Vũ Hải Ngọc – Chùa Bái Đính: Kỷ lục và những điều chướng mắt (kỳ cuối)
08/04/2010 | 1:20 sáng | 155 Comments
Category: Phóng sự ảnh, Tôn giáo
Thẻ: chùa Bái Đính
24: Theo thông báo của nhà nước, công trình sẽ khánh thành vào năm 2015. Hẳn nơi đây sẽ trở thành cơ sở kinh doanh tôn giáo lớn nhất Đông Nam Á (vậy là sẽ có thêm một kỷ lục)!
25: Đại lễ trong chùa thật hoành tráng, nhưng không thấy Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà chỉ thấy Ban Tuyên giáo tham gia? Đảng Cộng sản Việt Nam, sau hàng chục năm được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác-Lê, thay vì tránh “thuốc phiện” thì lại dùng “thuốc phiện”!
26: Có bao nhiêu rừng nguyên sinh đã mất để lấy gỗ cho công trình này?
27: Nếu đặt hàng ông đồ này viết một câu đối bằng chữ Việt Nam, liệu ông ấy làm được không nhỉ?
28: Đúng là đại lễ, khắp nơi và nhiều thành phần, đặc biệt là xe công nhiều chứ không phải ít.
29: Cái cổng tam quan đẹp và hoành tráng thế mà lại treo cái băng-rôn chình ình ở đó (làm du khách muốn chụp một bức ảnh đẹp cũng khó), rồi phía trước cái cổng thì như cái chợ làng!
30: Cái bia này cực kỳ phản cảm về nhiều góc cạnh!
- Gọi là “Vườn cây doanh nhân 1000 năm” nhưng doanh nhân thực sự được mấy người? Hễ đứng đầu doanh nghiệp thì được gọi là doanh nhân?
- Phật tại tâm, đâu cần trần tục biết? Trên tấm bia này, chỉ cần khắc tên A, nhà B cho mỗi ông/bà góp tiền trồng cây nơi đây là đủ.
- Còn 5 năm (hoặc lâu hơn) nữa nơi đây mới khánh thành. Gắn một công trình đang dang dở với “1000 năm Hoa Lư – Thăng long” chẳng khác một sự ăn theo và chắp vá!
31 và 32: Phút thư giãn của sư (!)
33 và 34: Phút (…) của sư (!)
© 2010 Vũ Hải Ngọc
© 2010 talawas
Bình luận
155 Comments (bài “Vũ Hải Ngọc – Chùa Bái Đính: Kỷ lục và những điều chướng mắt (kỳ cuối)”)
« Trang trước 1 … 7 8 9 10 11 Trang sau »










Bác LQT,
Viết được chữ Nôm không có nghĩa là “người Hoa không biết tiếng Việt” như bác nói. Không viết được chữ quốc ngữ cũng không có nghĩa là “người Hoa không biết tiếng Việt”. Cũng nhắc để nhớ là hòa thượng sinh năm 1897, nên lúc thuở đi học chữ quốc ngữ chưa thông dụng.
Ai đứng ra tổ chức tuần hành tôi không nhớ, nhưng nếu bác có link để dẫn chứng điều gì đó đáng ngờ về người tổ chức tuần hành xin bác cứ đưa lên đây cho mọi người xem. Cái link trong comment trước của bác không mở được, còn TVHS thì bạt ngàn vô số tôi không thể tìm.
Trân trọng.
@ Lê Quốc Trinh
“Bao nhiêu chứng từ đó đưa ra đã đủ để trình bày cho mọi người thấy tính chất hoang đường, mê tín của một hình tượng mà hầu như ít ai để ý, và vẫn tiếp tục tụng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” vẫn mơ ước được vãng sanh lên Tây Phương Cực Lạc … sau khi chết”.
– Căn bản của pháp môn Tịnh Độ là tín, hành, nguyện. Tín là niềm tin. Hành là thực hành. Nguyện là những lời phát nguyện rộng lớn. Bỏ ba điều kể trên ra, pháp môn Tịnh độ không tồn tại. Những người tu thiền trước đây cũng từng đả phá pháp môn Tịnh độ, những người tu Tịnh độ cũng từng phản bác lại quan niệm Thiền tông. Việc ông Lê Quốc Trinh nói chỉ là việc lật lại một cuộc tranh luận vốn chẳng đi đến đâu trong Phật giáo. Bởi từ nhiều thế kỷ nay, đã có sự dung hợp giữa hai tông: “Thiền – Tịnh song tu”. Pháp môn Tịnh độ lấy hình tượng Đức Phật A Di Đà và kinh A Di Đà làm cơ sở căn bản. Khi một tông phái mà lấy 3 điều Tín, Hành, Nguyện (Tín sâu, Hành rộng, Nguyện lớn) làm cốt yếu thì việc cãi cọ, lý luận không được những người theo pháp môn Tịnh Độ quan tâm. Và anh cứ tiếp tục đứng ở góc nhìn của anh mà cãi cọ lý luận, vì đó là phần việc của những người tu theo pháp môn “cãi cọ và lý luận”. Không phải “chuyên gia” cãi nhau nên càng nói càng đi xa vấn đề.
