Vũ Hải Ngọc – Chùa Bái Đính: Kỷ lục và những điều chướng mắt (kỳ cuối)
08/04/2010 | 1:20 sáng | 155 Comments
Category: Phóng sự ảnh, Tôn giáo
Thẻ: chùa Bái Đính
24: Theo thông báo của nhà nước, công trình sẽ khánh thành vào năm 2015. Hẳn nơi đây sẽ trở thành cơ sở kinh doanh tôn giáo lớn nhất Đông Nam Á (vậy là sẽ có thêm một kỷ lục)!
25: Đại lễ trong chùa thật hoành tráng, nhưng không thấy Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà chỉ thấy Ban Tuyên giáo tham gia? Đảng Cộng sản Việt Nam, sau hàng chục năm được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác-Lê, thay vì tránh “thuốc phiện” thì lại dùng “thuốc phiện”!
26: Có bao nhiêu rừng nguyên sinh đã mất để lấy gỗ cho công trình này?
27: Nếu đặt hàng ông đồ này viết một câu đối bằng chữ Việt Nam, liệu ông ấy làm được không nhỉ?
28: Đúng là đại lễ, khắp nơi và nhiều thành phần, đặc biệt là xe công nhiều chứ không phải ít.
29: Cái cổng tam quan đẹp và hoành tráng thế mà lại treo cái băng-rôn chình ình ở đó (làm du khách muốn chụp một bức ảnh đẹp cũng khó), rồi phía trước cái cổng thì như cái chợ làng!
30: Cái bia này cực kỳ phản cảm về nhiều góc cạnh!
- Gọi là “Vườn cây doanh nhân 1000 năm” nhưng doanh nhân thực sự được mấy người? Hễ đứng đầu doanh nghiệp thì được gọi là doanh nhân?
- Phật tại tâm, đâu cần trần tục biết? Trên tấm bia này, chỉ cần khắc tên A, nhà B cho mỗi ông/bà góp tiền trồng cây nơi đây là đủ.
- Còn 5 năm (hoặc lâu hơn) nữa nơi đây mới khánh thành. Gắn một công trình đang dang dở với “1000 năm Hoa Lư – Thăng long” chẳng khác một sự ăn theo và chắp vá!
31 và 32: Phút thư giãn của sư (!)
33 và 34: Phút (…) của sư (!)
© 2010 Vũ Hải Ngọc
© 2010 talawas
Bình luận
155 Comments (bài “Vũ Hải Ngọc – Chùa Bái Đính: Kỷ lục và những điều chướng mắt (kỳ cuối)”)
« Trang trước 1 2 3 4 5 … 11 Trang sau »










Thưa ông Hòa Nguyễn,
Khi đăng mẫu tin mả cá voi vào mục này, mục đích chính của tôi là góp thêm một thí dụ đặc sắc về tình trạng phi cầm, phi thú, nửa dơi, nửa chuột về vấn đề tôn giáo-tín ngưỡng, kinh tế, ru ngủ quần chúng … ở Việt Nam; tình trạng này có phần “biên đạo múa”, kiềm chế trộn lẫn khuyến khích, thả lỏng của nhà cầm quyền Việt Nam, mà chắc chắn mục tiêu chính của nhà cầm quyền không phải là tôn giáo, tín ngưỡng vì đó không phải là chức năng của họ. Khó có thể tìm cụm chữ nào chính xác, và đạt hơn là “bi hài” như báo Thanh Niên đã dùng, khi chính quyền Bạc Liêu chỉ đạo để 15 tấn cá cho phân huỷ lộ thiên “theo chủ trương của tỉnh, bộ xương cá voi cần được lưu giữ nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng dân gian và du lịch” (*).
Dù lập luận thế nào, tôi vẫn nghĩ xây nhà thờ, xây chùa cho thật to không phản ảnh được tinh thần cốt tủy của hai tôn giáo này (**).
