talawas blog

Chuyên mục:

Vũ Hải Ngọc – Chùa Bái Đính: Kỷ lục và những điều chướng mắt (kỳ cuối)

08/04/2010 | 1:20 sáng | 155 Comments

Tác giả: Vũ Hải Ngọc

Category: Phóng sự ảnh, Tôn giáo
Thẻ:

24: Theo thông báo của nhà nước, công trình sẽ khánh thành vào năm 2015. Hẳn nơi đây sẽ trở thành cơ sở kinh doanh tôn giáo lớn nhất Đông Nam Á (vậy là sẽ có thêm một kỷ lục)!

25: Đại lễ trong chùa thật hoành tráng, nhưng không thấy Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà chỉ thấy Ban Tuyên giáo tham gia? Đảng Cộng sản Việt Nam, sau hàng chục năm được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác-Lê, thay vì tránh “thuốc phiện” thì lại dùng “thuốc phiện”!

26: Có bao nhiêu rừng nguyên sinh đã mất để lấy gỗ cho công trình này?

27: Nếu đặt hàng ông đồ này viết một câu đối bằng chữ Việt Nam, liệu ông ấy làm được không nhỉ?

28: Đúng là đại lễ, khắp nơi và nhiều thành phần, đặc biệt là xe công nhiều chứ không phải ít.

29: Cái cổng tam quan đẹp và hoành tráng thế mà lại treo cái băng-rôn chình ình ở đó (làm du khách muốn chụp một bức ảnh đẹp cũng khó), rồi phía trước cái cổng thì như cái chợ làng!

30: Cái bia này cực kỳ phản cảm về nhiều góc cạnh!

  1. Gọi là “Vườn cây doanh nhân 1000 năm” nhưng doanh nhân thực sự được mấy người? Hễ đứng đầu doanh nghiệp thì được gọi là doanh nhân?
  2. Phật tại tâm, đâu cần trần tục biết? Trên tấm bia này, chỉ cần khắc tên A, nhà B cho mỗi ông/bà góp tiền trồng cây nơi đây là đủ.
  3. Còn 5 năm (hoặc lâu hơn) nữa nơi đây mới khánh thành. Gắn một công trình đang dang dở với “1000 năm Hoa Lư – Thăng long” chẳng khác một sự ăn theo và chắp vá!

31 và 32: Phút thư giãn của sư (!)

33 và 34: Phút (…) của sư (!)

© 2010 Vũ Hải Ngọc

© 2010 talawas

Bình luận

155 Comments (bài “Vũ Hải Ngọc – Chùa Bái Đính: Kỷ lục và những điều chướng mắt (kỳ cuối)”)

  1. Trung Nu Hoang viết:

    @ Lee Can (17/4): (LC)
    Trong PH của bác LC, có đoạn cuối như sau: “(Vừa đọc thấy ông/bà Trung Nu Hoang cũng nói tương tự nhưng rồi qui kết mọi trách nhiệm cho nhà cầm quyền. Làm tôi nhớ thời nhỏ, trước năm 1975, ngày vẫn thường còn đến Thích Ca Phật Đài phá phách, trộm trái cây vv. thì người ăn xin, buôn bán cũng đầy rẫy, không chỉ ở bên ngoài cổng mà thôi…”

    Thời kỳ VNCH, hoàn toàn là những năm chiến tranh, loạn lạc; đặc biệt vùng nông thôn nơi xẩy ra những cuộc chiến đẫm máu để tranh giành quyền kiểm soát của 2 bên: QG và CS. Nhiều người bị bom đạn gây thương tích mất khả năng lao động, không ít người bị nhà tan, cửa nát, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa… Trong khi đó, ngân sách NN, dù được Mỹ viện trợ dồi dào, phần lớn được dành cho chi phí chiến tranh với Quân đội, Cảnh sát, Chiêu hồi, Công chánh (xây dựng lại các cầu cống, cơ sở, trường ốc bị phá sụp) v.v. Ngoài ra, CP còn có trách nhiệm lo nuôi dưỡng con cái gia đình tử sĩ, nên không thể “bao dàng” hết các thành phần nghèo khó, mất nhà mất cửa từ các vùng quê chạy loạn vào thành phố để kiếm sống, mặc dù Bộ Xã Hội có nhiều cơ sở ở khắp các Tỉnh, Thành phố để giúp cho những nạn nhân chiến cuộc một phần nào. Do đó, trên đất nước vẫn còn có nhiều người ăn xin, lay lắt ở một số các chùa, nhà thờ xin ăn của “thập phương”… Vả lại VNCH không hề vỗ ngực phô trương: “đấu tranh giai cấp, xóa sạch bất công xã hội, bảo vệ quyền lợi cho “người cùng khổ” [nhớ lại tâp san “Le Paria” và “Le Procès du Prolétariat” thời kỳ 1930-40 của cụ Hồ ở Pháp] như NN/XHCN. Hiện nay, đã 35 năm sau ngày Thống Nhất, Hòa Bình, từ Nam chí Bắc không còn cảnh bom rơi, đạn lạc. NNVN lại bao biện, quản lý hết thảy các lĩnh vực, ngoại trừ… người nghèo khó! Chỉ xin nêu lên sự khác biệt về hoàn cảnh, điều kiện… ở 2 thời điểm khác nhau của 2 chế độ khác nhau. Xin cám ơn bác LC đã giúp cơ hội để tôi có thể làm sáng tỏ chi tiết đã nêu.