– Sự tồn tại của Pháp môn Tịnh độ thể hiện tính linh hoạt của giáo lý Phật giáo, mang tính khế lý (hợp với chân lý), khế cơ (hợp với căn cơ), khế thời (hợp với hoàn cảnh). Nếu chỉ hợp với chân lý mà không hợp với căn cơ, hoàn cảnh thì giáo lý đó không ích lợi cho ai cả, và ngược lại. Nói về nguyện sinh sang một thế giới không có nữ nhân, vì về mặt “sự tướng”, con người đang sống trong một thế giới của vòng nhị nguyên, người phụ nữ từ xưa tới nay phải sống trong cảnh kỳ thị hết sức khắc nghiệt, ở Ấn độ và Trung Quốc cổ đại. Nếu đặt giáo lý ra khỏi tính “khế thời”, “khế cơ” thì pháp môn Tịnh độ không ai tu tập cả. Mặt khác, khi bối cảnh xã hội loạn lạc rối ren, giết chóc, người dân không biết tin vào đâu nên đặt khát vọng của mình về đó, và căn bản họ tìm thấy trong giáo lý Phật giáo niềm lạc quan, vì chết không phải là hết mà là sự tiếp nối của nghiệp lực, luân hồi, vì thế tu tập sẽ chuyển nghiệp và sinh sang một quốc độ tươi đẹp hơn…
– Khi người tu theo pháp môn Tịnh độ đã thành thục và chuyên sâu, một điều khá lý thú xảy ra, đó là họ quay trở về với “lý Tịnh độ”, bên cạnh “sự Tịnh độ”. Nên nhớ giáo lý Phật giáo “lý – sự phải dung thông” bằng không dù có y theo lời Phật mà dẫn lại cũng sẽ lạc vào tà kiến, dẫn đến huỷ báng kinh Phật. Trong cư trần lạc đạo, Trần Nhân Tông nói: “Tịnh độ chính là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương. Di Đà là tính lặng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc”. Nếu những ai tu theo pháp môn Tịnh độ thì tuỳ căn cơ mà hiểu về “lý – sự Tịnh độ”. Thiền sư Nhất Hạnh từng nói “Đây là Tịnh độ, Tịnh độ là đây, Bụt là lá chín, pháp là mây bay…”. Những lời thơ như vậy đã đi vào lòng người Phật tử. Niệm Nam mô A Di Đà Phật là niệm tự tính sáng soi của mình, tại sao người Phật tử lại không niệm. Mặt khác, cái chắp tay vái chào và lời niệm A Di Đà Phật đã trở thành nét đẹp văn hoá trong chào hỏi của đa số người Phật tử Việt Nam rất đáng khuyến khích đó chứ.
– Xin nói thêm về khái niệm “mê tín”. Phật giáo chưa từng bao giờ coi thường chữ “mê tín”. Vì “mê tín” là đối tượng để chuyển mê khai ngộ. Mê tín nói nôm na là cả tin. Trong cuộc sống, người ta thường hay cả tin. Tin vào một tôn giáo, tin vào thượng đế, tin vào thần linh, tin vào Phật, tin vào chủ nghĩa này, lý thuyết kia…, ước mong xã hội chỉ còn tôn giáo này, tư tưởng kia… Đó là quyền riêng của mỗi người, nhưng vì tin và ước mong vào những điều (riêng theo căn cơ) của mình mà dẫn đến phải thủ tiêu những tư tưởng khác, thì đó mới chính là “mê tín”, mê tín như vậy không chỉ hại người mà còn hại cả mình. Chính vì vậy, đạo Phật không lý luận một cách sáo rỗng mà hãy thực hành thâm sâu tư tưởng ấy trên căn bản ích mình, lợi người và ích lợi cho cả hai. Cái gì ích cho anh mà hại tới người, cái gì hại cho anh mà ích cho người, đều không đáng được khuyến khích trong Phật giáo. Anh có nói về tư tưởng nhân loại, đạo Phật quốc tế cao cả bao nhiêu, học vấn uyên thâm cỡ nào mà anh không có an lạc trong tu tập (và anh không phải người tu theo pháp môn ấy) thì anh cũng chỉ là “cái tủ đựng sách” không hơn không kém. Giáo lý đạo Phật xưa nay được thống nhất gọi là “thực nghiệm”, trên căn bản thực nghiệm tâm linh đó mà đạt được hạnh phúc, an lạc và giải thoát.