Khi cựu tổng thống Côte d’Ivoire Félix Houphouët-Boigny xây nhà thờ lớn nhất thế giới với sự ủng hộ, binh vực của đức giáo hoàng John Paul II, cũng đã có rất nhiều chỉ trích từ nhiều tín đồ Công Giáo, và những lời chỉ trích này không được hiểu là chống Công Giáo
( http://en.wikipedia.org/wiki/Basilica_of_Our_Lady_of_Peace_of_Yamoussoukro ).
Đối với tôi, có sự khác biệt giữa trình bày sự việc có liên quan ít nhiều trong bức tranh chung (xem *), quan điểm về một vấn đề (xem **), tới “Chống việc xây chùa Bái Đính thấy được thực hiện bằng mọi cách … (trong góp ý của ông Lê Anh Dũng)” như ông Hòa Nguyễn cảm nhận từ phản hồi của tôi. Ông Hòa Nguyễn có một sự nhạy cảm đáng lưu ý khi thường nêu vấn đề lương-giáo, chống hay không chống; suy luận qui nạp của ông cho phản hồi của tôi là không đúng.
Nhìn vào việc xây dựng chùa Bái Đính ở Ninh Bình, Đại Nam Quốc Tự ở Bình Dương với việc xây dựng nhà thờ Lavang ở Quảng Trị, tôi nhận thấy một điểm quan trọng như sau:
– Hai chùa Bái Đính và Đại Nam Quốc Tự xây dựng dựa trên tiền của cá nhân của các đại gia trong nước, mà nguồn gốc tiền của này không được minh bạch cho lắm.
– Nhà thờ Lavang, nếu xây dựng lại, được sự đóng góp của nhiều người trong và ngoài nước để xây dựng.
Tuy nhiên, tôi không bao giờ nghĩ tới chuyện nhà thờ Lavang cũng thờ Hồ chí Minh như ở Đại Nam Quốc Tự
Ông Nguyễn Mai Sơn viết:” tổng kinh phí nhà nước đầu tư cho khu du lịch Tràng An lên tới gần 2.700 tỷ đồng, UBND tỉnh Ninh Bình đã giao cho Công ty xây dựng Xuân Trường thiết kế thi công công trình này”. Và ông viết tiếp: ” Kinh phí đầu tư cho khu du lịch Tràng An là 2.700 tỉ đồng, chùa Bái Đính chỉ là một phần của dự án”.
Chúng ta thử nhìn vụ này với cách nghĩ tỉnh táo hơn, xem sao:
Có người tính 6000 tỷ đồng là 360 triệu USD, vậy 2700 tỷ đồng tương đương 162 triệu USD, là tiền đầu tư cho khu du lịch Tràng An, không phải chỉ cho chùa Bái Đính, hiện chưa biết kinh phí thật sự vì chùa là công trình riêng cùa công ty Xuân Trường. Nhưng ngôi chùa này, nếu nay nhìn lại theo tư liệu này, không phải do nhà cầm quyền VN bỏ tiền ra xây.
