa vấn đề này ra bàn thảo, tìm đối sách và quốc sách để có thể biến thách thức thành lợi thế thì có khi lợi thế lại biến thành thách thức… Nếu cứ cắm đầu cắm cổ rượt theo những lợi ích kinh tế hữu hình mà sao nhãng, thiếu cách nhìn cân bằng để đầu tư thích đáng, tạo những tiền đề vững chắc cho việc thiết lập, củng cố và tôn vinh những giá trị nhân văn truyền thống thuộc về lợi thế của dân tộc và thả nổi khiến chúng bị lung lay, bật gốc rễ, hoặc bị méo mó biến dạng thì quả thật chúng ta đã biến lợi thế về kinh tế -thương mại thành những thách thức những giá trị truyền thồng – nhân văn truyền đời.
Cha ông ta đã từng có câu:
Ăn cơm mắm cáy thì ngáy o o
Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy…
Theo chúng tôi đây là một sự đúc kết chí lý, chí tình về những vấn nạn, những mặt trái của của đồng tiền – một động lực của nền kinh tế thị trường, của sự thật “làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền” như Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều.
Tại cuộc chiến Việt Nam, Mỹ thua là thua về văn hoá chứ không thua về sức mạnh vật chất, súng đạn, tiền của. Chính văn hoá mới là thứ đã hun đúc nên những anh hùng như Đặng Thuỳ Trâm chứ không phải những lợi ích vật chất. Mỹ thua bởi phải đương đầu với những con người như vậy.
Nêu vấn đề này lên, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng: tham gia WTO tức là chúng ta chấp nhận chơi với 150 ông bạn trên toàn cầu; quan hệ giao lưu này về thực chất là quan hệ đổi chác, có đi có lại, “ông đưa chân giò, bà thò chai rượu”. Vấn đề đặt ra là: chúng ta đừng đổi cái mạnh của mình để đi chuốc lấy cái mà người ta đang thải ra. Đổi chác thì chí ít phải ngang giá, hoặc không làm thiệt hại đến cái toàn cục lâu dài, không “tham đĩa bỏ mâm”… Đó thường là những vấp váp của những nền kinh tế nhỏ khi tham gia vào cuộc chơi kinh tế thị trường: lú loá trước những quyền lợi thiển cận, trước mắt…
Một nền sản xuất như Marx nói: vừa sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng đồng thời lại sản xuất ra người tiêu dùng, sản xuất ra phương thức tiêu dùng. Khi chúng ta chấp nhận giao lưu với 150 nền kinh tế, tức là chúng ta chấp nhận trao đổi với 150 nền sản xuất, 150 kiểu suy nghĩ khác nhau về đồng tiền, 150 phương thức kiếm tiền, tiêu tiến, sử dụng đồng tiền; 150 phong tục tập quán, lối sống khác nhau được ẩn, mã hoá đằng sau những nhãn mác hàng hoá, những hợp đồng kinh tế, những đồng tiền đầu tư, cho vay… Người Việt có câu: đồng tiền liền khúc ruột, theo chúng tôi đấy là một đúc kết thần kỳ về mối quan hệ khăng khít giữa đồng tiền với văn hoá, đồng tiền và nhân phẩm. Marx từng lập luận: Tiền-Hàng là hai mệnh đề không thể tách rời trong học thuyết Tư bản của ông; một mệnh đề, một công thức được ông dành cả một bộ sách gần ngàn trang để mổ xẻ về nó, đúc kết nó, tìm ra quy luật khách quan và nội tại của cái trục xoay của cả một guồng quay. Sự phân tích của Marx người đời sau tôn lên thành học thuyết và nhiều ý kiến cho rằng: chủ nghĩa tư bản tồn tại đến ngày này là nhờ biết vận dụng, điều chỉnh những mặt trái của quan hệ Tiền-Hàng được Marx phân tích, chỉ giáo từ khi chủ nghĩa tư bản đang ở giai đoạn sơ khai, hoang dã…
Đối với một xã hội phương Đông như Việt Nam thì mệnh đề: Tiền-Hàng của Marx cần được bổ sung thêm vế: Nhân phẩm.