Chào bạn P.,
Bạn có thể vào Thư Viện Hoa Sen :
http://www.thuvienhoasen.org/pd-tuongniem-34.htm
bạn sẽ đọc được lá thư thủ bút bằng chữ Nôm do HT Thích Quảng Đức tự viết một ngày trước khi lên đường đến chỗ tự thiêu. Nên nhớ thời đó, 1963, tiếng Việt đã trở thành Quốc Ngữ duy nhất và phổ thông khắp hang cùng ngõ hẹp tại miền Nam. Tại sao HT không thể tự tay viết chữ Quốc Ngữ ???
Bạn cũng có thể đọc để biết ai là người quyết định và tổ chức để đưa HT Thích Quảng Đức cùng đoàn tuần hành đến nơi tự thiêu, một phương thức đấu tranh mới nhằm đánh mạnh vào dư luận thế giới, nhất là Mỹ.
Chào thân ái,
Thân chào bác Hoà Nguyễn,
Thật tình tôi cũng không muốn tranh luận quá nhiều về những v/d Đạo Phật trên Internet. Nhưng thiết nghĩ tình trạng mê tín dị đoan lan tràn quá sâu rộng trong xã hội VN hiện nay, trong đó có một số hình ảnh chùa chiền bày trò cầu an, cầu siêu rầm rộ khiến tôi buộc lòng phải đi sâu vào cuộc tham luận này.
Tôi đã cung cấp đường link reference và trích dẫn vài đoạn về Sự tích Phật A Di Đà cho bác xem, sao bác lại còn hỏi tôi nữa, bác muốn biết thêm chi tiết thì cứ click vào DaoPhatNgayNay hay Buddhismtoday.com là biết rõ xuất xứ cuốn kinh, thế thôi. Biết bác nghiêm chỉnh nên tôi đã cẩn thận scan & copy trang số 09 của tập kinh này do tôi thỉnh từ chùa Huyền Không (Canada), giống y chang, Talawas có đăng lên hay không là quyền quyết định của họ.
Tôi đã đưa nhiều nghi vấn thắc mắc về tính hoang đường, mê tín của tập kinh này, tôi đã nêu rõ câu hỏi từng điểm một, bác trả lời và phán một câu : “xuyên tạc” hoặc “hiểu sai”. Đó chính là lý do chúng ta nên thẳng thắn đối thoại. Ở thời đại tiên tiến khoa học Internet này, chứng từ là chuyện rất ư quan trọng, không có nó chúng ta sẽ cãi nhau như mổ bò “ông nói gà, bà nói vịt”. Tôi nghĩ bác hiểu.
Thôi, tôi hiểu ý bác rồi, bác ngại không muốn nói lên sự thật phải không ? Bao nhiêu chứng từ đó đưa ra đã đủ để trình bày cho mọi người thấy tính chất hoang đường, mê tín của một hình tượng mà hầu như ít ai để ý, và vẫn tiếp tục tụng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” vần mơ ước được vãng sanh lên Tây Phương Cực Lạc … sau khi chết.
Bác vẫn biện hộ cho chủ thuyết “trọng nam khinh nữ” trong cuốn kinh đó, bác quên định luật Nhân Duyên Nhân Quả của Nhà Phật rồi sao ? Không có nhân duyên nam+nữ (trống+mái, hay đực+cái) của vũ trụ thì làm sao có sinh tồn trong loài vật, không có Nữ thì làm sao có Nam, chẳng lẽ các ông mày râu chui từ hang đá mà ra, giống như Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký ? Lạ thật nhỉ !!! Bác có hiểu tại sao họ viết như vậy không và không ít người vẫn tin ?
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khẩn trương của đất nước, bị bao vây tứ phía và bị Hán hoá từ từ mà không hay, chỉ vì nhiều người còn mơ ngủ chưa chịu tỉnh giấc mộng, dân trí bị lu mờ vì mê tín dị đoan, dân khí bị hao mòn vì tiền tài vật chất cám dỗ con người dễ dàng, có thể ngồi yên được không, hở bác Hoà Nguyễn ?