  2. Lee Can viết:

    @bác Lê Quốc Trinh

    1. Về khoa học định lượng – định tính. Lời bác nói làm nhớ đến Francisco Varela, một chuyên gia nổi tiếng trong nhiều lãnh vực khoa học. Ông này và một số các khoa học gia-hành giả Phật tử khác (đại đa số là Tây phương) cho rằng khoa học định lượng không đủ để hiểu về sự sống, và giới hạn đó thấy được từ làn ranh tâm-sinh lí trở lên, và dĩ nhiên nó được thấy rõ ở “giao diện” tâm linh-tâm lí. Họ muốn phát triển một phương pháp luận khoa học mới mẻ trong đó có mặt “khoa học định tính Phật giáo”.

    Để cụ thể hoá phần nào chuyện này: Các phương pháp thiền quán Phật giáo (“khoa học định tính” của họ!) đã đưa đến một số những kết quả được khoa học (định lượng) ghi nhận nhưng đã không giải thích thoả đáng được. Đối với các chuyên gia khác (đại đa số, dĩ nhiên), điểm yếu này sẽ có lúc giải quyết được khi khoa học chính thống tiến bộ hơn bây giờ. Để biện minh, các khoa học gia Phật tử cố gắng lí luận rằng điểm yếu này có tính nguyên tắc chứ không tạm thời. Bên cạnh đó dĩ nhiên họ cũng đã phải nỗ lực trình bày tư tưởng, phương pháp luận Phật giáo theo một ngôn ngữ cho thấy “khoa học định tính Phật giáo” đúng là một khoa học.

    Thời nào ngôn ngữ đó. Trong các giảng giải của Phật, bên cạnh việc sử dụng dụ ngôn thích hợp cho đám đông, có vô số suy luận, phân tích thuần lí, và đó là “ngôn ngữ khoa học” trong hàng nghìn năm qua. Nhưng bây giờ ngôn ngữ khoa học có thêm những đòi hỏi mới.

    Việc đưa khoa học và Phật giáo đến gần nhau hơn, việc này khó mà nói sẽ đi đến đâu. Nhưng một trong các thành quả cụ thể, gây ấn tượng, là sự chuyển dịch tư tưởng Trung luận (thuộc hệ thống Bát-nhã/Tánh Không) sang ngôn ngữ cybernetics (!), đã được nhiều hơn một giáo sư tâm lí học đem nghiên cứu và giảng dạy ở một số đại học. Cũng nói thêm là, việc Dalai Lama tạo điều kiện để các tu sĩ Tây Tạng học khoa học tự nhiên, đấy hẳn là sự chuẩn bị nhân sự để “tối ưu hoá” tiến trình đối thoại khoa học-Phật giáo: Có một đội ngũ hành giả có khả năng diễn bày Phật giáo theo ”ngôn ngữ mới” và đối thoại trực tiếp với khoa học gia.

    2. Trở lại chuyện tông phái, trước hết xin dẫn lại lời bác: “suốt 2500 năm nay có vị sư nào chịu khó tìm hiểu và phân tích kỹ lưỡng đâu, họ đâu đủ khả năng kiến thức khoa học uyên bác để làm một nghiên cứu khoa học thâm sâu, cho nên họ chỉ có cách dùng lời lẽ bí hiểm, từ ngữ lạ lùng, câu văn thần bí…”

    Khoa học hay không khoa học đã được nói thoáng qua ở trên. Nếu bác cần chứng liệu cụ thể thì sẽ có, kể cả những cái chỉ được gợi ý dưới đây. Còn “lời lẽ bí hiểm, câu văn thần bí”, nó có thể thích hợp để nghĩ đến các công án của Thiền tông. Đó là một hình thức câu đố không có lời giải mà thầy trao cho trò khi trò đã qua một quá trình tu tập với thành quả nhất định. Mục đích và thành quả của sự tu tập công án đã được tìm hiểu, giãi bày cặn kẽ trong rất nhiều công trình học thuật nghiêm túc. Không thể xem thường và suy đoán tiêu cực chỉ vì mình thấy chúng dị thường, vô lí.

    Ngoài ra thì những kinh sách, luận giải xưa phải có nhiều chỗ ít nhiều tạo ấn tượng “lời lẽ bí hiểm, câu văn thần bí”. Nhưng đây là do người nay không có kiến thức của người xưa và không đặt mình được vào bối cảnh tư tưởng của họ (tương tự như người phê bình một điều gì đó trong một tôn giáo mà không đủ kiến thức cần thiết về tôn giáo đó và không khả năng suy luận theo bối cảnh giáo thuyết đó, thì thường là chỉ nói bậy!). Những bản dịch với chú giải kĩ lưỡng, khoa học của các nhà chuyên môn do đó rất cần thiết. Đọc thì hiểu vì sao họ, các nhà Phật học, đánh giá cao, nhiều khi cực cao, các trước tác của những nhà khai tông lập phái thời xưa như những nỗ lực khoa học để hệ thống hoá, phân tích, khai triển các phương diện trong giáo lí của Phật. Thế thì làm sao có chuyện từ xưa đến nay không ông sư bà vãi nào chịu khó tìm hiểu rốt ráo, sâu xa giáo thuyết của Phật!

    Còn các sư, ni ngày nay, nếu giảng những điều cụ thể, quen thuộc trong giáo pháp, mà cũng đầy “lời lẽ lạ lùng, câu văn thần bí”, thì Lee Can có xu hướng chấp nhận phê phán của bác!

  3. Lê Anh Dũng viết:

    Cám ơn bác Trung Thứ về tài liệu ( http://www.vjol.info.vn/index.php/rsr/article/view/2078/2021 ). Đoạn về “ma qủi” trong tài liệu này được minh họa đặc sắc, và cập nhật hóa bởi ý của bác Lê Quốc Trinh (“biến Đạo Phật thành một loại thờ cúng người chết, tin vào ma quỷ”) cho thấy Ki-tô giáo có một cái nhìn về “ma qủi” rất khác với Phật Giáo, các tôn giáo, các văn hóa khác. Cách nhìn khác, rồi ứng xử khác này là một nguyên nhân của vô số xung đột, rất nhiều khi đẫm máu giữa Ki-tô giáo và không Ki-tô giáo.