2. Tiền-Hàng và Nhân phẩm trong sân chơi thị trường
Đối với Marx, một nền sản xuất tư bản chủ nghĩa về bản chất chỉ xoay quanh cái trục xoay Tiền-Hàng; đối với người Việt Nam, phương thức sản xuất Việt Nam lại có khái niệm Tiền-Của, đối với người Việt nó rộng nghĩa hơn khái niệm Tiền-Hàng mà Marx đề cập trong học thuyết Tư bản. Khái niệm Tiền-Hàng của Marx chỉ là một khái niệm hàm chứa những giá trị vật chất, kinh tế lạnh lùng, còn khái niệm Tiền-Của-Của cải của Việt Nam lại hàm chứa bên trong ngoài giá trị vật chất còn có giá trị tinh thần, đạo lý. Của cải không đơn thuần chỉ mang giá trị vật chất, giá trị hàng hoá như định nghĩa trong Tư bản luận. Chính vì thế nên mới có chuyện: của đau, con xót, đồng tiền liền khúc ruột…
Chỉ ở Việt Nam mới có lệ tục thờ tổ nghề, chiêm bái tổ nghề, nhiều vùng miền tôn thờ một người có công mở mang ra một nghề nào đó thành thành hoàng, cho dù hiện tại nghề đó đã mai một không còn tồn tại sung mãn như xưa nữa: Nghề làn giấy gió ở Bưởi, nghề đúc đồng ở Ngũ Xã… Ở một số nước cũng có một vài quốc gia lưu giữ tổ nghề nhưng với mục đích khai thác du lịch chứ không nhằm mục đích bái vọng như ở ta. Như vậy hàng hoá, đồng tiền đối với người Việt Nam nó còn có một thứ ẩn đằng sau đó là linh hồn, nhân phẩm của người làm ra của cải.
Trong cơ chế thị trường thì xương sống của quan hệ Tiền-Hàng là quy luật giá trị vật chất được thăng hoa thành lợi nhuận. Khi một hợp đồng kinh tế, một mối quan hệ đối tác làm ăn, một dự án đầu tư hay cho vay nếu không mang lại lợi nhuận, tức là không còn giá trị sử dụng, không mang lại hiệu quả kinh tề thì tất cả các mối quan hệ này sẽ tự tan, không có cơ sở tồn tại sẽ bị xoá đi làm lại; thuật ngữ kinh tế thường dùng khái niệm: thanh lý, tức là xoá đi làm lại…
Khi chúng ta tham gia vào sân chơi WTO thì một áp lực rất lớn sẽ đè lên toàn bộ các quan hệ của cả hệ thống chính trị – xã hội – kinh tế của Việt Nam: cái gì không có lợi nhuận, không mang lại hiệu quả kinh tế, không có sức cạnh tranh về kinh tế thì dần dần sẽ bị đào thải… Lĩnh vực nào sản xuất được sản phẩm có sức cạnh tranh trên thương trường trong và ngoài nước, mang lại nhiều lợi nhuận cho nhà sản xuất, đóng góp nhiều cho xã hội sẽ được tôn vinh, sẽ phất lên. Đó là “mặt phải”, là mặt mặt tiền của giá trị. Bên cạnh cái “mặt phải” chúng ta không thể không nói đến những “ mặt trái”, của đồng tiền, mặt trái của cơ chế: tất cả để bán, tất cả đều định giá qua đồng tiền. Điều này có vẻ không thuận với nhiều giá trị mà văn hoá đặt ra: không phải tất cả cái gì cũng có thể quy ra tiền, dùng tiền làm thước đo, chuẩn mực, làm ra tiền bằng mọi giá:
Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử
Hết cơm hết rượu hết ông tôi…