Mến chào bác,
@ Lê Quốc Trinh
Đọc những gì anh viết trong PH vừa rồi về Phong Trào PG 63 tôi thấy chúng ít có sức thuyết phục hơn nhận định của Nguyễn Thế Anh et al, vì không thấy anh đề cập đến vấn đề then chốt nhất. Đó là câu hỏi những tín đồ PG bình thường tại Miền Nam VN vào thời đó có lý do chính đáng nào để đứng lên chống chế độ Ngô Đình Diệm hay không?
Muốn tìm được câu trả lời khả tín, chúng ta tốt nhất nên dựa vào những tài liệu được hình thành trước ngày 8 tháng 5 năm 1963. Chính vì được viết ra trước khi biến cố Phật giáo 1963 bùng nổ, nên nội dung của chúng không bị chi phối bởi cuộc tranh chấp giữa phong trào Phật giáo và chế độ Ngô Đình Diệm. Do đó, chúng có một mức độ khả tín rất cao.
Như anh cũng biết, tôi đã giới thiệu một số tài liệu thuộc loại này trên DĐ Talawas. Những tài liệu đó cho ta thấy rằng sự kỳ thị mà người PT bình thường phải hứng chịu đã làm lan rộng trước ngày 8 tháng 5 năm 1963 tại Miền Nam VN một sự bất mãn mang nặng màu sắc tôn giáo đối với chế độ Ngô Đình Diệm. Nói một cách khác, sự kỳ thị và bất mãn nói trên đã hiển lộ ngay trước khi Thích Trí Quang et al xuất hiện trên chính trường.
Chính điều này đã cho phép tôi đi đến kết luận rằng nhận định của Nguyễn Thế Anh et al về nguyên nhân sâu xa phía sau PTPG 63 đáng tin hơn nhận định của những tác giả khác cho rằng phong trào này bị CS hay người Mỹ giật dây.
Muốn phản bác nhận định của Nguyễn Thế Anh et al, ít nhất anh phải vô hiệu hóa những tài liệu “tiền Biến Cố PG” nói trên. Hay nói một cách rõ ràng hơn: anh phải chứng minh rằng người PT bình thường tại Miền Nam thời đó không hề bị kỳ thị vì lý do tôn giáo, một việc anh chưa hề làm. Những điều do anh nêu ra, nếu quả thật có đúng đi chăng nữa, cũng hoàn toàn không thể xóa đi được sự hà hiếp mà những người PT bình thường này phải gánh chịu dưới chế độ Ngô Đình Diệm.
Do đó tôi xin tạm kết luận rằng nhận định của Nguyễn Thế Anh et al hoàn toàn chưa bị lung lay trước những gì anh viết.
@nguyen mai linh
Sao mà nóng thế! Lẽ ra ông/bà phải sinh nghi chứ. Tại sao tôi lại dại dột rước vấn đề vào mình khi nói ông / bà dùng từ ngữ phật giáo một cách lệch lạc, và tại sao tôi lại thản nhiên nói ông cho HCM như báo thân -dù rằng cái đoạn văn của ô/b đã lập lại rành rành, một lần nữa, rằng HCM phải là ứng thân theo ý ông/bà.
Ít nhất cũng nên doán là tôi đang thử cho thấy sự xuyên tạc nó có tác dụng ra sao trên người bị xuyên tạc chứ! Nếu tôi không viết như thế, chắc gì ông/bà đã gián tiếp thừa nhận mình cưỡng từ đoạt lí: ”Về khái niệm, báo thân tôi có lấy định nghĩa viết ra, nhưng tôi nghĩ rằng việc sắp xếp tượng Hồ chí Minh ở Đại nam quốc tự vào ở thế Ứng thân Phật.”
Đúng như lời ông khuyên, tôi cũng nghĩ hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi mở miệng, và hãy suy nghĩ bằng cái tâm thiện, thì sẽ giảm được Tham, Sân, Si!
Ông Lê Quốc Trinh viết “tôi vô cùng trân trọng nghiên cứu nghiêm chỉnh giáo pháp Nhà Phật”, thật là điều đáng tán thán, nhưng tôi không hề có ý muốn cùng ông làm “chuyện tranh luận trên vấn đề Đạo Phật”. Vì nhiều lý do, nhưng ở đây trước hết tôi góp ý (nhiều) dưới bài chủ này vì thấy có những ý kiến bài bác việc xây một ngôi chùa ở VN theo những quan điểm chính trị, trong đó có vài luận điệu bài xích đạo Phật. Với chuyện bài xích đạo Phật thì tranh luận gì cũng không đi tới đâu. Nhưng vì lại bị nêu đích danh, nên tôi viết thêm vài điều, ngoài chủ đề của ông Vũ Hải Ngọc.