Tôi không muốn đi sâu vào chuyện so sánh chùa Bái Đính với nhà thờ La Vang, mà chính quyền VN đang muốn khai thác (cả hai) như những trung tâm du lịch lớn. Nhưng những chỗ thờ phượng, hay cơ sở tôn giáo, được biến thành nơi du lịch vẫn là sự thường. Có khi do dân địa phương muốn làm thế (như làng Bethlehem, quê hương Chúa Jesus, nay đa số cư dân là người Hồi giáo ở Israel), có khi do chính tổ chức tôn giáo đứng ra làm, hay cả hai bên, tôn giáo và chính quyền, cùng hợp tác. Hãy nhìn xa hơn (để tránh đụng chạm giữa người VN), như Lourdes (Lộ Đức) ở Pháp, nơi trở thành rất “linh thiêng” như thánh địa vì có Đức Mẹ Đồng trinh hiện xuống năm 1858 (không xa lắm với chuyện Đức Mẹ hiện ra ở làng quê La Vang, Việt Nam). Hiện nay, Lourdes chỉ có 15 ngàn cư dân, nhưng họ xây phòng khách sạn nhiều chỉ kém ở thủ đô Paris để mỗi năm đón tiếp 5 triệu người hành hương. Nếu tính từ 1860 đến nay đã có chừng 200 triệu người đến tắm tại các suối ở Lourdes, hay lấy nước suối đem về, với niềm tin sẽ trị được bách bệnh. Nhưng toà thánh Công giào chánh thức công nhận chỉ mới có 67 trường hợp là lành bệnh nhờ phép lạ (nước suối) ở Lourdes. Ai hăng hái chống chuyện “mê tín” thì cứ mạnh dạn lên tiếng, và dù lên tiếng thế nào, năm nay cũng sẽ có chừng 5 triệu người hành hương và du khách đến Lourdes như những năm qua.
Chúng ta học được gì ở đây. Có phải người VN quen thói nói lấy được, quen dùng chứng cớ giả tạo để biện minh lý lẽ của mình, không kề quen nghĩ rất “duy vật”. Chỉ lấy một thí dụ thấy trong loạt bài này. Dưới hình số 26 chụp một cây cột thật to, hai người ôm không giáp, người làm phóng sự ghi: “26: Có bao nhiêu rừng nguyên sinh đã mất để lấy gỗ cho công trình này?”. Nhưng đọc báo ở chỗ khác thấy nói rõ đó là cột xi-măng, bên ngoài dán gỗ để làm cột gỗ giả. Tôi không biết ở VN thế nào, còn ở Mỹ sàn nhà gỗ đẹp, trông sang hơn trải thảm và làm ấm bàn chân vào mùa Đông hơn lót gạch, chỉ là những mảnh gỗ rất mỏng dán lên nền xi-măng.
Lý luận nào cũng chỉ có giá trị khi dựa trên chứng cớ chân thật, và cách nhìn từ nhiều góc cạnh. Tất nhiên như thế vẫn chưa đủ, còn cần thêm nhiếu yếu tố khác nữa, cho nên người cho mình nắm chặt được chân lý là ấu trĩ.
Tin thêm về Bái Đính:
“Đến ngày 9/4/2008, trong Quyết định 728/QĐ-UBND của UBND tỉnh Ninh Bình về việc chấp thuận điều chỉnh, bổ sung dự án đầu tư xây dựng Khu du lịch sinh thái Tràng An của DNXD Xuân Trường. Mục 3, Điều I của Quyết định này nêu: Tổng diện tích dự án là 2.168,53ha (529, 6ha thuộc xã Gia Sinh). Trong đó, đất dành cho khu tâm linh chùa Bái Đính là 487,01ha, đất giao thông ở xã Gia Sinh là 42, 59ha… Mục 8, 10, 11, 12 Điều I, ghi: Chủ đầu tư là DNXD Xuân Trường, chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án…
ông Trịnh Xuân Hồng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình cho biết: “Kinh phí giải phóng mặt bằng, đường sá, cơ sở hạ tầng, cây xanh… là do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm chủ đầu tư. Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm nên DNXD Xuân Trường là chủ đầu tư các hạng mục làm chùa, tạc tượng, đúc chuông… http://www.kinhtenongthon.com.vn/Story//2009/7/19259.html
“Đặt câu hỏi nguyên nhân nào khiến cho Ninh Bình táo bạo xây dựng một ngôi chùa có diện tích và kinh phí đầu tư lớn như vậy, ông Phong cho biết “Về kinh phí chúng tôi xin chưa công bố vì ngôi chùa đang trong giai đoạn thi công, mặt khác là do công ty xây dựng Xuân Trường đầu tư thiết kế nên chúng tôi không được biết. Họ đang trong giai đoạn thi công nên còn giữ bí mật”.