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Đây là một sự thúc ép nghiệt ngã, sòng phẳng, nhỡn tiền của đồng tiền; chính sự thôi thúc này mà đẻ ra nạn tham nhũng, kinh doanh quyền chức, tham ô, móc ngoặc, hối lộ, làm hàng giả, buôn bán bất hợp pháp trong đó có heroin, hình thành nên những tổ chức mafia lũng đoạn nhà nước – kiếm tiền không thông qua lao động sản xuất hàng hoá mà bằng những đường ngang, lối tắt. Lợi nhuận kinh tế đã xô đẩy nhiều kẻ sẵn sàng dẫm đạp lên tất cả kể cả những luân thường đạo lý, những giá trị tinh thần truyền đời của dân tộc, bán rẻ những quyền lợi của dân tộc, huỷ hoại thiên nhiên môi trường sống cả về tự nhiên và xã hội để cốt vinh thân phì gia, để có cái mà ăn mảnh cho gia đình mình, ekip của mình, sẵn sàng treo cổ cả bố mình nếu lợi nhuận thu được lên tới 300 % như Marx nói…
Hiện tượng Bùi Tiến Dũng, Mai Văn Dâu, Nguyễn Việt Tiến cho thấy phần nào sự bất cập trong chính sách quản lý xã hội, quản lý nền kinh tế, quản lý con người, quản lý đội ngũ công – quan chức của các cơ quan chức năng của nhà nước; sự kém cỏi của việc chọn mặt gửi vàng, giao tay hòm chìa khoá của những yết hầu kinh tế vào tay những con người không đủ độ tin cậy.
Việt Nam gia nhập cuộc chơi WTO nhưng trong các văn kiện chính thống vẫn ghi: Văn hoá, chứ không phải Tiền – Hàng, là động lực phát triển xã hội; như vậy bài toán đặt ra ở đây là chúng ta cần tránh mọi sự cực đoan: đẩy đồng tiền lên vị trí thống soái, chi phối hết thảy, đầu tư xây dựng, vận hành một guồng máy kinh tế – xã hội lấy đồng tiền làm kim chỉ nam; ngược lại cũng lại phải tránh những hành động duy ý chí, đầu tư tiền của vào những cơ sở kinh tế mà bất chấp những quy luật cung cầu, giá trị; cả hai thái cực này đều có thể dẫn tới hoặc chúng ta tự thải loại mình ra khỏi gốc rễ những giá trị truyền thống của dân tộc, hoặc chúng ta tự loại mình ra khỏi sân chơi WTO. Cả 2 thách thức này là có thật và chúng ta phải cân bằng và dung hoà, đồng thuận như thế nào mà không đe dọa làm thui chột những giá trị truyền đời làm biến dạng đời sống tinh thần dân tộc.
Đây là một bài toán nan giải mà hiện chúng ta đang mày mò đi tìm những phương án, đáp án tối ưu. Chúng ta là nước đi sau, việc đầu tiên là phải học cách chơi, biết cách chơi. Bài học đầu tiên cần để tâm, cần tính đến là phải nhìn cho ra cho thấu đáo những mặt tiêu cực những mặt hạn chế mà những nước đi trước ta đã mắc phải, đã phải trả giá khi tham gia vào sân chơi WTO. Muốn có bài học đó chúng ta phải có đầy đủ thông tin, phải có bộ lọc thông tin tốt, phải xây dựng bộ máy sàng lọc tin. Không ngẫu nhiên nhiều nước trong đó có những quốc gia từng là cái nôi của văn minh nhân loại như Hy Lạp lại quyết liệt chống lại xu hướng toàn cầu hoá.Tôi đã từng tham gia một cuộc hội thảo quốc tế bàn về Chủ đề toàn cầu hoá về mặt văn hoá được tổ chức tại Neptun-Rumani năm 2004; tại diễn đàn này nhiều nhà văn phương Tây đã lên diễn đàn tuyên bố: Toàn cầu hoá thực chất là Mỹ hoá; châu Âu cần đoàn kết để chống lại ách nô dịch của phim ảnh Mỹ, của “văn hoá” coca-cola. Thậm chí một nhà văn Canada còn cho rằng: chủ nghĩa khủng bố làm cho thế giới bất an hiện nay có một phần nguồn gốc từ văn hoá Mỹ, một nền văn hoá tôn tạo thái quá sức mạnh của bạo lực và đồng tiền.
Tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại buổi làm việc với Bộ Văn hoá-Thông tin chiều ngày 5-3-2007: ”Hội nhập càng sâu, càng rộng thì nền tảng văn hoá càng phải vững vàng hơn bao giờ hết”…
Vậy thì cái nền tảng văn hoá mà chúng ta cần phải giữ đó là gì? Theo chúng tôi đó là các nền tảng sau đây:
- Nền tảng về việc coi trọng đạo lý, những giá trị văn hoá tinh thần, coi trọng những sợi giây ràng buộc cộng đồng là cái giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại được qua suốt chiều dài lịch sử.
- Khi vào sân chơi WTO, bất cứ cuộc chơi nào cũng đều phải có “luật chơi”; phải theo luật là đúng nhất là trong các quan hệ đối ngoại; trong lĩnh vực đối nội, chúng ta cần tránh khuynh hướng tuyệt đối hoá luật; hiện nay rất nhiều vấn đề của kinh tế – xã hội không dễ giải quyết được bằng luật pháp mà đôi khi sự tự hoà giải lại có là phương án tối ưu và thành công hơn; sâu rễ, bền gốc hơn.
Lịch sử đã cho thấy nhiều giai đoạn lịch sử, dân tộc ta đã hợp lực giải quyết được nhiều việc lớn hoàn toàn không phải do sự phát triển của trình độ pháp luật, pháp lý. Hiện nay luật pháp của chúng ta chưa hoàn thiện so với nhu cầu cuộc sống nhưng đã vượt rất xa so với nhiều giai đoạn lịch sử trước đây nhưng nhiều vấn nạn lại nghiêm trọng và sỗ sàng, nặng nề hơn trong quá khứ… Rất nhiều tệ nạn có nguồn gốc du nhập từ bên ngoài.
Muốn tự hoà giải thì các thành viên phải tự điều chỉnh. Người Việt có câu: Thương nhau chín bỏ làm mười; luật pháp chỉ nên can thiệp ở nơi nào, việc nào mà sự hoà giải đã hoàn toàn bất lực. Vũ khí của sự hoà giải đó là dư luận xã hội được xây dựng từ sự tác động qua lại từ các nhóm người, nhóm thành viên, các đoàn thể tôn giáo – xã hội, của các phương tiện thông tin đại chúng, của các tác phẩm văn học – nghệ thuật… Vũ khí hoà giải là bề trên phải nghiêm và minh; nghiêm tức là tôn trọng luật pháp, minh là minh bạch, sòng phẳng; minh còn hàm nghĩa trong: bề trên phải gương mẫu, treo gương, thuợng bất chính thì hạ tắc loạn…
Chúng ta cần có cách nhìn mới mẻ hơn với các giá trị tôn giáo, nhất là Phật giáo và Nho giáo: Phải biết kế thừa và thải loại những giá trị gì? Nhìn lại tiến trình dựng nước và giữ nước, hai tôn giáo này đã có lúc được coi là quốc giao bởi thật sự nó phát huy đựơc nội lực dân tộc. Không ai phủ nhận được vai trò của tôn giáo trong việc dệt nên những sợi giây vô hình gắn kết cộng đồng, những cái phanh hãm về mặt tâm linh với một bộ phận không nhỏ quần chúng. Pavlov một nhà khoa học Nga từng phát biểu đại ý: Tôi là một nhà khoa học, một con người duy lý, không liên quan gì đến tôn giáo nhưng tôi luôn kính trọng tôn giáo, bởi vì rất nhiều người thân của tôi họ không thể sống nếu thiếu tôn giáo… Tôn giáo trong chừng mực nào đó là một thứ kỷ cương của tâm linh. Là con người thì bao giờ cũng có hai yếu tố bổ sung làm giàu, tác động, thúc đẩy qua lại lẫn nhau: vật chất và giá trị tinh thần; tri thức và bản năng, ý thức và tâm linh… Tôn giáo không đơn giản chỉ như một thứ “thuốc phiện của tâm hồn” như ai đó từng quan niệm đối với một xã hội như xã hội phương Đông…
Nhà Trần 3 lần đánh thắng được một đế quốc hùng mạnh như Nguyên-Mông là do bởi đã làm tốt việc kết nối được sợi dây liên kết cộng đồng, dòng tộc. Điều này chừng mực nào được ánh lên trong “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn. Nhà Trần có những chính sách cực đoan để duy trì và đề cao dòng tộc, con cái nhà Trần chỉ xây dựng trong nội bộ dòng tộc. Nhà Trần là triều đại đề cao Phật giáo, là tôn giáo đề cao sự tương thân tương ái trong nội bộ đồng bào, đồng loại. Theo chúng tôi đó chính là những nguồn sinh khí tạo dựng nên hào khí Đông A.