1/ Ông Trinh không cho biết những câu ông dẫn lấy từ đâu, từ nguồn nào(tức kinh điển nào), và do ai dịch (tin cậy được mức độ chính xác không).
2/ Ông Trinh không cho biết chủ đích khi dẫn những câu đó, là muốn nêu thắc mắc về ý nghĩa hay bài bác điều gì.
Tôi đoán thấy đây là vài thệ nguyện, trong 48 thệ nguyện, của Phật A Di Đà trước khi ngài thành đạo. Những chuyện chép sự tích các Phật trước thời Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhatha Gotama) thì tôi thường dè dặt không bàn luận tới, không nói là mình tin theo hay không tin, và không bài bác ai tin, không chống ai không tin. Nhưng cũng thử phá cái lệ đó.
Tôi thấy có hai điều đáng nói hơn hết trong các câu ông Trinh dẫn:
1/ Câu 2 – ” Tôi nguyện tất cả chúng sanh được về cõi ấy, đều thành đàn ông tươi tốt vô cùng… “.
Tôi không tìm thấy, trong kinh sách tôi có, câu nguyện này. Xin nói rõ thêm: tôi dùng bàn kinh Vô Lượng Thọ do TT Thích Tuệ Đang dịch; bản kinh in này nằm trong bộ Tịnh Độ Ngũ kinh tôi xin (online) từ lâu ở trang mạng Niệm Phật Viên Thông (http://www.adidaphat.net). Họ gửi sách đến tôi qua bưu điện, và miễn phí. Ông Trinh nên cho biết câu 2 ông dẫn là nguyện thứ mấy.
2/ Câu 9 – “Tôi nguyện khi tôi nhập diệt, trải vô số kiếp về sau những người nữ nhơn… cứ cảm báo đặng làm thân đàn ông hoài, chớ không khi nào còn mang lấy thân đàn bà nữa”
Bản sách tôi có viết như sau :
“Điều nguyện thứ ba mươi lăm: Nếu con được thành Phật, mà nữ nhân trong vô lượng thế giới chư Phật mười phương không thể nghĩ bàn, nghe danh hiệu con đều vui mừng, phát tâm Bồ Đề, chán ghét thân gái, sau khi mệnh chung mà phải làm thân nữ nhân nữa thì con chẳng trụ ở ngôi Chính Giác”.
Điều nguyện này dịch như vậy khác câu 9 ông Trinh dẫn ở chỗ đáng nói là ghi rõ ” chán ghét thân gái” (và không nói như bản ông Trinh dẫn “làm thân đàn ông hoài, chớ không khi nào còn mang lấy thân đàn bà nữa”).
Để đối chiếu, tôi giở cuốn “Xương Minh Tịnh Độ” , bản dịch của Trần Hữu Quang, lời tựa ghi làm tại chùa Phật Ân, Mỹ Tho năm 1960 ( in lần thứ nhất năm 1961), thấy ghi :
“Nguyện thứ 35.- Khi tôi thành Phật, các người nữ trong vô lượng bất tư nghì thế giới ở mười phương vui mừng tin mến, phát tâm Bồ Đề, nhàm ghét thân gái, nếu như sau khi mạng chung còn làm thân người nữ nữa, thời tôi nguyện không ở ngôi chánh giác.”.
Bản hai này giống ý bản trên(Ngũ kinh) ở chỗ ” nhàm ghét thân gái”, là một phát sinh tự nguyện, chứ không phải do bắt buộc phải theo . Thế tôi hiểu được nhiều người muốn đọc nhiều bản dịch kinh Phật , đôi khi trong nhiều ngôn ngữ khác nhau, để được ý nghĩa chân xác nhất, có thể có.
Những người bảo vệ nữ quyền, chắc không cần phải lo ở thế giới Cực Lạc người ta kỳ thị Nam Nữ. Như đã nói ở góp ý trước, phụ nữ ngày xưa bị coi rẻ, cha và chồng có thể đánh đập, giết chết, hay bán đi. Việc muốn theo đạo Phật, nhất là muốn xuất gia đi tu, đối với phụ nữ thời đó cũng khó hơn đàn ông nhiều (chưa kể ni phải thọ nhiều giới luật hơn tăng), cho nên trong đau khổ nhiều phụ nữ ngày xưa ước muốn được làm thân nam giới (ở kiếp sau). Nhưng như đã nói, nếu tin ở thế giới Cực Lạc, thì tin chuyên “liên hoa hoá sinh” khi được tiếp dẫn về thế giới đó. Nghĩa là chúng sinh ở Tịnh Độ không còn tình dục, không cần truyền sinh, nên không còn chuyện nam nữ tư tình. Theo tôi hiểu lúc đo cũng không gọi đựợc họ là đàn ông hay đàn bà (và đàn bà chỉ có nghĩa khi có đàn ông, hay ngược lại). Trong 48 thệ nguyện này có nói thêm : người trong cõi Cực Lạc không còn ý niệm tham chấp thân hình (nguyện thứ 10), họ có đủ 32 tướng tốt (nguyện thứ 21). Như vậy ai cũng tươí tốt, không còn cảm thấy mình đẹp hơn hay xấu hơn ai, và do đó ý muốn làm “người đẹp” hay hoa hậu chắc không còn nữa.