    Là người không tôn giáo (nhưng từ 5 năm nay tôi đi nhà thờ hàng tuần để hiểu thêm, không đi chùa lần nào), tôi nhận thấy:

    Ma qủi phía Phật Giáo, theo cách hiểu của tôi, hoặc là trạng thái trung gian đợi chuyển kiếp, hoặc là trạng thái chịu hình phạt cho nghiệp qủa của mình, đau khổ như diễn tả bởi các truyện tích Phật giáo như chuyện bà Thanh Đề mẹ Mục Kiền Liên trả qủa ở địa ngục. Từ cái nhìn này, người Phật tử có cái nhìn lân mẫn, xót thương, thông cảm cho ma qủi vì chính bản thân, cha, mẹ, người thương … của họ có thể lâm vào cảnh trở thành ma, qủi nếu gây nghiệp xấu. Nên có cúng giỗ, có lễ Vu Lan, thí thực, thí pháp, tụng kinh, cúng cô hồn cho ma đói, ma khát (mà bác Trinh gọi là “thờ cúng người chết, tin vào ma quỷ”); là dịp để tạo công đức, giúp đỡ cho người khốn khổ, quán tưởng về nghiệp qủa, xây dựng nghiệp lành … Ma, qủi cũng có ma dữ, ma hiền lành như người, và một người ác độc, hung dữ thì còn khủng khiếp, tai hại hàng trăm ngàn lần một con ma hiền. Tôi sẵn sàng làm một con ma hiền.

    Dù thương xót hay sợ hãi (nếu thiếu hiểu biết), nhưng ma qủi vẫn biểu hiện cho những điều không tốt đẹp mà không ai muốn xẩy đến cho tổ tiên, gia đình mình. Do đó, rất dễ tưởng tượng phản ứng, tình cảm đi từ bất bình đến giận dữ của người Phật tử khi nghe những nhận định “ma qủi” của người Ki-tô hữu, vốn đứng từ một cách hiểu, một thế giới quan hoàn toàn khác. Một Phật tử bình thường sẽ cảm thấy tổn thương, xúc phạm khi nghe “thờ cúng người chết, tin vào ma quỷ” với nghĩa rẻ rúng như bác Trinh viết trong câu “biến Đạo Phật thành một loại thờ cúng người chết, tin vào ma quỷ”.

    Cũng có khác nhau rất quan trọng về cách nhận, hiểu truyện tích. Từ xưa, tam giáo (Khổng, Lão, Phật) và văn hóa Á Đông vốn đã không có cái nhìn và diễn dịch thật chặt chẽ những văn bản. Người Á Đông cũng không phải là những người thuộc văn minh tôn giáo như phía Tây Á; họ xuề xòa, không để ý nhiều tới trời, đất, xem là chuyện “kính nhi, viễn chi” (Khổng), vũ trụ là những nguyên tắc vận động (Lão với Đạo đức kinh). Thiên Chúa giáo mang tới một cái nhìn, ứng xử khác hẳn. Người Phật tử nghe những truyện tích như chuyện Mục Kiền Liên để ý ở bài học của nó hơn là nhìn thấy sự việc đã xảy ra y chang như được kể; khác với Ki-tô hữu, đặc biệt là Tin Lành, đọc Kinh thánh và coi từng chuyện tích trong đó là đã xảy ra y như vậy, như: chuyện tháp Ba-by-lon, chuyện thuyền của ông Noe, chuyện biển đỏ tách nước để dân Do Thái đi qua … Người Ki-tô hữu quen một lối diễn dịch chặt chẽ, chật, tuyến tính một chiều (linear): Ma qủi là những gì ác độc, xấu xa, có sự hiện diện vật lý, tranh chấp quyền năng với Đức Chúa Trời, không thể khoan nhượng, không thể sống chung hòa bình với ma qủi, hai cõi hoàn toàn cách biệt, đã là ma qủi là xong chuyện, hết thuốc chữa, nên đừng nói đến thờ cúng; không như ma qủi trong vòng luân hồi (circular) của đạo Phật, chỉ là một bước trong vô số bước, thân mang chỉ là báo ứng của nghiệp qủa. Người Ki-tô hữu chủ quan, nên khó chấp nhận sự khác biệt, không hiểu được tại sao lại thờ “ma qủi”, vừa tượng trưng cho xấu xa, tội lỗi, vừa trái lời Chúa – rằng không được thờ phượng đấng nào khác … Hai lối nhìn, hai cách hiểu khác nhau đã và vẫn đang làm nhiều người Ki-tô hữu thường xuyên xúc phạm Phật tử bằng đánh giá chủ quan; tiểu tiết của bên này là “big deal” của bên kia.

    Tôi học trung học ở trường công giáo La-san, tôi đã làm việc thiện nguyện, xã hội với Phật giáo, Công giáo, tôi hiểu là đạo Thiên Chúa là đạo của tình yêu, của sự công bằng, nhưng tôi cũng thấy nhiều chật hẹp, ứng xử đáng tiếc trong cách hành đạo … Muốn thương yêu phải hiểu, phải thông cảm, đôi khi phải nhìn vấn đề với con mắt mới, cách mạng, đặt chân mình vào chân người, phải đặt bao dung lên hàng đầu; nếu không cái gọi là thương yêu sẽ thành thù hận, từ đời này sang đời khác, ở nhiều nơi trên qủa đất, như hiện vẫn xảy ra. Ki-tô hữu cần thật lưu ý để cái nhìn chủ quan của mình không xúc phạm người khác, người Ki-tô hữu dễ phạm điều này vì luôn được thúc giục phải đi tới (reach out), làm chứng, rao giảng Tin Mừng… và cứ có chuyển động là có đụng chạm. Ki-tô gíao đặt cơ sở trên niềm tin nên khả năng phán đoán, tự phê bình kém hơn các tôn giáo không đặt trên niềm tin. Vì hòa bình, các nhà thần học, các trí thức Ki-tô hữu cần làm thêm nhiều cố gắng để sự hiểu biết lẫn nhau với các văn hóa, tôn giáo khác được mang tới sâu rộng hơn cho các tín hữu của mình. Điều này đã thấy từ Công Đồng Vatican II, rất đáng ngợi khen, nhưng chưa đủ. Đó là mong ước của tôi

  4. Lee Can viết:

    @bác Hoà Nguyễn.

