talawas blog

Chuyên mục:

Vũ Hải Ngọc – Chùa Bái Đính: Kỷ lục và những điều chướng mắt (kỳ cuối)

08/04/2010 | 1:20 sáng | 155 Comments

Tác giả: Vũ Hải Ngọc

Category: Phóng sự ảnh, Tôn giáo
Thẻ:

24: Theo thông báo của nhà nước, công trình sẽ khánh thành vào năm 2015. Hẳn nơi đây sẽ trở thành cơ sở kinh doanh tôn giáo lớn nhất Đông Nam Á (vậy là sẽ có thêm một kỷ lục)!

25: Đại lễ trong chùa thật hoành tráng, nhưng không thấy Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà chỉ thấy Ban Tuyên giáo tham gia? Đảng Cộng sản Việt Nam, sau hàng chục năm được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác-Lê, thay vì tránh “thuốc phiện” thì lại dùng “thuốc phiện”!

26: Có bao nhiêu rừng nguyên sinh đã mất để lấy gỗ cho công trình này?

27: Nếu đặt hàng ông đồ này viết một câu đối bằng chữ Việt Nam, liệu ông ấy làm được không nhỉ?

28: Đúng là đại lễ, khắp nơi và nhiều thành phần, đặc biệt là xe công nhiều chứ không phải ít.

29: Cái cổng tam quan đẹp và hoành tráng thế mà lại treo cái băng-rôn chình ình ở đó (làm du khách muốn chụp một bức ảnh đẹp cũng khó), rồi phía trước cái cổng thì như cái chợ làng!

30: Cái bia này cực kỳ phản cảm về nhiều góc cạnh!

  1. Gọi là “Vườn cây doanh nhân 1000 năm” nhưng doanh nhân thực sự được mấy người? Hễ đứng đầu doanh nghiệp thì được gọi là doanh nhân?
  2. Phật tại tâm, đâu cần trần tục biết? Trên tấm bia này, chỉ cần khắc tên A, nhà B cho mỗi ông/bà góp tiền trồng cây nơi đây là đủ.
  3. Còn 5 năm (hoặc lâu hơn) nữa nơi đây mới khánh thành. Gắn một công trình đang dang dở với “1000 năm Hoa Lư – Thăng long” chẳng khác một sự ăn theo và chắp vá!

31 và 32: Phút thư giãn của sư (!)

33 và 34: Phút (…) của sư (!)

© 2010 Vũ Hải Ngọc

© 2010 talawas

Bình luận

155 Comments (bài “Vũ Hải Ngọc – Chùa Bái Đính: Kỷ lục và những điều chướng mắt (kỳ cuối)”)

  1. Phùng Tường Vân viết:

    Sức Sống Của Ngôn Từ

    “… Bạn lên tiếng đòi hỏi tôi trưng bằng cớ, tôi copy & paste cả một file cho bạn đọc, sau đó bạn cho đó là “lăn tăn”, thế thì tôi nói chuyện với bạn nữa làm chi.

    Thưa nhị vị Lê Quốc Trinh và P.

    Hai chữ “lăn tăn” lừng lững đi vào văn học và có nhiều phần là không chịu đi ra nữa là nhờ vào thi tài của nhà giáo, chính khách Trần Văn Hương khi ông cùng các bạn tù xướng họa trong “Ngục Trung Thi”; nếu “Ngục Trung Nhật Ký” còn được cuộc đời ngâm vịnh thì tôi tin là những câu thơ như “Ngồi buồn gãi háng d…lăn tăn” của Ngục Trung Thi cũng vẫn cứ cùng với non sông cùng tồn tại; nay thấy nó len được cả vào cuộc thảo luận của nhị vị thì không khỏi buột miệng phì cười một cách thật vô tư, sảng khoái không ngờ, và thật vui mừng trước một hiện tượng lạ lùng của ngôn từ. Để tránh mọi ngộ nhận xin thưa thêm là hoàn toàn không dám có dụng ý báng bổ .

  2. P viết:

    @LQT:

    Bác đã hiểu nhầm ý của tôi. Tôi nói tôi không thấy gì lăn tăn, tức không thấy có vấn đề gì, chứ không nói văn bản đó lăn tăn. Bác có thể đọc lại.

    Tôi đã nói rất rõ là bác đưa ra dẫn chứng khiến bác đặt vấn đề nghi ngờ. Khi bác đưa ra dẫn chứng mà không nói điều gì làm bác nghi ngờ thì tôi không đoán được, nên tôi hỏi lại.

    Tôi thấy trao đổi này quá đơn giản, thế mà giữa bác với tôi vẫn không đạt được một sự hiểu nhau. Thật đáng tiếc.