Bác Hoà Nguyễn à,
Mời bác quá bộ vào đọc tài liệu tôi mới yêt lên về Sự tích Phật A Di Đà, trích trong Google (ref. DaoPhatNgayNay.com).
Bác đã nói:
Ông Lê Quốc Trinh viết:” 1)- Tại sao miền Tây Phương Cực Lạc chỉ chấp nhận nam giới “.
Đây là sự xuyên tạc hay hiểu sai. Tôi không đọc thấy hay nghe nói như vậy. Nhưng chỉ nghe nói ở cõi Cực lạc chúng sinh được “liên hoa hóa sinh”, nghĩa là thân xác là hoa sen kết hợp, không do tinh huyết sinh ra, nên không còn phân biệt là nam hay nữ , và không cần có sự phân biệt về mặt sinh dục đó. Cũng nên biết quan niệm “trọng nam khinh nữ” là một thành kiến rất lâu đời của nhân loại (chắc phải có từ khi loài người theo phụ hệ), nên trong kinh sách cũ của đạo Phật có nói người nữ nhiều công đức kiếp sau sinh làm nam nhân (ý cho như thế là cao hơn). Cũng nên biết Bồ tát Quan Thế Âm là một thị giả của Phật A Di Đà, cùng với Bồ tát Đại Thế Chí ba vị hợp thành “Tây phương Tam Thánh”, cùng lo việc “tiếp dẫn”. Quan Thế Âm được thờ trong hình tướng nữ , như vậy làm sao nói ở Tây phương không có người nữ ?
………………………………….
Trân trọng mời bác lý giải và cho biết sự thật. Tôi có xuyên tạc hay hiểu sai chỗ nào, mời bác chỉ ra.
Lich sử nhân loại có thời kỳ tổ chức theo chế độ “mẫu hệ”, chứ không nhất thiết hoàn toàn “phụ hệ”. Xã hội tân tiến Âu Mỹ ngày nay tôn trọng nữ giới như thế nào chắc bác hẳn biết rõ. Văn hóa Trung Hoa ngày xưa, theo đạo Khổng hiển nhiên đặt thân phận nữ giới xuống thấp (Tam Tòng Tứ Đức) nếu tôi không lầm.
Cám ơn bác nhiều,
@nguyen mai linh: Trong trường hợp bác đưa ra, “người quen của tôi được 1 người khác trong nhóm chủ mưu biểu tình dặn dò đừng tới”, nếu có thể đối chất được với người quen của bác + người đã dặn dò, thì mới có thể có chút gì đó xác quyết để đi tới kết luận, hoặc đi tìm hiểu tiếp. Còn giả như việc làm trên là bất khả, thì đi tới kết luận “một số người chủ chốt đã biết trước” e rằng hơi quá sớm.
@Lê Quốc Trinh: Hòa thượng Thích Quảng Đức là người Hoa không nói được tiếng Việt thì sao bác? Và thông tin trên bác dẫn nguồn từ đâu ra, mong được bác dẫn chứng.
Ông Nguyên Mai Linh thử chứng minh hai điều sau đây như tôi đã viết là không đúng :
1/ ” tại chánh điện chùa này (Đại Nam quốc tự) đặt thờ Phật A Di Đà, Hùng Vương, và Hồ Chí Minh” (theo ghi chú dưới ảnh chụp tại link tôi dẫn).