    Toàn khu ”chùa” Đại Nam dù nhìn chung phản ánh một mức độ tệ hại về văn hoá học nhưng ”tượng thờ” có lẽ nói lên giáo lí Tứ Ân, trên thờ Phật và thánh chúng, giữa là tổ tiên, dưới cùng là anh hùng dân tộc.

  5. Lee Can viết:

    @Trung Thứ.

    Xin hiểu ý bác. Mặt khác cũng nghĩ, cái phản cảm nơi bác là do các tiền kiến, về sự việc quá nhiều người vô tội đã chết vì chủ nghĩa cộng sản. v.v. Những người ở chùa Bái Đính, nếu không biết như bác biết, tin như bác tin -điều này có khả năng rất cao do nhiều lí do- thì không có phản cảm chi cả. Không ai thoát được sự điều kiện hoá nhận thức.

    @Tri Ngộ.

    Bác nên xem lại để thấy tôi cũng hoàn toàn không có ý coi khinh những người ăn xin, ăn mày. Dụng ý trong phản hồi đó là nói đến một tình thế nan giải. Xin thử lại lần nữa- Thường thì chùa chiền được dựng lên từ lâu, khi địa phương đó còn thưa, hoặc không có dân cư (như trường hợp Thích Ca Phật Đài, nếu không lầm được xây cách đây khg. 50 năm trước). Sau đó, nếu khách thập phương, người tu học lui tới ngày một đông đảo thì dân cư quanh đó cũng trở nên nhiều hơn, rồi người ăn mày, người buôn thúng bán bưng cũng kéo đến kiếm sống ngày càng đông thêm.

    Tình trạng như vậy tạo ra những cảnh huống tương phản, gai mắt cho người … ở Tây, như bác mô tả. Nhưng trách ai đây? Nếu không thể trách những người nghèo vì miếng cơm manh áo phải đến chỗ đông đúc để xin ăn hay buôn bán kiếm ăn, thì sẽ rất vô lí khi đổ lỗi cho ngôi chùa đã có mặt nơi đó từ đời … Bảo Đại. Về suy đoán chùa không giúp người chỉ vì các ý nghĩ như tăng ni ăn mặc sạch sẽ còn người chung quanh nhếch nhác lam lũ, vv. và vv., hi vọng bác đồng ý là sự vô lí của nó quá dễ thấy để phải bàn đến nữa.

    (Vừa đọc thấy ông/bà Trung Nu Hoang cũng nói tương tự nhưng rồi qui kết mọi trách nhiệm cho nhà cầm quyền. Làm tôi nhớ thời nhỏ, trước năm 1975, ngày vẫn thường còn đến Thích Ca Phật Đài phá phách, trộm trái cây vv. thì người ăn xin, buôn bán cũng đầy rẫy, không chỉ ở bên ngoài cổng mà thôi. Có lẽ ông Anh Dũng có thể giúp bằng việc cung cấp vài dữ kiện về chính sách đối với vấn đề này. 🙂 )