Việc tướng sĩ một lòng phụ tử, trên dưới một lòng một dạ là cội nguồn của sự gắn kết cộng đồng, còn như khi “thượng bất chính thì hạ tắc loạn” là điều mà lịch sử đã lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần. Chỉ khi nào những nền tảng đó được củng cố thì con thuyền dân tộc mói có cơ ra biển lớn đĩnh đạc không chòng chành, mới đủ sức đạt tới những tầm, trần và tốc độ bay ra với thế giới…
Lịch sử xã hội phương Đông cho thấy ít có triều đại nào đứng vững mà không sử dụng hài hoà hai công cụ: pháp trị và đức trị; nếu chỉ đức trị không thì xã hội rối ren, đôi khi hiền – ngu lẫn lộn; nếu chỉ pháp trị không thì lòng người không thuận, ai oán tích tụ dễ dấy nuôi mầm loạn bên trong. Pháp trị mạnh như Tần Thuỷ Hoàng, khiến cho Trung Hoa thu về một mối, thống nhất được đồng tiền, chữ viết; làm được những kỳ quan để bảo vệ cương vực, lãnh thổ đó là Vạn lý trường thành; thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển. Người ta khai quật thấy trong mộ Tần Thuỷ Hoàng thanh kiếm mạ crôm, một hợp kim không có trong tự nhiên. Hợp kim này chỉ mới xuất hiện vào nửa thế kỷ XX khi Liên Xô sử dụng để mạ nòng súng AK vào năm 1947. Pháp trị đã giúp Tần Thuỷ Hoàng lập nên biết bao kỳ tích. Con người ôm mộng tìm thuốc trường sinh cho mình và cho cái chế độ do mình thiết kế ấy, “vạn thế Tần triều”, đã chấm dứt cuộc đời ở tuổi 39; triều đại của ông đã suy vong khi ông vừa nhắm mắt, xuôi tay.
Khi gia nhập sân chơi WTO, rõ ràng chúng ta phải đối mặt với 2 khối thách thức lớn. Về mặt nội trị một mặt chúng ta hoàn chỉnh luật pháp để đưa xã hội có sự đồng điệu với cách chơi, tập quán chơi của thế giới khi đất nước mở cửa, hội nhập. Chúng ta vừa nâng tầm luật pháp nhưng không thể quên nền tảng xã hội Việt nam là xã hội phương Đông: chỉ pháp trị không chưa đủ. Trong khi đó về quan hệ đối ngoại, giao lưu với các quốc gia khác thì các quan hệ chủ yếu dựa trên nền tảng các hợp đồng, các giao kèo, các luật chơi đã được các bên thừa nhận, cam kết. Rõ ràng trên các nền có những nét đặc thù riêng ấy ra để làm ăn, giao lưu với bên ngòai quả là một khối thách thức, nếu không muốn nói là mâu thuẫn như chúng tôi đã phân tích ở trên.Chúng ta phải đương đầu vượt lên biết bao sự hạn chế do lề thói và cả sức ỳ dân tộc ngấm sâu vào ngàn đời nay vào tâm thức dân tộc, vượt qua cái: đất lề quê thói nhưng mà rồi mình vẫn là mình.
Đó mới là cái đích vàng của mở cửa hội nhập!
© 2007 talawas