trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
13.1.2004
Dương Thuấn
Bản sắc dân tộc với người nghệ sĩ …
 

Bản sắc dân tộc là gì? Bây giờ ai cũng đã nghe thấy quen thuộc, hàng ngày nó được nhắc trên báo chí, trên cửa miệng của mỗi người. Còn cách đây mười mấy năm, lần đầu tiên tôi đọc được cụm từ bản sắc dân tộc trong một bài viết của nhà thơ quá cố Trinh Ðường nhận xét về thơ tôi khi tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du, ông cho rằng thơ tôi mang đậm bản sắc Tày. Sau đó ông đã cho đăng bài đó trên báo Văn nghệ với tên Bản sắc dân tộc trong thơ Dương Thuấn.

Năm 1992 khi Trường viết văn Nguyễn Du in tập thơ Ði tìm bóng núi của tôi, lúc bấy giờ Phó giáo sư, Tiến sĩ Phạm Vĩnh Cư – Phó hiệu trưởng nhà trường cùng nhà văn Tạ Duy Anh đã cho in bài viết đó làm lời bạt ở cuối sách. Sau khi tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du, Tạ Duy Anh và tôi ở lại trường làm cán bộ giảng dạy môn sáng tác, tôi đã đề xuất ngay mở cuộc hội thảo “Tính dân tộc trong thơ“. Cuộc hội thảo đó đã đem lại một kết quả tuyệt vời ngoài dự kiến. Nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu, các giáo sư nổi tiếng đã hăng hái viết bài tham luận. Ðặc biệt hơn là từ cuộc hội thảo đã bắt đầu một cuộc tranh luận sôi nổi trong thời gian dài trên báo chí. Phạm vi trao đổi không chỉ dừng ở thơ nữa, mà còn tranh cãi bản sắc dân tộc là gì? Bản sắc dân tộc có thật hay không, hay là chỉ có tính nhân loại nói chung? Phải chăng bản sắc dân tộc chỉ do các nhà văn tự nghĩ ra và tự đề cao nó…(!)

Suốt mấy năm liền trên báo chí trao đổi về bản sắc dân tộc nhưng chưa ai định nghĩa về thuật ngữ khái niệm này một cách đầy đủ hoặc khái quát hoàn hảo. Duy có một điểm chắc chắn đã thống nhất, các nhà nghiên cứu đều khẳng định, bản sắc dân tộc trong văn học thể hiện rất rõ ở ngôn từ và phong cách tác giả.

Bản sắc dân tộc vốn không phải đứng yên mà luôn tồn tại trong sự phát triển. Trong bối cảnh hội nhập giữa các dân tộc rất nhanh chóng hiện nay nếu không tồn tại trong sự phát triển thì chắc chắn một dân tộc nhỏ hơn dễ dàng bị một dân tộc lớn hơn đồng hoá. Chính bản sắc dân tộc đã làm nên sức sống của văn học nghệ thuật cũng như bộ mặt đời sống tinh thần của mỗi dân tộc. Những năm qua nhiều lúc tôi nhận thấy người ta đã nhầm tưởng bản sắc dân tộc là trang phục, phong tục, tập quán, món ăn…Thực ra đó chỉ là những cái đơn giản biểu hiện ở bề ngoài. Nếu nhìn nhận một cách thiển cận như vậy sẽ rất dễ thừa nhận ngay sự biểu hiên bề ngoài đó. Nhưng khi tìm hiểu sâu hơn thì vấn đề hoàn toàn không phải như vậy. Sức sống và sự tồn tại phát triển của bản sắc dân tộc luôn luôn hoàn toàn phụ thuộc vào vai trò của các cá nhân nghệ sĩ trong từng thời kỳ lịch sử. Như khi ta muốn chứng minh với thế giới, dân tộc Việt Nam có truyền thống văn hoá thì phải dẫn chứng bằng các danh nhân Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… Sự đặc sắc về trang phục, món ăn, phong tục, tập quán các dân tộc trên thế giới đều có cả nhưng họ không thể có các danh nhân giống như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… Ở mức độ nào đó vẫn còn nhiều người chưa hiểu đúng bản sắc dân tộc. Bản sắc dân tộc phải được hiểu một cách đầy đủ và đúng đắn tức là trình độ tư duy triết học của mỗi dân tộc. Nó hoàn toàn không phải ở mức độ trực giác mà đạt tới nhận thức lý tính rất cao, thể hiện qua những tác phẩm văn học nghệ thuật. Hay nói một cách cụ thể hơn là bản sắc dân tộc vốn sẵn kết tinh trong con người nghệ sĩ, nó đồng hành với sự sáng tạo của nghệ sĩ. Sự kết tinh đó chín muồi đến mức, khiến ta cảm giác rằng mỗi tác phẩm viết ra đều do tâm linh mách bảo, chứ không phải từ ý nghĩ chủ quan của con người. Ðây tôi không có ý thần bí hoá việc sáng tạo nghệ thuật nhưng quả đúng là như thế! Từ đấy mà suy xét thì nhiệm vụ của cá nhân từng nghệ sĩ đối với việc bảo tồn và phát triển bản sắc dân tộc là vô cùng lớn lao. Tại sao người Mông ngoài Bắc lại đi theo đạo Vàng Chứ, người Tây Nguyên bỏ nhà rông đến sinh hoạt ở nhà thờ hay người Khơ me ở Nam Bộ không thích nghe đài tiếng Khơ me của Việt Nam, người Tày ở Việt Bắc thích đi học làm thầy mo… Tất cả đều có căn nguyên của nó nhưng chắc chắn một điều do trong ngành văn hoá ngày càng bị càng vắng bóng các nhà văn hoá. Những người cầm trịch ngành văn hoá của đất nước đã không có đủ trình độ để nhìn nhận vấn đề, từ đó đã đơn giản hoá nghệ thuật, nhìn nghệ thuật chỉ thuần tuý với con mắt chính trị. Hoặc việc sân khấu hoá mọi thứ như hiện nay chẳng những không đem lại khoái cảm mà còn gây ức chế cho độc giả. Từ sự phản cảm đó đã dẫn tới sự chống lại những thiết chế văn hoá mới không mấy phù hợp với bản sắc và tâm lý của người dân tộc thiểu số.