  6. Nguyễn Mai Sơn viết:

    Vua Lương Vũ Ðế (Trung Hoa) từng hỏi Bồ Ðề Ðạt Ma rằng: “Trẫm từ khi lên ngôi vua đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy trẫm có công đức gì không?”, Bồ Ðề Ðạt Ma trả lời: “Ðều không có công đức”. Vua hỏi tiếp: “Tại sao lại không có công đức”, Bồ Ðế Ðạt Ma đáp: “Bởi vì những việc vua làm đều là nhân “hữu lậu” (nhân phiền não, nhân sinh tử luân hồi) nên chỉ có những quả nhỏ hữu lậu trong vòng nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có, nhưng không phải là thật”. Vua lại hỏi tiếp: “Vậy công đức chân thật là gì?”, Bồ Ðề Ðạt Ma đáp: “Tâm phải được thanh tịnh hoàn toàn, thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới được gọi là công đức và công đức này không thể lấy việc thế gian như xây chùa, chép kinh, độ tăng mà cầu được”.
    Lương Võ Đế không hiểu được điều Bồ Ðề Ðạt Ma nói. Bồ Ðề Ðạt Ma nhận ra mình không thể nào hoá độ được Lương Võ Đế tìm đến với “công đức vô lậu”, trong khi Lương Võ Đế lại tự mãn với những “công đức hữu lậu”, vì vậy ngài đã ngồi quay mặt vào tường trong suốt chín năm.
    Việc các nhà tu hành thâm sâu tu theo pháp “xuất thế” (giải thoát hoàn toàn tri kiến” thật khó bàn, xong việc đòi hỏi một ông vua thế gian với cung vàng điện ngọc từ bỏ những công đức hữu hạn ấy mà tìm đến công đức vô hạn thì thật khó. Lịch sử nhân loại đếm trên đầu ngón tay với những vị vua từ bỏ ngai vàng để tu giải thoát. Song trước sự kiện này, nhà Nho không đề cao mà xem rằng đạo Phật như vậy là “yếm thế”.
    Việc xây chùa tạo tượng để khuyến hoá người ta trở về với đạo Phật là những phúc đức, những công đức hữu lậu, còn đó mà mất đó, chỉ có trí tuệ giải thoát mới là cứu kính. Tuy nhiên, không có nghĩa rằng phải coi việc xây chùa, tạo tượng, đúc chuông là không có ý nghĩa gì cho quá trình tu. Bồ Ðề Ðạt Ma đã chọn sai người mà nêu “công án”, nên ngài đã phải diện bích chín năm.
    Thực tế tại Việt Nam, khi Nho giáo thịnh hành cũng đã xuất hiện khuynh hướng “cư Nho mộ Thích”, việc vua này khắt khe với đạo Phật, vua kia quay trở lại với tinh thần đạo Phật là việc thường xảy ra trong lịch sử Việt Nam. Do đó, có những ông “vua” Cộng sản không mộ Phật và cũng co những ông “vua” cộng sản mộ Phật. Đó là điều bình thường. Tại sao lịch sử có “cư Nho mộ Thích”, “dụng Nho triển Thích” mà lại không thể có “cư Cộng mộ Thích”. Vấn đề là các tôn giáo phải đạt được sự độc lập tương đối với thể chế chính trị để nương vào đó mà phát triển đạo của mình, bởi nếu gắn chặt với thể chế thì đương nhiên thể chế mất, thì tôn giáo đó cũng có nguy cơ bị sụp đổ theo và cơ hội phục hồi sẽ diễn ra rất chậm. Xưa nay, trên thế giới mọi tôn giáo phát triển được hay không, vai trò của thể chế luôn đóng phần quan trọng, thậm chí là quyết định.
    Chọn tôn giáo nào làm “chỗ dựa” thể chế ấy phải tính toán nhiều mặt “an nguy”. Lực lượng nào giành được chính quyền cũng sẽ cân nhắc đến việc sử dụng tôn giáo. Thực tế từng cho thấy, chính quyền nói mỏi miệng dân không chịu đóng thuế, nhưng vị Cha chỉ nói một câu giáo dân sẽ thực hiện nay.
    Nhân đây nói về chuyện học tập tư tưởng này kia, chính quyền vừa phải cho ăn, vừa phải có phong bao cho người đi học, vừa tuyên truyền ra rả mà người ta theo cho có lệ, rồi chán. Nhưng lạ, mỗi khi nghe tin Đức Mẹ hiển linh, chảy máu mắt, nghe tin rước Phật ngọc, Bồ tát tỏa hào quang, không ai bảo ai lũ lượt rủ nhau đi chiêm bái cầu nguyện, ở tỉnh xa xôi cũng kéo về, vừa mất tiền tàu xe, đến nơi lại còn tuỳ tâm cúng tiền nữa. Sau đó về nhà vui mừng, phấn chấn, nhất là được các Cha, các Sư giảng cho một số bài về tình yêu thương, niềm tin nhân quả…
    Cái “mê tín” đó như vậy mà rất nhiều tổ chức xã hội “muốn” cũng không có. Việc phát triển cơ sở tín ngưỡng tôn giáo đâu phải không có những “công đức hữu lậu” thiết thực. Còn cái “công đức vô lậu” mà Bồ Ðề Ðạt Ma kêu gọi đó, nhân gian có mấy người làm được. Nên lấy tâm của mình để đo tâm người khác rồi phê phán thì phải xem bản thân mình đã “giữ – bỏ” được những gì, đã đạt đến chỗ không còn chấp trụ vào mọi hình tướng nữa hay không? Ngay cái tên (bút danh) của mình thôi mà nói “đúng – sai” còn tự ái ngập tràn, nữa là đòi hỏi phải thấy “xá lợi Phật” như hòn sỏi, hay phải coi mọi thứ hình tướng là giả ảo.
    Mọi vật có chỗ đắc dụng của nó, nơi đâu tròn thì khuyết, nơi đâu rỗng thì đầy. Bồ Đề Đạt Ma, muốn “kiếm” một người “ngộ” được còn khó thế. Vậy mà bây giờ có nhiều “đỉnh cao trí tuệ” hiểu và giảng lời Tổ về “công đức” như vậy, sao đạo đức xã hội ngày càng đi xuống. Có lẽ “sở học” không bằng “sở tu”. Vấn đề chùa to, nhà thờ lớn, nếu có đáng bàn thì nhằm vào “chức năng” (tôn giáo) của nó, có phải là một trung tâm tu tập hữu ích hay không. Tôi từng dẫn về một thiền viện lớn nhất thế giới của Thái Lan, hàng năm thu hút rất nhiều người ở các quốc gia khác nhau đến tu tập và sống với văn hoá Thái, nếu nói đó là “sức mạnh mềm” thì cũng không quá vậy! Pháp môn Làng Mai trên thế giới cũng từng làm tốt “chức năng” tôn giáo này, dù người Cộng sản vẫn nói đó chỉ là “đền bù hư ảo”.

  7. nguyen mai linh viết:

    Bàn về cách kiểu nhà nước Việt Nam quản lý người rõ ràng và chính xác đến thế là cùng. Nhưng ai về Việt Nam, nếu phải vào Bệnh Viện Chợ Rẫy, bệnh viện thuộc loại hiện đại, thì thấy còn thua nhà thương Thí trước năm 75 về mặt ăn ở, vệ sinh, quản lý, sự quan tâm săn sóc của y, bác sĩ đối với bệnh nhân nghèo.