  3. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Thưa ông Lê Quốc Trinh,
    Đọc câu sau của ông: “Ông Sơn cứ tiếp tục tụng niệm Nam Mô A Di Đà Phật đi nhé, rồi thì Trí Tuệ sẽ được khai sáng đi đến giác ngộ, mai sau khi nhắm mắt ra đi thì cũng có người đưa đón dẫn dắt lên miền Tây Phương Cực Lạc để hưởng khoái lạc trên đó, biết đâu chừng”, tôi nhận thấy ông gần như chẳng hiểu gì về pháp môn Tịnh độ, vì căn bản ông chỉ “nghĩ’ rằng người tu pháp môn Tịnh độ là đợi đến lúc chết, có người dắt lên miền Tây phương Cực lạc để hưởng khoái lạc. Cái này, tôi nghe sao giống những chiến sĩ “tử đạo” ôm bom, mang gươm đi tàn sát các tôn giáo khác để nhận được phần thưởng trên “Thiên đường” quá.
    Những ý kiến mà tôi nêu ra trước đó với ông đều có nói rất rõ về “lý-sự Tịnh độ”, sự giao thoa giữa Thiền và Tịnh… Ngoài cái Tịnh độ được miêu tả trong kinh, còn có một Tịnh độ trong tâm nữa thưa ông. Bởi thế từ bao đời này, Tịnh độ tông lưu truyền câu nói “Tự tính Di Đà, duy tâm Tịnh độ”. Trần Nhân Tông nói “Tịnh độ chính là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương. Di Đà là tính lặng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc”. Thiền sư Nhất Hạnh rất thành công khi truyền đạo ở phương Tây cũng kết hợp rất rõ các phương pháp giữa Thiền và Tịnh. Hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm phổ biến ở nhiều quốc gia Phật giáo đại thừa phát triển như một người giàu lòng từ bi, cứu khổ cũng là hình ảnh của “Tịnh độ” đó thưa ông.
    Từ khi còn trẻ, tôi đã nghe mẹ tôi đọc và thuộc lòng như sau:
    “Môn niệm Phật phổ thông đệ nhất,
    Thực rõ ràng đường tắt không hai.
    Kể từ cổ vãng kim lai,
    Hiền ngu, già trẻ, gái trai đều thành.
    Tứ diệu giảng rành rành kể rõ,
    Tu môn nào dễ khó phân minh.
    Cốt sao chuyên nhất cho tinh,
    Chớ ngờ rằng Phật với mình cách xa.
    Đem sáu chữ Di Đà ấn tượng,
    Tâm tưởng đều không vướng tạp duyên.
    Tai nghe, bụng nghĩ, mắt nhìn,
    Rõ ràng chư Phật hiện tiền trước ta.
    Vì phút chốc lơ là tản mạn,
    Thời hôn trầm tán loạn hiện ngay.
    Phát tâm tinh tiến cho dày,
    Nối liền tịnh niệm đêm ngày chớ ngơi.
    Dù tịnh niệm còn chưa kế tiếp,
    Cứ giữ gìn tịnh niệm cho chuyên.
    Tâm tâm Tịnh độ tưởng liền,
    Dốc lòng cứ niệm thường xuyên Di Đà.
    Thời hiện tại không xa gang tấc,
    Ngay chốn này Cực lạc rồi đây.
    Không còn đợi đến sau này,
    Thân về an dưỡng tháng ngày thanh cao”.
    Tự tính Di Đà là tự tính sáng soi. Tôi niệm tính sáng soi của mình vẫn chưa chuyên, nên chưa có nhiều thành công trong pháp môn này để có nhiều an lạc như mẹ tôi. Nhưng tôi không thấy có bất cứ lý do gì để mong khi chết được ai đó xẹt hào quang đón đi đâu đó, bởi có nhân Tịnh độ thì ắt có quả Tịnh, mức độ an lạc tuỳ theo cái nhân mình đã gieo. Hơn nữa, người theo đạo Phật xem các kiếp có sự tiếp nối dựa trên nền tảng căn bản của giáo lý duyên sinh, nghiệp báo và nhân quả.
    Theo kinh Quán Vô lượng thọ, hành giả muốn được vãng sanh Tịnh độ phải hội đủ ba điều kiện: “Một là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, giữ lòng từ không sát hại, tu tập mười nghiệp lành. Hai là thọ trì ba pháp quy y, đầy đủ các giới không phạm oai nghi. Ba là phát Bồ Đề tâm, tin sâu lý nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người khác cùng tu”. Ba điều trên đây gọi là chánh nhân Tịnh độ. Ba điều này có thể tóm thâu vào hai việc, một là phát Bồ Đề tâm, hai là nghiêm trì tịnh giới.
    Có chánh nhân Tịnh độ rồi nhưng phải có duyên (tự tu tập cần chuyên, sự giữ gìn tịnh giới…) thì mới có quả Tịnh độ được. Đó là lý do pháp môn Tịnh độ nói nhiều về “tha lực” mà không bao giờ quên nhắc nhở việc “tự lực”. Nếu tôi tụng kinh niệm Phật nhiều mà tôi không thấy sự tiến bộ nào trong trải nghiệm cảm thọ (vui buồn) thì tôi sẽ chuyển sang pháp môn tu tập khác, sau tôi thấy kết hợp giữa Thiền và Tịnh có hiệu quả nên thực hành cho đến nay. Tôi nhớ không nhầm, có tôn giáo nói: “Phúc cho những ai không thấy mà tin”, nhưng niềm tin Tịnh độ của tôi là phải “thấy” được hiệu quả của nó cho thân tâm mình. Nếu không có hiệu quả gì cho thân tâm mình thì rõ ràng mình đã tu lạc rồi, pháp môn đó dù ai nói hay cũng chỉ biết “kính nhi viễn chi” mà thôi.

  4. Lê Quốc Trinh viết:

    Bạn P. này,

    Thảo luận với bạn kiểu này thì không mấy hứng thú. Bạn lên tiếng đòi hỏi tôi trưng bằng cớ, tôi copy & paste cả một file cho bạn đọc, sau đó bạn cho đó là “lăn tăn”, thế thì tôi nói chuyện với bạn nữa làm chi.