Không chỉ riêng chùa Bái Đính, được biết tổng kinh phí nhà nước đầu tư cho khu du lịch Tràng An lên tới gần 2.700 tỷ đồng, UBND tỉnh Ninh Bình đã giao cho Công ty xây dựng Xuân Trường thiết kế thi công công trình này. Đây là một công trình không chỉ có ý nghĩa đối với tỉnh Ninh Bình về giá trị lịch sử và văn hóa, mà nó còn là công trình có ý nghĩa quốc gia và quốc tế. Theo ông Nguyễn Cao Tấn cán bộ phụ trách Phòng Di sản – Sở VH, TT & DL Ninh Bình “Sau khi khu du lịch Tràng An được hoàn thành cơ bản và đón khách tham quan du lịch vào năm 2010, chúng tôi sẽ đề nghị với Bộ VH, TT & DL và nhà nước đề nghị UNESCO công nhận Tràng An là di sản văn hóa thế giới”.
http://www.baodulich.net.vn/Story/vn/khampha/vedepvietnam/2009/1/3479.html
Kinh phí đầu tư cho khu du lịch Tràng An là 2.700 tỉ đồng, chùa Bái Đính chỉ là một phần của dự án. Vậy thông tin 6.000 tỉ đồng để xây (riêng) chùa Bái Đính lấy từ nguồn nào? Không lẽ lại là từ wiki…?
Thử so sánh một chút về một ngôi Thánh địa lớn nhất Việt Nam của đạo Công Giáo Việt Nam:
“Theo dự trù, Giáo Phận sẽ xây một vương cung thánh đường có sức chứa 5000 chỗ ngồi. Đây sẽ là vương cung thánh đường lớn nhất Việt Nam. Ngoài ra còn có các kiến trúc khác gồm một lễ đài lớn, trung tâm hội nghị, nhà chầu Thánh Thể, nguyện đường, nhà tĩnh tâm, trung tâm triển lãm, nhà nghỉ cho khách hành hương và một số những công trình khác. Sau khi hoàn tất, Thánh Địa La Vang sẽ xứng đáng được gọi là một trung tâm hành hương quốc tế.
Các công trình kiến trúc trên là để đáp ứng nhu cầu của hàng trăm ngàn khách hành hương từ khắp nước và hải ngoại về thánh địa vào mỗi dịp lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời hàng năm. Vào mỗi kỳ có Đại Hội La Vang được tổ chức 3 năm một lần, có khoảng 500,000 ngưòi về tham dự trong 3 ngày. Quanh năm vẫn có nhiều khách hành hương về Thánh Điạ
Kinh phí để xây dựng các công trình trên được dự liệu vào khoảng 25 triệu Mỹ Kim do các nhà hảo tâm trong và ngoài nước đóng góp. Ngoài ra chính quyền cũng góp phần qua việc xây dựng cơ sở hạ tầng gồm 4 con đường dẫn vào Thánh Điạ La Vang”.
http://danchuausa.net/giao-hoi-viet-nam/du-an-25-trieu-my-kim-xay-dung-thanh-dia-la-vang-quang-tri/
25 triệu Mỹ Kim = khoảng 470 tỉ đồng.
Tham khảo thêm: Thiền viện lớn nhất thế giới Phra Dhammakaya, Thái Lan, http://phatgiaovnn.com/upload1/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1304
1. Bác Hòa Nguyễn viết: „Thật tâm, tôi hoàn toàn tin tưởng người dân có thể thay đổi chế độ, nếu họ muốn.“.
Hơn nửaa thế kỷ trước, từ năm 1945, người dân đã mong đợi một chế độ chính trị hoàn toàn khác hiện trạng bây giờ, một nhà nước dân chủ pháp quyền, người dân giành được các quyền tự do căn bản (được thể hiện ở bản Hiến pháp năm 1946). Mong muốn đó của người dân cho tới hôm nay chắc chắn vẫn không hề thay đổi, thế nên ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết mới phải cảnh báo: bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát. Tự sát đối với đảng cộng sản là khi chúng không còn được quyền mặc nhiên thống trị độc tôn Dân tộc này nữa. Do vậy, chế độ chính trị ở Việt Nam chưa thể thay đổi không phải đang hệ tại ở mong muốn của người dân mà là ý chí của đảng cộng sản. Ý chí đó được bảo đảm bằng Điều 4 hiến pháp kết hợp với những công cụ bạo lực là lực lượng công an và quân đội phải trung thành với đảng.