  8. Trung Nu Hoang viết:

    Theo tôi, chúng ta không thể trách người nghèo khổ được! Khi cái bụng lép kẹp, thì tất nhiên họ phải lần mò đến những chỗ mà họ tin dễ gặp được “thí chủ” giúp họ tiền bạc hay thức ăn để qua cơn ngặt nghèo. Nằm trong số lây lất quanh Chùa (theo tôi, Nhà thờ có lẽ cũng không tránh khỏi) chắc hẳn cũng có những người “giả nghèo, giả tật” để đánh động lòng thương của người khác. Ngay cả không loại khỏi sự kiện các “đầu nậu” của các em nhỏ “chỉ đạo” các em phải đi xin.
    Tất nhiên, chúng ta không trách những người nghèo! Cũng không thể trách… “Chùa to, tượng Phật lớn” hay “Nhà thờ lớn, thánh giá to” được! Vậy thì… trách ai mới đúng người đúng tội bây giờ? Theo tôi, trách nhiệm chính phải ở Chính Quyền. NN/XHCN luôn luôn “bao thầu” mọi thứ: trước hết và trên hết là CHÍNH TRỊ; tài chính thì NN cũng tóm thâu vào tay mình: Ngân Hàng Nhà Nước; đất đai cũng được đặt dưới sự quản lý của NN; về lĩnh vực tôn giáo thì có Ban Tôn Giáo của đảng, của Chính Phủ, cơ quan này quản lý nào là Phật giáo QUỐC DOANH, Công Giáo QUỐC DOANH hay “CG Yêu Nước” [họ làm như từ lâu nay CG không biết yêu nước?!]…; về truyền thông, báo chí thì tóm thâu vào tay NN quản lý đến 600, 700 tờ báo, đài TV, Radio… Mọi thứ theo quan điểm CNXH đều cần quản lý và phải “được quản lý” để dễ tiến hành chính sách “kế hoạch hóa” theo bài bản của CHXN. Chỉ trừ ra… tầng lớp nghèo khó, cùng khổ ở đáy xã hội – không còn có cơ hội để kiếm chác được gì ở những manh áo rách, thân xác khô gầy – thì họ mới tha cho, không quản lý. Một NN được mệnh danh là “của dân, do dân, vì dân” như họ thường vỗ ngực tự xưng, sao họ lại vô cảm đến mức đó nhỉ? Họ đã dửng dưng để cho thành phần này phải sống như thế, trong khi các “đại gia”, cán bộ trung, cao cấp vung tay ăn tiêu, rượu chè, gái gú không tiếc tiền? Thế ra, những người nghèo khó không còn được xem là… công dân Việt Nam hay sao? Những người nghèo khó không còn là đối tượng mà chế độ XHCN đấu tranh để có cuộc sống của một con người, dựa trên cơ sở lý thuyết Marx- Lenine nữa hay sao? Mọi sự hình như đã đảo lộn ở đất nước này cả rồi! Đảo lộn giữa Lý Thuyết và Thực Tế, đảo lộn giữa Lời Nói và Việc Làm, giữa vai trò của Chủ và Tớ! Những trại Tế Bần, cơ sở Xã Hội thời trước năm 1975 tôi vẫn thường thấy ở mỗi Tỉnh, mỗi thành phố nay biến đi đâu mất cả rồi? Có lẽ họ đã khoán trắng các công tác XH, việc cứu giúp người nghèo khó cho những cô như Ms. Aline Tim Rebeaud từ Thụy Sĩ rồi chăng? Thật là một NN vô trách nhiệm đối với nhân dân, nhất là đối với nhân dân NGHÈO KHÓ. Văng vẳng đâu đây, tôi nghe lời nói của ông Nguyễn Văn Thiệu (cựu TT/ VNCH trước 1975): “Đừng nghe những gì CS nói, hãy nhìn những gì CS làm”, ngẫm nghĩ và cười thầm trong bụng: “ông này coi vậy mà nói … ĐÚNG HẾT SẨY!

  9. Hoà Nguyễn viết:

    @ Nguyễn Mai Linh.

    Nếu bây giờ trong chùa các sư tăng phải học “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, tôi chẳng ngạc nhiên vì nhớ Việt Nam còn là nước cộng sản. Vấn đề là người phải học như thế có tin tư tưởng HCM đó không, và quan yếu nhất là các sư tăng VN bây giờ còn tin theo và tu tập đúng với Phật pháp không. Không kể tới chuyện ở chùa có ai đọc tụng tư tưởng HCM không. Chuyện khác: các sư VN ngày xưa(đời Lý, Trần) ngoài Phật học, còn tinh thông cả Nho, Lão.

    Ông Nguyễn Mai Sơn đã viết về khu du lịch Đại Văn hiến ở Bình Dương. Có chứng cớ gì khiến tin được là chùa Bái Đính sẽ như “chùa” Đại Nam ?

  10. nguyen mai linh viết:

    Ông Hồ Chí Minh ngồi chễm chệ nghe kinh như thế này, thì thế nào cũng thành Bồ Tát. Mời các bạn xem hình nhé (dành cho những ai chưa xem hình):

    http://en.wikipedia.org/wiki/File:Dai_nam_main_workship.jpg

  11. Tri Ngộ viết:

    @ Lee Can
    LC : Bác có nhận thấy là không chỉ tu viện Thường Chiếu, mà nhiều cơ sở Phật giáo khác cũng có cảnh như bác kể?
    TN : Tôi được dịp đi khoảng 4 hay 5 Chùa lớn, từ Huế vào đến Cái Bè, chỉ có hai chỗ tôi bị ấn tượng là Tu Viện Thường Chiếu và Thích Ca Phật Đài (TCPĐ) ở Vũng Tàu. Trước TCPĐ, cũng cảnh người nằm la liệt ngủ trưa, người tật nguyền xin ăn và những người bán nhang. Cảnh rất nhốn nháo bên cạnh một tu viện và một Phật đài thật nguy nga tráng lệ.
    LC : Xin phép hỏi, làm sao bác biết những người nghèo khó quanh chùa không được giúp đỡ?
    TN : Tôi đoán thế thôi vì thấy trong Tu Viện quá khang trang. Các Thầy và các Sư Cô trẻ lái xe cam nhông và xe Honda và ăn mặc rất sạch sẽ (dĩ nhiên là những áo vàng và áo lam của người tu) trong khi những người buôn thúng bán bưng thì ăn mặc không sạch và đẹp bằng, có nghĩa là lam lũ hơn.