    Thôi bạn đi tìm chứng cớ lấy đi, có một cái Thư Viện Hoa Sen nhỏ xíu bạn còn lười không vào lục lọi, chẳng lẽ tôi làm chuyện đó dùm bạn nữa sao.

    Xin chào nhé,

  5. nguyen mai linh viết:

    Kinh sách Phật thì thiên kinh vạn quyển. Dựa trên một vài điều căn bản rồi tán rộng ra, mỗi người một phách, mỗi kinh một kiểu. Nhiều quá đâm loạn, không rõ ràng đâm ra vu vơ, mù mờ khó hiểu. Cho nên, bàn cãi về đạo Phật chỉ vô ích, tốn thì giờ mà lại không được gì, cứ nên để cho tùy duyên đi vậy

  6. P viết:

    Bác LQT:

    Bác đã copy, tôi đã đọc và cũng đã cám ơn bác. Nhưng đọc xong tôi không thấy có vấn đề gì. Theo tôi hiểu thì bác cho rằng bác thấy có vấn đề gì đó ở cái người dẫn đầu đoàn tuần hành này. Vậy nên tôi mới hỏi bác là vấn đề gì vậy. Có gì khó hiểu đâu bác?

    ***

    Còn thêm một chuyện về hòa thượng Thích Quảng Đức mà bác vẫn chưa giải thích cho tôi, đó là:

    1. Bác vẫn chưa chứng minh được hòa thượng Thích Quảng Đức là “người Hoa không biết nói tiếng Việt” như bác tuyên bố.

    2. Mà giả sử hòa thượng Thích Quảng Đức đúng là người Hoa không biết tiếng Việt thì ảnh hưởng thể nào tới pháp nạn 1963?

  7. Lê Quốc Trinh viết:

    Bác Hoà Nguyễn,

    Bác giải thích lòng vòng làm chi khi tránh né trả lời tôi những câu hỏi về “Phật A Di Đà”. Bác nên đọc cho kỹ, tôi đứng trên lập trường Giác Ngộ của Đạo Phật Trí Tuệ chính thống để bàn luận. Tôi không chống đối báng bổ Đạo Phật, tôi phê phán những đầu óc mê tín, chỉ biết tin mà không hiểu. Tôi không muốn đi tản mạn sang các tôn giáo khác, họ có vấn đề riêng của họ và họ có những xung đột đổ máu suốt mấy ngàn năm lịch sử nhân loại chỉ vì hai chữ “Duy Ngã”.

    Nhưng thôi, vấn đề đã đi quá xa rồi, tuy không lạc khỏi đề tài “Chùa Bái Đính”. Tôi chỉ nhắc nhở bác một lần nữa: “rằng nếu Phật Giáo VN cứ tiếp tục đi và con đường tín ngưỡng, tôn thờ hình tượng, không khác gì các tôn giáo khác, thì theo quy luật Nhân Quả tất nhiên sẽ phải gánh chịu mọi hậu quả của tôn giáo, có nghĩa rằng hoặc theo hoặc chống chính quyền Nhà Nước, hoặc có đụng chạm so bì với các tôn giáo khác”. Đó chính là hình ảnh Phật Giáo miền Nam trước kia và bây giờ. Trưóc bối cảnh tình hình đất nước VN, đạo đức suy đồi, giáo dục xuống cấp, hoạ mất nước gần kề, thì hình ảnh xây chùa vĩ đại, đúc tượng hoành tráng, tốn kém như chùa Bái Đính, Bình Dương và vô số hiện tượng mê tín dị đoan đã và đang ru ngủ dân tộc. Vì thế tôi mới lên tiếng.

    Chào bác, chấm dứt tranh luận ở đây.

  8. Hoà Nguyễn viết:

    Tôi nghĩ ông Nguyễn Mai Sơn sẽ trả lời câu viết của ông Lê Công Trinh sau đây :
    ” ba nguyên tắc Tịnh Độ Tông: TÍN, NGUYỆN, HẠNH (chứ không phải là Tín, Nguyện, Hành như ông đã nói)”.

    Nhưng tôi cũng xin góp trước vài ý , và về Tịnh Độ tông.

    Hạnh hay Hành (âm Hán Việt) có cùng một chữ Hán, lại còn có thể đọc là Hàng (như hàng không, hàng cây). Theo thói quen đọc từ lâu, chữ Hán này, nằm trong câu dẫn, thường được nghe dọc hay viết ra Quốc ngữ là Hạnh, nhưng tôi nghĩ viết là Hành , như ông NM Sơn dẫn là đúng với nghĩa hơn.
    Nhiều sách giảng về Tịnh Độ viết ba điều cần thiết của người theo Tịnh Độ là :
    _ Tín : tin kinh Phật, tin có Phật A Di Đà, có cõi Tịnh Độ, có sự tiếp dẫn, và tin pháp môn niệm Phật
    _ Nguyện: phát nguyện, ước muốn được sinh vào cõi Tinh Độ sau khi chết
    _ Hành: thực hành khi còn sống pháp Niệm Phật, hay quán tưởng Phật, cảnh Cực Lạc (theo kinh Quán Vô Lượng Thọ)

    Nếu Tin, Nguyện mà không thực hành, tu hành thì cũng vô ích, không đạt được kết quả gì. “Hành” dùng trong ý nghĩa đó, nên (nếu nay) đọc đúng âm thì phải hơn.