Trong tình hình thực tế của xã hội miền núi hiện nay, vai trò của người nghệ sĩ ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với việc bảo tồn và phát triển bản sắc dân tộc. Nếu ví nhà văn với người nông dân thì ngòi bút là cái cày, ngôn từ là cánh đồng, bản sắc dân tộc như khí trời và nắng ấm, rất cần cho sự quang hợp của cây xanh. Tác phẩm văn học cũng giống như một cơ thể sống, nó chỉ thực sự tồn tại đúng như bản chất vốn có của nó khi được sống ở trong cộng đồng dân tộc. Hay nói một cách khác, đã là nhà văn thì sáng tác của anh chỉ hay nhất khi viết bằng tiếng mẹ đẻ. Tôi có nhiều dịp tiếp xúc với các nhà văn Tô Hoài, Nông Quốc Chấn, biết tôi sáng tác song ngữ, cả hai ông cùng đều nói hãy sáng tác tiếng Tày nhiều hơn. Quả thật những tập thơ viết bằng tiếng Tày của tôi vẫn được người ở quê hương biết tới nhiều hơn. Ðối với sáng tác bằng tiếng Việt, đôi lúc tôi vẫn tự hỏi, có phải đã gửi nhờ tác phẩm của mình vào một dân tộc khác hay không? Tôi đã tìm hiểu khá nhiều nhà văn trên thế giới cũng sáng tác bằng song ngữ. Tagore ở Ấn Ðộ sáng tác bằng cả tiếng Anh và tiếng Hin-đi, một số nhà văn châu Phi sáng tác bằng tiếng của thổ dân và tiếng Pháp, nhà thơ Ðaghetxtan Raxun Gamzatốp sáng tác bằng cả tiếng Avar và tiếng Nga. Nhưng họ thành công hơn cả vẫn là sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Một điều nghiệm thấy từ chính bản thân là mỗi khi sáng tác bằng tiếng Tày, tôi cảm giác thấy diễn đạt được trọn vẹn ý nghĩ của mình hơn và sử dụng các tu từ để biểu đạt cũng chính xác hơn…

Ðể bảo tồn và phát triển bản sắc dân tộc, trách nhiệm của mỗi nhà văn là phải sáng tạo không ngừng về ngôn từ, góp phần làm cho ngôn ngữ của dân tộc mình phát triển. Với một quốc gia văn tự quan trọng như thế nào thì nhà văn sáng tác bằng tiếng dân tộc cũng cảm thấy công việc của mình quan trọng như vậy. Bởi ngôn ngữ thể hiện bản sắc dân tộc và trình độ phát triển văn hoá của mỗi dân tộc rõ nhất. Tôi thấy vô cùng khó hiểu những người mang danh là nhà văn dân tộc thiểu số mà không đọc nổi chữ viết của dân tộc mình. Trong khi đó độc giả của các dân tộc thiểu số lại rất thiếu tác phẩm bằng tiếng dân tộc để đọc. Tôi đã nhiều lần nhận được những lá thư độc giả gửi từ nhiều nơi hỏi về việc đó. Khi là thư gửi từ Chợ Ðồn (Bắc Kạn), khi từ Trùng Khánh (Cao Bằng), khi lại từ Cao Lộc (Lạng Sơn)… Họ gửi những lá thư rất cảm động để xin những tập thơ viết bằng tiếng Tày. Tôi nhớ mãi một bà mẹ là di dân tự do ở ngoài Việt Bắc vào tỉnh Bình Phước, khi có người ra Bắc bà đã không quên nhờ người đó đến xin tôi một tập thơ tiếng Tày. Hoặc nhà thơ cựu chiến binh Mỹ Brucweibll sang Việt Nam cũng đến yêu cầu tôi dịch thơ tiếng Tày cho ông nghe.