Nực cười cho những kẻ trước một nhà nước mục ruỗng, tham nhũng tràn lan, những người có tiếng nói bất đồng chính kiến với chính quyền bị quy là tội phạm phản động, người dân chỉ tin tưởng vào sức mạnh của những chiếc phong bì cộm tiền hơn là tin vào tính nghiêm minh của luật pháp thì chúng không sợ xã hội bị loạn lạc, điêu tàn. Trong khi nhiều người có tâm huyết, bất chấp gông cùm, tù đày dám lên tiếng đòi hỏi xây dựng một nhà nước dân chủ pháp trị, tam quyền phân lập, người dân có tự do thì chúng là cho rằng như thế là loạn, là mất ổn định.
2. „Đảng CS hay Nhà nước VN có chịu bỏ ra số tiền rất lớn như vậy chỉ vì lý do tuyên truyền, như là ở VN có tự do (phát triển) tôn giáo không ? Tôi cho là không, vì nếu đây là công cụ tuyên truyền, họ sẽ dùng những thứ khác đạt được kết quả tốt hơn, mà it tốn kém hơn.“ (Nguyễn Hòa)
Thử trả lời câu hỏi của bác:
Nếu chỉ bỏ ra mấy trăm triệu USD xây dựng có sở tôn giáo mà làm cho công luận quốc tế hết chỉ trích, hết quan ngại về vấn đề tôn giáo, về đời sống tâm linh ở Việt Nam thì đối với chính quyền Việt Nam đấy cũng là cuộc đầu tự đáng đồng tiền bát gạo vậy.
Chuyện tiền bạc đối với chính quyền thì không thành vấn đề. Họ có thể tùy nghi sử dụng tiền đóng thuế của dân, thiếu nữa thì đi vay còn việc thanh toán là trách nhiệm của hậu thế hoặc họ kêu gọi một số doanh nghiệp bỏ vốn xây dựng để được hưởng những lại quả béo bở,….
Thêm một lý do khác:
Mối lo ngại thường trực của một nhà nước độc tài là tiếng nói độc lập, chỉ trích của các cá nhân và tổ chức xã hội đối với chính quyền. Do vậy, đảng cầm quyền luôn muốn kiểm soát, biến các tổ chức đó thành công cụ của họ. Nếu bỏ ra mấy trăm triệu USD để xây chùa, thu hút tăng ni về tu trì nhằm tạo điều kiện để chính quyền có thể thao túng, kiểm soát sinh hoạt tôn giáo thì chắc họ sẽ không phải câu nệ. Tôi nghĩ, nếu cờ búa liềm của Đảng được phép treo lên mỗi lần cử hành cách nghi thức tôn giáo trong các nhà Thờ, nhà Chùa thì chắc rằng hoạt động tôn giáo ở những nơi đó sẽ dễ dàng hơn nhiều. Không rõ các anh em tu sỹ Phật giáo chân chính nghĩ gì, còn tôi, với tâm thức của một tín hữu Công giáo, tôi cho rằng việc treo cờ đảng trong ngày đại lễ là một hình thức nhạo báng Phật giáo thậm tệ.