    LC : Về những người buôn thúng bán bưng, kẻ ăn mày ăn xin nghèo khổ tật nguyền thật và giả. Họ phải ngu cực kì mới không tìm đến những nơi đó để kiếm sống. Thế nếu là bác, bác phải làm sao – đuổi họ đi để giữ vẻ thanh tịnh cho chỗ tu hành? Dọn chùa đến một chỗ thanh vắng, sao cho nó không trông chướng mắt dù đủ nguy nga, to rộng thích hợp cho việc tu học của nhiều người? Chỗ thích hợp như thế là ở đâu?
    TN : Tôi không nghĩ họ là những kẻ tật nguyền giả. Tôi không nghĩ là họ ngu vì tu viện TC là nơi tham quan nổi tiếng, khách thập phương đến nườm nuợp. Tôi nghĩ đuổi họ đi là làm một điều thật ác, sao bác Can Lee lại đưa ra những ý nghĩ đó ? Tôi ngược lại trân quý sự có mặt của họ vì họ cũng là người VN như tôi (và chính tôi cũng chui từ chỗ nghèo khổ mà ra). Tôi chỉ muốn nói là cái cảnh Chùa nguy nga tráng lệ bên cạnh sự có mặt của những người cùng đinh nó gây một ấn tượng nơi tôi. Hình ảnh đó trớ trêu làm sao, không phản ảnh được hình ảnh Chùa mà tôi thường thấy lúc còn bé ở nhà quê. Tôi không biết Đức Phật ngồi trên toà sen làm toàn bằng gỗ đắt tiền của tu viện TC nguy nga tráng lệ Ngài có thoải mái lắm không.

  12. nguyen mai linh viết:

    Đời một chữ Không

    Kiến giải bất đồng
    Sinh lắm Phái Tông
    Nhưng cùng một lòng
    Sắc sắc Không không
    Này đảo biển Đông
    Này đất tổ tông
    Của giòng Lạc Hồng
    Đâu phải của Ông
    Mà ông đem cống
    Cho quân Tàu Cộng

    Đất nước tổ tông
    Ông đem sung công
    Biển đảo Lạc Hồng
    Ông coi như Không
    Đừng dại chơi ngông
    Ông xiềng ông gông
    Ai dám chống ông?
    Ông lạy Tàu cộng
    Làm gì được ông?
    Sắc sắc Không không
    Có cũng là không

    Nguyễn Mai Linh

  13. Hoà Nguyễn viết:

    (Tiếp theo)

    Từ đó thử suy ra , việc đưa tượng ông Hồ Chí Minh vào chùa có mang ý nghĩa giống như tế không, hay muốn biến ông HCM thành một “hộ pháp” ? Tôi không biết và không muốn nghĩ theo chiều hướng nào (một phần vì chưa thấy tận mắt). Nhưng nhiều người theo đạo Phật tin hương linh người chết có thể nghe kinh Phật và nhờ đó được nhiều lợi lạc (nên họ làm lễ cầu siêu, tụng kinh Báo hiếu cho cha mẹ, thân nhân). Vậy, nếu độ lương hya bị ép buộc, cứ để cho ông Hổ Chí Minh nghe kinh trong chùa, biết đâu “tư tưởng” của ông sẽ khác . Còn ai muốn đển lể bái (chân thành) trước tượng ông, cho dù do lòng tôn kính riêng hay muốn cầu xin điều gì , thì với nhiều người trong Phật giáo là điều vô hại, miễn không coi ông là Phật. Và không chắc những người ngưỡng mộ HCM muốn coi ông là Phật.

  14. Hoà Nguyễn viết:

    Trở lại chuyện tượng Phật trong chùa, không kể ở chùa Bài Đính hay chùa nào khác, tôi lấy câu chú thích trong phóng sự của ông Vũ Ngọc Hải sau đây, để khỏi rơi vào chuyện “chống Cộng chung chung” thấy ở bất cứ chỗ nào trong chùa hay ngoài chùa, và thái độ chống lại rất cực đoan các hình thức đạo Phật phát triển trong 2500 năm sau thời Đức Thế Tôn.

    Vũ Ngọc Hải (bài kỳ 2) viết :” 16: Kỷ lục nữa. Người ta phải mất tiền mới được đặt cái tượng phật của mình vào những ô nhỏ trên tường đấy nhé! Mà có đến hàng nghìn ô chứ không ít. Làm kinh tế vụ này quá ổn”.

    Bỏ qua cái giọng văn trong câu chú thích trên, chỉ quan tâm đến nội dung. Tại một chùa Nam Tông ở Mỹ tôi cũng thấy trong chánh điện, trên tấm tường phía bên phải tượng Thích Ca có nhiều ô nhỏ trong đặt rất nhiều tượng Phật, nên có ý tìm hiểu. Những hình tượng Phật nhỏ như thế , gọi là Thiên Phật hay Vạn Phật, thường thấy ở chùa Bắc Tông, nhất là bên Trung Quốc, nhưng vì Phật tử VN (ở Mỹ) theo Nam tông vẫn ít, nên tại chùa Nam Tông này cũng làm theo như thế, như cũng có tượng Bồ tát Quan Thế Âm đặt đứng giữa hồ nước lớn bên ngoài chùa, và trong chùa đặt ngồi ở một phòng nhỏ bên hông chánh điện. Đây là một cố gắng dung hòa hai khuynh hướng trong Phật giáo VN để thích nghi với hoàn cảnh và đáp ừng nhu cầu tâm linh của người Việt tại hải ngoại.