    Đạo Phật có “màu sắc tôn giáo” , hay tín ngưỡng nhất là thấy ở tông Tịnh Độ, mà tôi có dịp trình bày là một hình thức phát triển của Phật giáo ban đầu nảy sinh từ bên trong một nước Ấn Độ đa thần và sau tiếp xúc với nhiều nước ở Tây Bắc Ấn chịu ảnh hưởng của văn hoá Hy Lạp và nhiều tôn giáo, như đạo Bái Hỏa của Ba Tư, hay có thể thêm ý tưởng nào đó của đạo Do Thái từ Trung Đông đã đi theo đoàn quân xâm lược của đại đế Alexandre (sau đó ở lại trên đất Ấn). Nhiều ảnh hưởng khó truy nguyên giúp tạo thành Bổ tát đạo trong Phật giào Đại Thừa, và quan niệm về cõi Tây phương với Phật Vô Lượng Thọ (tức A Di Đà). Vì tính khế lý (hợp với chân lý), khế cơ (hợp với căn cơ)…, như ông NM Sơn dẫn, đạo Phật chấp nhận, dung hoà các khuynh hương triết học, tín ngưỡng ở những nơi truyền đến, với mục đích trước tiên có lẽ là để tồn tại, và sau là phát triển với hình thức phải thay đổi ít nhiều. Chúng ta biết đạo Phật với thuyết luân hồi đã được nghe nói tới ở trên đất Hy lạp (có thuyết cho do vua A Dục gửi phái đoàn Phật giáo đến) nhưng đạo Phật không phát triển được ở Hy Lạp hay ở châu Âu sau đó, có lẽ vì quá khác biệt về triết lý, tín ngưỡng, văn hóa (tức không khế cơ). Đặc sắc của tư tưởng Tịnh Dộ ở chỗ cho chỉ cần chuyên tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà thì được vãng sinh, nên được coi là pháp môn dễ thích hợp với nhiều người, và do đó đã phổ biến (nhanh chóng) khắp mọi tầng lớp, vì ai cũng có thể tu theo được. Cần phải mất bao lâu để giảng cho một người ngoài đạo Phật hiểu được ý nghĩa các kinh Phật khác, dù thuộc kinh điển nguyên thủy, hay hệ Bát Nhã ? Nhưng ở Ấn Độ khi tư tưởng Tịnh Dộ thành hình cũng không phải thành một tông phái riêng, dược tu hành riêng, mà nằm chung, như một bộ phận trong tư tưởng Đại Thùa. Ngài Long Thọ, tác giả Trung quán luận, Không luận (thuộc trường phái Bát Nhã), được coi là tổ khai sáng của Tam luận tông, Thiền tông, và cả Tịnh độ tông, Mật tông.

    Chỉ khi đến Trung Quốc, tư tưởng Tây phương Tịnh Độ mớí thành tông phái riêng, do công của Tuê hay Huệ Viễn thành lập Bạch liên xã năm 402. Vì là pháp môn “dễ tu”, nên Tịnh Độ tông đã phát triển nhanh chóng, rộng khắp hơn nhiều tông phái khác, ở Trung Quốc, Việt Nam, và Nhật Bản (có lẽ nhiều nhất trong nông dân). Gần đây, trong Phật giáo (VN và Trung Quốc) có khuynh hướng “Phật giáo nhập thế”, muốn kiến lập Tịnh Độ ở ngay cõi Ta bà. Tịnh dộ tông Đàì Loan rất chú trọng hoạt động xã hội, từ thiện và việc phổ biến kinh sách Phật, Tịnh dộ.

    Daisetz T. Suzuki tác giả bộ Thiền Luận, khi giới thiệu đạo Phật cho người Tây phương, chủ yếu bàn về Zen hay Thiền. Nhưng ông cũng nói về Tịnh độ tông và Bồ tát đạo. Ai muốn hiểu về Tịnh đô ở nhận thức cho là cao hơn mức “thấp hay tầm thường” của sách giảng VN (hay Đài Loan) thì thử tìm đọc ông.

    Ông Lê Quốc Trinh khi chống quyết liệt Tịnh độ tông nhân danh chống mê tín, tôi đã coi như một thứ định kiến, mà Phật giaó gọi chung là kiến chấp, hay biên kiến (chỉ thấy một bên, môt góc cạnh theo cái nhìn nhị nguyên), và như ông NM Sơn viết, cũng từng thấy tương tự trong giới Phật giáo, như Thiền tông trước kia. Nhưng ông Trinh cũng xét lại coi khi làm thế có phải vô tình tiếp tay nhà cầm quyền trong nước chống lại các tôn giáo không (nếu cho Tịnh độ và Phật A Di Đa là mê tín, thì có cho Thiên đường, các giáo chủ, hay tiên tri của đạo khác cũng mê tín không), còn dựa vào lý cớ nên bài bác Tịnh Độ, chống chuyện cầu siêu, để chống Trung Quốc tốt hơn, thì không thể cười được (khi mà ở Ba Lan vừa có hàng trăm ngàn hay cả triệu người dự lễ tưởng niệm các nhà lãnh đạo nước họ). .

  9. Lê Quốc Trinh viết:

    Bạn P. đã từng hỏi:

    “Ai đứng ra tổ chức tuần hành tôi không nhớ, nhưng nếu bác có link để dẫn chứng điều gì đó đáng ngờ về người tổ chức tuần hành xin bác cứ đưa lên đây cho mọi người xem. Cái link trong comment trước của bác không mở được, còn TVHS thì bạt ngàn vô số tôi không thể tìm”.
    …………………………………………

    Ô hay ! Bạn P. thắc mắc và hỏi về đương link reference thì tôi cung cấp, bạn than phiền không mở được, bạn ngại vào ThuVienHoaSen cả vô số bạt ngàn files không biết đường nào mà lần, thì tôi sao chụp toàn bộ bản tin cho bạn P đọc, bây giờ bạn nói không có gì phải lăn tăn cả, lạ thật nhỉ !