2/ “Tam Thân Phật, như ông Nguyễn Mai Linh nói, thuôc Mật tông, gồm Tỳ Lô Giá Na Phật (Pháp Thân), Lô Xá Na Phật (Báo Thân), và Thích Ca Mâu ni Phật (Ứng Thân)”
Khi ông NM Lĩnh cho họ đặt tượng Hồ Chí Minh theo cách sắp đặt của Tam Thân Phật , thì có nghĩa là cho HCM ở vị thế của Ứng Thân Phât (thứ ba, thấp nhất); nhưng muốn kết luận được vậy, ông Linh cần dẫn kinh điển cho thấy Phật A Di Đà từng được dùng để tiêu biểu cho Pháp Thân (cao nhất), và ở đây tượng Hùng Vương tiêu biểu cho Báo Thân Phật (ở giữa). Do đó tôi kết luãn:
a/ “những người đặt các vị Phật ở chánh điện “chùa” Đại Nam quốc tự nếu họ cho là như thế” đã xuyên tạc (thuyết Tam Thân của đạo Phật), vì HCM không thể là Ứng Thân Phật.
b/ “ông Nguyễn Mai Linh xuyên tạc ý nghĩa họ muốn biểu hiện trên bàn thờ”, khi họ không có ý biểu hiện HCM như là Ứng Thân Phật
Tóm lại, bất cứ ai khi cho HCM là Ứng Thân Phật là xuyên tạc đạo Phật (không kể còn xuyên tạc thuyết duy vật của người Marxist).
Nếu ông NM Linh cho “xuyên tạc” là từ “dao búa” thì cứ chứng minh cho rõ hơn, hoặc thử đề nghị một từ nào khác khi ông gán cho việc đặt tưọng một ý nghĩa không hay, khi đó không phải chủ ý của Đại Nam quốc tự (họ không có ý đặt tượng theo thuyết Tam Thân Phật).
[”Xuyên tạc” cũng là câu hỏi tôi thầm đặt ra khi thấy ô/b nguyen mai linh cứ dùng những từ ngữ phật giáo như sắc, không … một cách sai lạc để nói lên cái ý ”mười người theo Phật chín người không khôn”. Việc ông khăng khăng cho ”chùa” Đại Nam thờ Hồ Chí Minh như báo thân Phật (Lee Can)]
Theo tôi, có thể đây là lần cuối tôi đối thoại với Lee Can, chỉ đọc mà không hiểu rõ vấn đề, lấy cái chấp nhất làm biện giải. Cái ý của tôi, là mười người theo Phật, thì chỉ có một người là có thể thấu đáo giáo lý Phật giáo, còn lại thì chưa tới đâu cả, hoặc là chưa thấu triệt hoặc là rơi vào mê tín dị đoan. Cái thứ hai là đọc hấp tấp thì đã vội vàng, nóng nảy. Tôi nói “Ư”ng Thân” thì lại cho tôi khăng khăng nói Hồ chí Minh là báo thân Phật. Về khái niệm, báo thân tôi có lấy định nghĩa viết ra, nhưng tôi nghĩ rằng việc sắp xếp tượng Hồ chí Minh ở Đại nam quốc tự vào ở thế Ứng thân Phật. Tôi có chút ý nhỏ khuyên Lee Can – Hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi mở miệng, và hãy suy nghĩ bằng cái tâm thiện, thì sẽ giảm được Tham, Sân, Si
Thiết nghĩ kẻ ném lựu đạn vào đám biểu tình của phong trào Pháp Nạn 1963 trước đài truyền thanh Huế có chủ đích gây kích động với phe chính quyền nhiều hơn. Bằng chứng hiển nhiên là lựu đạn không gây thương tích nhưng đã kích động thiếu tá Đặng Sĩ ra lệnh cho binh sĩ thúc xe tăng xông tới và nã đạn đại liên vào đám đông gây tử thương cho đàn bà, con nít không ít. Từ đó hình ảnh tang thương bắt đầu kích động tất cả mọi Phật tử trong miền Nam lúc bấy giờ và lan dần như vết dầu loang. Có lúc khựng lại vì sức chống trả đàn áp mãnh liệt của chính quyền NĐ Diệm, thì phong trào xoay sang những chiến thuật khác để kích động thế giới, như vụ tự thiêu của HT Thích Quảng Đức. Tôi tự hỏi vì lý do gì mà chính quyền CS VN bây giờ lại tôn vinh HT Thích Quảng Đức, vinh danh HT là Bồ Tát, và đặt tên đường ? Thế thì hai cô nữ sinh Nhất Chi Mai, Quách Thị Trang bị bắn chết trước chợ Bến Thành không xứng đáng được tôn vinh sao ?