Một người trước đây thường hay đề cập đến sáng tác bằng tiếng dân tộc trong các bài viết của mình là cố nhà thơ Nông Quốc Chấn. Tôi cho điều đó hoàn toàn đúng! Bởi không có gì diễn đạt ý nghĩ chính xác hơn tiếng mẹ đẻ. Với độc giả cũng không có gì thích thú hơn khi được thưởng thức tác phẩm bằng tiếng mẹ đẻ. Ðọc một số tác phẩm viết bằng tiếng phổ thông của một số nhà văn dân tộc thiểu số tôi thấy còn không ít sự non kém vụng về trong sử dụng ngôn ngữ, thậm chí đôi khi gây phản cảm cho người đọc. Nếu có ai đó nói rằng độc giả miền núi bây giờ không thích đọc tác phẩm viết bằng tiếng dân tộc thiểu số là hoàn toàn sai, thực tế đã chứng minh ngược lại điều đó.

Theo tôi nghĩ đối với những người là dân tộc thiểu số, khi bắt đầu sáng tác cần phải trau dồi tiếng mẹ đẻ. Phải đặt bút sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ trước khi sáng tác bằng tiếng phổ thông. Và hãy nhớ rằng dân tộc mình cũng có chữ viết, bổn phận của nhà văn là giữ gìn và làm cho ngôn ngữ của dân tộc mình phát triển. Bởi mỗi một ngôn ngữ có cấu trúc từ vựng và ngữ pháp riêng, tư duy theo quy tắc riêng. Ðó chính là sự đặc sắc của ngôn ngữ nghệ thuật của từng dân tộc. Tác phẩm văn học chỉ thực sự độc đáo khi viết bằng tiếng dân tộc. Nên sáng tác bằng tiếng của dân tộc rồi sau đó hãy dịch ra tiếng phổ thông. Nhà văn không cần phải sáng tác bằng nhiều ngôn ngữ. Thực ra chỉ cần sử dụng một ngôn ngữ là đủ, cũng không nhất thiết phải sáng tác bằng song ngữ. Tất nhiên trong sáng tác ai thích sử dụng ngôn ngữ nào thì tuỳ họ. Quan trọng là ngôn ngữ nào sẽ biểu hiện bản sắc dân tộc của mình tốt hơn và đem lại sự phong phú cho cuộc sống tinh thần dân tộc cao hơn.

Bản sắc dân tộc tồn tại và phát triển do đóng góp của các văn nghệ sĩ nhưng phải là sự bồi đắp của nhiều thế hệ. Từng thế hệ kế tiếp nhau sẽ sáng tạo và làm dày thêm bản sắc của dân tộc mình. Bản sắc dân tộc mang tính khái quát rất cao nhưng cũng in đậm dấu ấn của cá nhân. Cần phải hiểu cho đúng, đó là trí tuệ và tâm hồn của dân tộc được hun đúc qua nhiều thế hệ văn nghệ sĩ. Từ các nghệ sĩ dân gian cho đến các nghệ sĩ hôm nay đã sáng tạo liên tục, tạo thành những dòng chảy văn hoá. Phương Ðông hay là phương Tây, thực ra đó cũng chỉ giống như quê anh hay là quê tôi. Hoặc nói rõ hơn dân tộc của anh hay là dân tộc của tôi. Quan niệm như vậy sẽ làm phong phú thêm văn hoá của nhân loại. Bản sắc dân tộc đâu phải không thay đổi, mà rắp tâm cho nó chỉ là những biểu hiện cố hữu cụ thể trong sinh hoạt hàng ngày theo chủ quan của một số người.

Trong thời kì hiện nay miền núi cũng đang từng bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá có sợ làm phai nhạt hoặc làm mất đi bản sắc dân tộc hay không? Ðiều đó cũng có thể, nếu các văn nghệ sĩ không ý thức được thiên chức sáng tạo của mình. Một vấn đề đặt ra là văn nghệ sĩ phải xác định đúng vai trò và trách nhiệm cao cả đối với dân tộc. Hãy từ dân tộc nhỏ của mình để đi tới hiện đại, chứ đừng từ một dân tộc lớn hơn hay đứng ở vị trí nào đó nhìn vào dân tộc mình với con mắt xa lạ mà phán xét.

Bản sắc dân tộc tưởng vấn đề đã cũ nhưng luôn luôn mới. Một vấn đề luôn bức xúc của văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số hiện nay, có lẽ không riêng gì ở Việt Nam

Ðêm Noel 2003

© 2004 talawas

 
© talawas 2026