    Thôi nhé, tôi sẽ không mất thì giờ với bạn nữa đâu.

    Xin chào,

  10. P viết:

    Cám ơn bác Lê Quốc Trinh. Tôi đã đọc và không thấy có điều gì kỳ lạ để mà lăn tăn cả. Như đã yêu cầu, nếu bác có gì nghi vấn/khúc mắc với đoạn văn trên, xin trình bày cho tôi được rõ.

  11. Lê Quốc Trinh viết:

    Cám ơn phản hồi cúa ông Nguyễn Mai Sơn .

    Ông Sơn cứ tiếp tục tụng niệm Nam Mô A Di Đà Phật đi nhé, rồi thì Trí Tuệ sẽ được khai sáng đi đến giác ngộ, mai sau khi nhắm mắt ra đi thì cũng có người đưa đón dẫn dắt lên miền Tây Phương Cực Lạc để hưởng khoái lạc trên đó, biết đâu chừng.

    Tôi xin chấp nhận làm số kiếp con người tiếp tục sống trên quả địa cầu này. Ông giải thích chữ Hành của Tịnh Độ như thế thì cứ để cho môn đồ Tịnh Độ đàm luận với ông.

    Xin hết lời,

    Mến chào ông,

  12. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Thưa ông Lê Quốc Trinh,
    Mong ông đọc lại những lời của ông: “Bao nhiêu chứng từ đó đưa ra đã đủ để trình bày cho mọi người thấy tính chất hoang đường, mê tín của một hình tượng mà hầu như ít ai để ý, và vẫn tiếp tục tụng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” vẫn mơ ước được vãng sanh lên Tây Phương Cực Lạc … sau khi chết”.

    >> Tôi xin hỏi ông đây có phải một lời phê phán? Nếu tôi phê phán ông “thích tranh luận, cãi cọ” thì thưa ông đó cũng là hình thức “thảo luận tự do dân chủ cởi mở”, như ông phê phán nặng lời về người khác (những người tu theo pháp môn Tịnh độ, nhiều hơn cá nhân tôi và ông). Nếu ông thấy tôi phê phán ông về chuyện tranh cãi về pháp môn Tịnh độ như vậy là nặng lời thì tôi được xin lỗi ông, dù tôi hiện nay cũng tu theo pháp môn “Thiền – Tịnh song tu”. Mẹ tôi từng tu “Thiền – Tịnh song tu” và bà đã từng khỏi bệnh hen suyễn và đạt được nhiều an lạc trong tâm.

    >> Trong ý kiến với ông, tôi viết rất rõ: “Khi một tông phái mà lấy 3 điều Tín, Hành, Nguyện (Tín sâu, Hành rộng, Nguyện lớn) làm cốt yếu thì việc cãi cọ, lý luận không được những người theo pháp môn Tịnh Độ quan tâm. Và anh cứ tiếp tục đứng ở góc nhìn của anh mà cãi cọ lý luận, vì đó là phần việc của những người tu theo pháp môn “cãi cọ và lý luận””. Đó là phần việc của ông và phần việc của những người tu theo pháp môn Tịnh độ (trong đó có tôi).

    >> Ông nói tôi rằng: “Trên căn bản ông đã nhầm lẫn khi trình bày về ba nguyên tắc Tịnh Độ Tông: TÍN, NGUYỆN, HẠNH (chứ không phải là Tín, Nguyện, Hành như ông đã nói)”. Nhưng thưa ông, ba điều tôi dẫn rất chính xác: Phải bắt đầu từ “Tín” sau đó “Thực Hành” và cuối cùng là “Phát Nguyện”. Không “Thực Hành” trước làm sao mà “Nguyện” (cho ai được). Chữ “Hạnh” mà ông dẫn vốn là nguyên âm Hán Việt, đọc là “Hành” hay “Hạnh” đều không sai nghĩa.

    >> Dù pháp môn Tịnh độ có yếu tố căn bản dựa vào “Tha lực”, nhưng không khi nào tách khỏi “Tự lực” (thực hành thâm sâu). Trong kinh A Di Đà quyết chắc: “Nếu ai đó niệm Phật từ một cho đến 7 ngày, nhất tâm bất loạn, thì quyết định sẽ vãng sinh”, lúc đó nhân gian này chính là Tịnh độ đó thưa ông Lê Quốc Trinh. Thưa ông, nhiều nhà luận giải xưa nay đã thống nhất chỉ ra rằng, niệm Phật mà “nhất tâm bất loạn” thì không khác gì đạt cảnh thượng thừa thiền. Vì lẽ đó, Thiền – Tịnh song hành đã được áp dụng nhiều thế kỷ nay ở các quốc gia Phật giáo Đại thừa phát triển như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Tây Tạng.