Điều làm tôi buồn phiền nhất là chính HT Thích Tâm Châu, người chủ xướng cuộc biểu tình và lãnh đạo phong trào, đến giờ phút này vẫn còn mù mờ không biết thủ phạm là ai. Có thể HT biết đấy nhưng không muốn tiết lộ chăng ? Nghe nói sau này một ông sĩ quan tình báo Mỹ đã tự nhận là kẻ ném lựu đạn ???
nguyen mai linh:
”Ở đây tôi có một góp ý nhỏ cho Hòa Nguyễn, ở diễn đàn này, chúng ta cùng nhau bàn luận để hiểu rõ, cùng nhau học hỏi về một sự việc nào đó mà đôi khi mỗi một người trong chúng ta chưa thấu đáo. Chúng ta phải chấp nhận ý kiến khác nhau trong một tinh thần huynh đệ. Xử dụng những từ như “xuyên tạc” sẽ khiến mọi việc diễn ra trong một tinh thần chợ búa, đôi co không hay lắm. Chẳng hạn như tôi nói “hoặc ông Hoà nguyễn vì ngu dốt nên không tìm hiểu sự việc tới nơi tới chốn”. Thì khi đó sự việc sẽ dẫn tới đâu, chắc mọi người thừa biết.”
”Xuyên tạc” cũng là câu hỏi tôi thầm đặt ra khi thấy ô/b nguyen mai linh cứ dùng những từ ngữ phật giáo như sắc, không … một cách sai lạc để nói lên cái ý ”mười người theo Phật chín người không khôn”. Việc ông khăng khăng cho ”chùa” Đại Nam thờ Hồ Chí Minh như báo thân Phật cũng thế mặc dù đã nếu ra định nghĩa thế nào là Tam Thân. Cho ông Hồ là báo thân thì phải cho vua Hùng là Hoá thân, ” là ”cái thân đang thăng hoa chuyển hoá ” của Phật thân! Nếu không phải là sự cố tình – không phải xuyên tạc – thì đây là gì? Một hiểu biết thuần tuý hình thức về các từ ngữ phật giáo mà ai cũng có thể có khi đọc dăm ba quyển sách phật giáo?
[trái lựu đạn nổ (do ai đó ném để kích động đám đông) đưa đến vụ thảm sát trước Đài Phát Thanh Huế (Lê Quốc Trinh)]
Nhân nhắc tới việc thảm sát trước Đài Phát Thanh Huế, thời điểm trước đảo chánh 1963, cho đến bây giờ vẫn còn chưa có kết luận chính xác là ai đã cho nổ? Tuy nhiên, tại thời điểm đó, một người quen của tôi đã được dặn dò không nên tới tụ tập cùng với đám đông ở đài Phát thanh Huế, từ một người bạn thân, là một trong những người chủ mưu biểu tình. Vì thế, việc nổ lựu đạn tại đài Phát Thanh, một số người chủ chốt đã biết trước. Theo suy xét của tôi, dựa vào dữ kiện trên, thì việc ném lựu đạn để thảm sát Phật Tử là hành vi chỉ để kích động đám đông chống lại chính quyền đệ I Cộng Hoà. Phải chăng sự kích động này, có bàn tay của Cộng sản hoặc Thiên Cộng?
Cách bài trí các tượng Phật ở chánh điện theo đúng ý nghĩa Tam Thân Phât. Tầng trên cùng là thờ Pháp thân Phật, tầng thứ hai thờ Báo thân Phật, tầng thứ ba là thờ Ứng thân Phật. Dựa vào cách bài trí tượng ở Đại Nam Quốc Tự, tôi phán đoán họ bài trí tượng theo ý nghĩa như vậy. Đó là phán đoán của riêng tôi, như là một ý kiến riêng đơn lẻ đóng góp trong việc bàn cãi chung.
[ Tôi nghĩ nếu ai cho ông Hồ Chí Minh là Ứng Thân Phật thì đó là một xuyên tạc lớn, hoặc từ những người đặt các vị Phật ở chánh điện “chùa” Đại Nam quốc tự nếu họ cho là như thế, hoặc từ ông Nguyễn Mai Linh xuyên tạc ý nghĩa họ muốn biểu hiện trên bàn thờ. (Hòa nguyễn)]
Ở đây tôi có một góp ý nhỏ cho Hòa Nguyễn, ở diễn đàn này, chúng ta cùng nhau bàn luận để hiểu rõ, cùng nhau học hỏi về một sự việc nào đó mà đôi khi mỗi một người trong chúng ta chưa thấu đáo. Chúng ta phải chấp nhận ý kiến khác nhau trong một tinh thần huynh đệ. Xử dụng những từ như “xuyên tạc” sẽ khiến mọi việc diễn ra trong một tinh thần chợ búa, đôi co không hay lắm. Chẳng hạn như tôi nói “hoặc ông Hoà nguyễn vì ngu dốt nên không tìm hiểu sự việc tới nơi tới chốn”. Thì khi đó sự việc sẽ dẫn tới đâu, chắc mọi người thừa biết.