    Theo tài liệu Phật giáo tôi đọc, thời Phật giáo sơ kỳ dài chừng 500 năm, một số tín đồ và nghệ nhân Phật giáo dùng hội họa, điêu khăc để biểu hiện cuộc đời của Đức Phật, bằng những khoảng trắng không ( biểu thị sự tồn tại của Phật trong không gian) , hoa sen (biểu thị sự tinh khiết, cao quý), cây bồ đề (sự đắc đạo).Khi cần biểu hiện sự tồn tại của Phật họ dùng hình ảnh dấu chân Phật, nhưng họ cho Phật có trí tuệ, nhân cách hoàn mỷ nên không thể biểu hiện bằng hình tướng người bình thường. Đến khi Phật giáo được truyền đến các nước nhỏ chịu ảnh hưởng văn hoá Hy Lạp ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, hấp thụ phương thức nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp, họ bắt đầu dùng hình tượng người để biểu hiện diện mạo và thân thể của Đức Phật. Và cũng ở nơi đó, các quan niệm về Tây phương Cực Lạc với Phật A Di Đà, và về Bồ tát như Quan Thế Âm thành hình trong Bắc Tông, và được tạc tượng. Trong khi ở Trung và Nam Ấn, giáo đồ vẫn nghiêm túc giữ theo truyền thống: không dùng hình tướng người để biểu hiện hình tướng Phật. Mãi đến thế kỷ 2 sau Công nguyên, ở Trung Ấn mới bắt đầu xuất hiện tượng Phật. Do ảnh hưởng riêng của văn hoà khác nhau ở những nơi đạo Phật truyển đến, ngày nay các tượng Phật ở các chùa Nam Tông (như Thái Lan) và Bắc Tông (như Trung Quốc, VN) khác nhau nhiếu.

    Với người theo đạo Phật, chỉ nói riêng ở Bắc Tông, tạo hình tượng Phật là một công đức, nên họ thường “thi nhau” làm, thường bằng gỗ, nhưng có khi bằng vật liệu quý như đồng dàt vàng, ngọc thạch, có khi bằng đá đục, khắc trong hang núi rất công phu. Ngay thời Bắc Ngụy (khoãng năm 500 CN), ở Trung Quốc đã có tượng Phật bằng đá cao 13, 7 m trong hang Vân Phong. Tượng Phật còn được tin là hộ trì, ban phúc hạnh cho người mang theo trong mình, thờ cúng trong nhà, trong chùa. Với người tu tập Thiền Định, tượng Phật còn dùng làm phương tiện quán tưởng, như thấy trong Tịnh Độ tông và nhất là Mật tông.

    Ấn Độ đa thần đã xâm nhập vào sinh hoạt Phật giáo qua nhiều thời kỳ, trong đó có viêc tạc, điêu khắc hình tượng. Nhiều thần của Ấn giáo (Bà La môn) được cho là đã quy y hay tin theo Phật, xuất hiện từng bước trong các chùa tại Ấn, và sau này cũng thấy ở các chùa Trung Quốc, để làm những vị hộ pháp (bảo hộ Phật pháp), như Đế Thích, Đại Phạm Thiên, Thiên Long Bát bô, Tứ đại thiên vương (thường với dạng võ tường có vũ khí hay vẻ dữ dằn để cho ma quỷ sợ). Cũng có hình tượng Phật của riêng người Trung Hoa, như Phật Di Lặc làm theo nhân vật có thật là hòa thương Bố Đại, và Bồ tát Quan Âm ban đầu có hình tướng nam trong các chùa Ấn Độ dần dần chuyển qua hình tưóng nữ trong chùa Trung Quốc (và VN). Quan Thế Âm có nghìn tay nghìn mắt , vốn thuộc Mật tông (Chuẩn Đề), nay nghe nói thấy ở chùa Bài Đính, thí trong chùa VN xưa kia cũng đã đặt thờ. Về các tượng La Hán ở chùa Tây Phương, VN, được ca tụng là có những nét điêu khắc rất tài tình, độc đáo, với mỗi vị mỗi vẽ riêng, tôi nghĩ cũng chỉ là mô phỏng theo các tượng La Hán của Trung Quốc đã có từ thời Ngũ Đại. Trong chùa Trung Quốc, đôi khi còn thấy tượng của Tôn Ngộ Không, một nhân vật giả tưởng trong truyện Tây Du, và cho mang một danh hiệu Phật.

    Hồi còn nhỏ, tôi thấy trong một chùa lớn tại tỉnh tôi những tấm “bài vị” mang tên người chết, được đặt thờ trên một bàn riêng trong chùa. Nghe nói, những người đó không có con cái để cúng giỗ họ theo phong tục VN, nên trước khi chết họ dâng hiến chùa ruộng đất hay tiền bạc, để nhờ thờ cúng tại chùa. Ngày nay, ở trong nước và ngoài này, có nhiều người chết làm hoả táng, tro được bỏ vào bình nhỏ, và con cháu đem vào chùa đề thờ ở một chỗ riêng. Khi có dịp vào chùa, con cháu cũng đến chỗ đó đốt hương lể bái
    (còn tiếp)

  15. Trung Thứ viết:

    Cảm ơn bác Lee Can đã chỉ ra giùm tôi điều sai sót. Quả đấy không phải là lá cờ mà là hình lá cờ của đảng cộng sản được in trên nền vải, treo nơi chùa.
    Tuy nhiên, với tôi, trong trường họp cụ thể này, cờ hay hình cờ thì ý nghĩa cũng không có gì khác nhau.

1 … 5 6 7 8 9 … 11
  • talawas - Lời tạm biệt

  • Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam… đọc tiếp >>>