    >> Ông viết: “Ông Sơn nói về PHẬT mà chẳng bao giờ hiểu Phật là gì ? Giác Ngộ là chi? Vì thế cho nên cứ chìm đắm mãi trong giấc mơ, trong khi thế giới nhân loại xung quanh mỗi ngày mỗi tiến lên vượt bậc”. Thế giới vẫn ngày tiến thêm một bậc, nhưng những người đạt được hạnh phúc và niềm an lạc từ việc thực hành pháp môn Tịnh độ vẫn rất đông đảo trên thế giới này, vật chất vẫn hkông thể đo được. Riêng việc ông Trinh không thấy được một chút lợi ích nào của pháp môn Tịnh độ, (thậm chí chẳng hiểu gì về Pháp môn Tịnh độ), tôi cũng có thể dùng lại ý của ông “ông Lê Quốc Trinh nói về PHẬT mà chẳng bao giờ hiểu Phật là gì ? Giác Ngộ là chi? Vì thế cho nên cứ chìm đắm mãi trong giấc mơ (gì đó của ông), trong khi thế giới nhân loại xung quanh (đang ít nhiều điên đảo vì làn sóng vật chất) đang mỗi ngày mỗi tiến lên vượt bậc (gây thảm họa cho môi trường sống)”.

    >> Không thể mình ăn mà người khác no được, chính vì thế tôi nói đạo Phật là “thực nghiệm”. Ông Lê Quốc Trinh chưa từng niệm Phật mà cứ bảo người khác niệm Phật là “mê tín”, thì có lẽ cả nhân loại này đều đang “mê tín” một điều gì đó mà vẫn không hề biết mình đang “độc quyền mê tín”. Nếu ông Lê Quốc Trinh là một nhà khoa học, tôi là người tu theo pháp môn Tịnh độ, tôi bảo ông Lê Quốc Trinh chẳng hiểu biết gì về khoa học cả không khéo, ông Lê Quốc Trinh sẽ xem việc tranh luận về “khoa học” với tôi (chẳng biết khoa học là gì) giống như đánh nhau với cối xay gió vậy.

  13. Lê Quốc Trinh viết:

    Day la chung tich, moi ban P. vao doc:

    VỤ TỰ THIÊU CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỨC
    (Hòa Thượng Thích Đức Nghiệp viết)

    …………vào 8 giờ tối ngày 10-6-1963, hai Thượng tọa Tâm Châu và Thiện Hoa có cho xe vào Ấn Quang, mời tôi (Thích Đức Nghiệp) ra Xá Lợi bàn Phật sự gấp. Khi tới Xá Lợi, tôi gặp hai vị Thượng tọa đang ngồi phòng khách.

    Thượng tọa Thiện Hoa nói là :

    – Phật giáo mình đương bị lâm nguy quá, nhất là tại Huế hiện nay….

    Thượng tọa Tâm Châu nói theo :

    – Ngày mai, buổi sáng chủ nhật, tới phiên tôi rước linh và cầu siêu tại chùa Phật Bửu Tự, do Hòa thượng Thích Minh Trực tổ chức, tại đường Cao Thắng, Quận 3. Vậy Thầy về hỏi lại ý nguyện tự thiêu của Hòa thượng Quảng Đức, hiện đương tụng kinh Pháp Hoa tại Ấn Quang. Nếu Hòa thượng đồng ý, thì ngay sau khóa lễ ở Phật Bửu Tự, trên đường về Xá Lợi, Thầy tìm mọi cách có hiệu quả nhất, để Hòa thượng Quảng Đức được tự nguyện tự thiêu, đồng thời để cứu nguy cho Phật giáo hiện nay.

    Khi về, tôi gặp ngay Hòa thượng Quảng Đức ở chùa Ấn Quang.

    Sau khi tôi hỏi :

    – Hòa thượng còn giữ nguyện tự thiêu như lá thơ Hòa thượng đã gởi cho Liên Phái trước đây không ?

    Hòa thượng mừng rỡ trả lời :

    – Tôi sẵn sàng tự thiêu để cúng dường Tam Bảo và để giác ngộ cho chính quyền mau mau thỏa mãn năm nguyện của Phật giáo.

    Tôi (Thích Đức Nghiệp) nói thêm :

    – Vậy Hòa thượng hãy đi nghĩ và sáng mai, con sẽ tổ chức cho Hòa thượng tự thiêu cho Hòa thượng được thành tựu viên mãn.

    Song Hòa thượng nói thêm :

    – Đại đức cho tôi được lễ tạ Phật và Thượng tọa Thiện Hoa, tôi sẽ nói : Ngày mai tôi phải đi xa vì Phật sự, đồng thời cho tôi viết một lá thơ gởi cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

    Tôi trả lời đều được cả, nhưng tuyệt đối Hòa thượng không nên để cho ai biết việc tự thiêu này. Sau đó, tôi đến phòng Thượng tọa Thiện Hoa mới ở Xá Lợi về để xin ít tiền mua sắm xăng để thiêu và vải để viết biểu ngữ cho sáng ngày mai. Tiếp theo tôi gọi anh lái xe ô tô Austin của Phật tử Trần Quang Thuận gởi ở Ấn Quang và nhờ anh ta đi mua xăng và vải, đồng thời tôi nhờ anh ấy chở Hòa thượng Quảng Đức đi dự lễ tại Phật Bửu Tự.

    Kế đó, tôi họp ngay mấy Thầy lại để phân công vào việc sáng mai :

    Thầy Chân Ngữ có trách nhiệm đổ hết xăng từ đầu tới chân Hòa thượng Quảng Đức khi cùng ngồi trên xe Austin để đi tới ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt trước tòa Đại sứ Cao Mên.

    Thầy Trí Minh phải ngồi cùng hàng ghế trước để bảo anh lái xe phải dừng lại ở ngã tư đường nói trên, rồi làm bộ chữa xe để Hòa thượng bước xuống đường và ngồi tự thiêu.

    Thầy Hồng Huệ giữ trật tự, Tăng Ni đi thành hai hàng và xe của Hòa thượng từ từ đi ở giữa.

    Tôi (Thích Đức Nghiệp) đi bên cạnh xe của Hòa thượng. Khi xe ngừng lại Hòa thượng bước xuống, tôi trao tay Hòa thượng bao quẹt và bao diêm để Hòa thượng tự bật lửa thiêu.

    Bùng cháy ! Ngọn lửa ngất trời ! Không thể nào tả xiết nỗi bàng hoàng của tất cả Tăng Ni và những người đứng xung quanh ! Lệ rơi ! Tiếng khóc vang lên !

    Lập tức, tôi yêu cầu hai mươi vị Tăng Ni ra nằm chặn ở bốn đầu đường để xe cứu hỏa không thể vào nơi thiêu của Hòa thượng Quảng Đức. Biết rằng trong lúc tự thiêu này, có cả Simon Michaud, đại diện hãng thông tấn AFP của Pháp; Malcome Browne, đại diện AP của Mỹ và Neel Shihanm, đại diện UPI; đều chứng kiến tận mắt và xe của Đại tướng Hakins Mỹ cũng tới chỗ hỏa thiêu này.

    Sau 30 phút, thi hài của Hòa thượng Thích Quảng Đức được rước về chùa Xá Lợi trên một lá cờ Phật giáo. Tới cổng chùa ông Mai Thọ Truyền nằm lăn trên đất dưới thi hài của Hòa thượng từ cổng tới cửa nhà giảng. Rồi những làn sóng người bốn phương tràn tới chùa Xá Lợi để kính viếng một Bồ tát đã thiêu thân. Đài phát thanh trong nước và khắp thế giới đều kính cẩn đưa tin tự
    thiêu nay…….

    http://www.thuvienhoasen.org/qdhoith…hducnghiep.htm

  14. Lê Quốc Trinh viết:

    Chào ông Nguyễn Mai Sơn,

    Tôi phân vân không biết có cần phải hồi âm những lời phê phán của ông về tôi. Trên căn bản ông đã nhầm lẫn khi trình bày về ba nguyên tắc Tịnh Độ Tông: TÍN, NGUYỆN, HẠNH (chứ không phải là Tín, Nguyện, Hành như ông đã nói).

    Tịnh Độ Tông dựa trên căn bản tin vào “tha lực” tức là đặt niềm tin trên một hình ảnh bên ngoài (Phật A Di Đà), thay vì quay vào bên trong nội tâm để phát huy Phật Tính (Giới, Định, Tuệ) theo phương pháp chính thống của Đức Thế Tôn, mục tiêu sau cùng là Giác Ngộ (Hiếu và Thấy được Sự Thật) để phá tan bức màn Vô Minh, tự giải thoát mọi Khổ Não.

    Ông Sơn giải thích lòng vòng cuối cùng cũng là chỉ trích tôi hay “thích tranh luận, cãi cọ”. Ông Sơn đâu có biết rằng hình thức thảo luận tự do dân chủ cởi mở là phương thức sử dụng hàng ngày của Đức Phật Thích Ca mỗi lần đi thuyết pháp. Buổi thảo luận đầu tiên chính là Ngài tìm đến gặp anh em Kiều Trần Như trong khu rừng để giảng cho họ nghe bài Tứ Diệu Đế, ông Sơn còn nhớ chứ ?

    Ông Sơn nói về PHẬT mà chẳng bao giờ hiểu Phật là gì ? Giác Ngộ là chi ? Vì thế cho nên cứ chìm đắm mãi trong giấc mơ, trong khi thế giới nhân loại xung quanh mỗi ngày mỗi tiến lên vượt bậc.

    Ông không thích tranh luận thì thôi.

    Mến chào ông,

  15. Trung Thứ viết:

    Cảm ơn bác Lê Anh Dũng về tấm chân tình qua phản hồi của bác. Tôi xin phép mạo muội trao đổi thêm một vài khía cạnh được bác gợi mở.

    1. Quan niệm về kiếp luân hồi trong Phật giáo như bác nêu ra rõ ràng khác với quan niệm về cuộc sống trong niềm tin Ki-tô giáo – ấy là: trên trần thế này mỗi người chỉ có duy nhất một kiếp sống mà thôi, liệu sống sao cho phải.
    Tín điều có hỏa ngục của Ki-tô giáo cũng khác của Phật giáo. Hỏa ngục thuộc về những thiên thần dám chống lại Thiên Chúa cùng những kẻ theo nó, bị gọi chung là ma, quỉ. Tuy nhiên, giáo hội Công giáo không dám và không có quyền khẳng định từ tạo thiên lập địa tới bây giờ đã có con người nào phải sa vào hỏa ngục hay chưa. Trong Ki-tô giáo, không điều luật nào thể hiện sự tự do của con người cho bằng tín điều có hỏa ngục. Với lòng Chí Ái và Toàn Năng của Thiên Chúa mà vẫn còn có kẻ sa hỏa ngục thì chỉ là những con người thẳng thừng từ chối Ơn Cứu Độ Thiên Chúa mà thôi. Ngoài ra, tín điều đó còn nhắc nhở con người ta phải hết sức thận trọng với cuộc sống mình vì từng thời khắc cuộc sống trên dương thế có thể quyết định vận mạng đời đời của chính họ.
    Bác Lê Anh Dũng Viết: „Tôi sẵn sàng làm một con ma hiền.“. Hình như cũng đã có một vị thánh nói rằng: „nếu trong hỏa ngục có Thiên Chúa thì tôi xin xuống đó, vì ít ra ở đó cũng có một linh hồn yêu mến và thờ phượng Người“. Thiên Chúa là tình yêu, ở đâu có sự kết liên trong tình yêu thì trạng thái đó đâu còn là hỏa ngục nữa.

    2. Theo tôi, dù những hiểu lầm về đạo hiếu với niềm tin Ki-tô giáo có được làm sáng tỏ dưới tinh thần Phúc Âm ( http://www.vjol.info/index.php/rsr/article/view/2078/2021 ) thì không có gì bảo đảm rằng đạo Công Giáo sẽ hết bị dị ứng dù bất cứ nơi nào trên thế giới.
    Quả vậy, Chúa Giêsu bị người Do Thái giết bởi tội phạm thượng, dám xưng mình là con Thiên Chúa, dám nhân danh Chúa tha tội cho người khác, rao giảng những giáo lý hoàn toàn trái ngược với lề luật Môi-sen và xa lạ với văn hóa Do Thái. Qua miền đất thuộc nền văn hóa La-Hy tôn giáo này cũng bị bách hại. Khi được truyền qua Đông phương, các vua chúa, thậm chí là những vị minh quân, xem nó là „Tây dương tả đạo“, tìm mọi cách ngăn chặn để bảo vệ đạo thánh hiền của họ. Lý do bách hại đạo Công giáo là có thể hiểu được, nhưng bảo rằng đấy là „Tây dương tà đạo“ thì là sự hiểu nhầm, vì như đã trình bày Ki-tô giáo rõ ràng không phải là của dân tộc Do Thái, của Phương tây.

    Nguyên do được giải thích thế này: NẾU quả thật Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, xuống thế làm người, thì đạo Công giáo rõ ràng là đạo xuất phát từ Trời nên nó có những giá trị, chuẫn mực, quan niệm hoàn toàn khác với mọi nền văn hóa được biết đến từ cổ chí kim trên toàn thế giới thì cũng không lấy gì làm lạ. Nếu đúng vậy, tôn giáo này như một dòng nước bắt nguồn từ Trời còn Do Thái hay phương Tây, phương Đông cũng chỉ là những khúc sông mà dòng nước đó sẽ tuần tự chảy qua. Tất nhiên, khi dòng nước Cứu Độ đó chảy qua đâu thì sẽ mang theo ít nhiều phù sa (phảng phất những nét văn hóa) của những vùng đất đó. Giả sử, Chúa Giêsu không sinh ra ở Do thái mà ở nước Đại Việt hay các Tông đồ Chúa thay vì trước hết đi tới phương Tây mà quyết định đi sang phương Đông để rao giảng Tin Mừng thì hướng lan truyền của Kitô giáo cũng đã khác.

    3. Sự khác biệt, thậm chí trái ngược giữa đức tin Kitô giáo và các tôn giáo khác là một thực tế. Đối thoại giữa các tôn giáo cũng chỉ để là hiểu biết hơn, tránh những nhầm lẫn đáng tiếc giữa các tôn giáo mà thôi, còn muốn khắc phục những khác biệt thì chỉ còn cách đánh mất căn tính Ki-tô giáo. Công giáo không răn dạy về đạo đức nghiêm nhặt như Khổng giáo trong phép tu thân, cũng không có triết lý thâm sâu như Phật giáo, mà chỉ giới thiệu về một mối tương quan liên ngã vị giữa mình với tha nhân và với Thiên Chúa được thiết lập, duy trì nhờ ơn Cứu Độ. Mối tương quan đó là: mọi người được mời gọi (không phải ép buộc như phẫu thuật cấy ghép) trở nên một thân thể nhiệm mầu mà Chúa Kitô là đầu. Điều lạ lùng là, một thân thể mà lại gồm những ngã vị có tự do tuyệt đối. Mầu nhiệm này được tiếp nối bởi mầu nhiệm một Chúa ba Ngôi. Nếu (lại „nếu“) mầu nhiệm này được phát xuất từ một người phàm trần dù siêu việt tới mức nào thì cũng chẳng ai nghe cho vì nó là một điều phi lô-gích nhưng nếu từ Thiên Chúa thì hoàn toàn hợp lô-gích nội tại, vì Ông ta là đấng toàn năng.

    Nếu Tin mừng Kitô được rao rao giảng như hàng ngàn năm trước bị một số người Do Thái hay La Mã cho là sự điên rồ thì cũng phải để vậy (Tông Truyền) nhằm giúp những người không tin biết đường dứt khoát xa lánh, còn hơn làm cho nó phù hợp với các tôn giáo khác để lắm người tin theo mà chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Vì như thế chẳng khác sự lừa bịp. Còn đối với những người đã tin rằng đấy thực là kế đồ Cứu Độ của Thiên Chúa giành cho loài người, nếu biến đổi đi thì chẳng khác gì đẩy họ xa Thiên Chúa.

    Theo tôi điều đáng lo ngại nhất ngày nay cho Ki-tô giáo không phải là sự khác biệt giữa tôn giáo này với các tôn giáo khác mà là ở nguy cơ đời sống vật chất lấn át mọi chiều kích tâm linh nơi mỗi con người

1 … 8 9 10 11
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>