So sánh Khất thực hoá duyên với tiền của để ra xây chùa là một so sánh quá khập khiễng. Tiền của để ra để xây hai chùa Bái Đính và Đại Nam Quốc Tự là của cá nhân đổ ra. Tất nhiên, khi đã là của riêng thì bá tánh không có quyền gì trên đó, mà chỉ có các đại gia thao túng, còn trong tương lai sẽ dưới quyền kiểm soát của ai? Làm gì? thì sẽ hạ hồi phân giải, nhưng có lẽ một số người dễ dàng đoán ra khi tượng Hồ chí Minh nằm ngay chánh điện của Đại Nam Quốc Tự, còn chùa Bái Đính thì chờ xem coi sau khi chùa hoàn thành vậy.
Sau khi nghe nhiều bác lên tiếng xác nhận tính chất “mê tín dị đoan” phổ biến trong xã hội Việt Nam thời nay, tôi nhận xét đã đủ để đi đến kết luận chung.
Tiện đây xin trích dẫn một bài viết mới đăng trên TuanVietNam sáng nay của tác giả Khương Duy “Con Người và thần thánh: Ai nô lệ cho ai ?”.
Câu hỏi chính yếu này chứng tỏ tác giả hãy còn mang tư tưởng “mê tín” phần nào. Thần thánh là sản phẩm do trí tưởng tượng “yếu ớt” của con người bày ra vì hai lý do:
1)- Vì kiến thức khoa học thấp kém nên nhiều người còn sợ hãi run rẩy trước nhiều hiện tượng tạo hoá, không giải thích được, hoặc không chịu khó tìm hiểu sự thật, do đó chỉ muốn bấu víu vào nhãn hiệu “thần thánh” để tự ru ngủ;
2)- Biết tâm lý yếu đuối này, nên một số đại gia, con buôn tìm cách lợi dụng triệt để, mặc sức in ấn kinh sách, phổ biến những điều mơ hồ khó hiểu cốt gây hoang mang sợ hãi trong dư luận, đúc tượng tràn lan, bày trò phong thuỷ, bói toán, xin xâm, hoá vàng, cầu an cầu siêu, uống nước thánh, cầu xin chữa bệnh … từ đó biến thành dịch “xây chùa, đúc tượng, xoay hướng nhà cửa, công sở”.
Kết luận: Chính con người tự biến thành nô lệ của Vô Minh, không tự chủ được, tự giam hãm trong bóng đêm ngu tối. Không có thần thánh nào đủ khả năng để làm chủ con người.
Chống việc xây chùa Bái Đính thấy được thực hiện bằng mọi cách. Ngay cả so sánh với việc xây “đền” hay miếu thờ cá voi trong tín ngưỡng dân gian, chẳng liên quan gì đến Phật giáo (trong góp ý của ông Lê Anh Dũng). Cũng nên biết, phần Phật giáo không chống cũng không ủng hộ việc xây miếu, đền thờ cá voi (nhưng có lẽ khuyên họ đừng làm thế).
Có lẽ người ta chống những chuyện gì mà Đảng, Nhà nước, cán bộ CSVN làm, ngay cả cách họ ăn mặc, nói năng, sinh hoạt bên ngoài việc Đảng, chính quyền. Vì thế, chống việc xây chùa BĐ vì nghi ngờ có người CS, chính quyền VN góp phần vào (công đức) xây chùa. Như thế, vừa vô lý, vừa làm loãng đi sự đối kháng khác, như về chính trị chẳng hạn.
Với sư tăng Phật giáo khi đi khất thực, hoá duyên, bất cứ ai bỏ vào bình bát trên tay thứ gì ăn được, dùng được thì họ cũng hoan hỷ nhận, không phân biệt người cho thức ăn đó là ai, làm nghề gì. Không cần biết người cúng dường là kẻ cắp, kẻ cướp, kỹ nữ, người làm ăn lương thiện, chính nhân quân tử. Không phải vị tăng ni đó quá cần thức ăn, mà sự cúng dường đó được Phật giáo quan niệm có tác dụng hai chiều, tốt cho cả hai bên. Sư tăng cần thức ăn trong ngày để sống , để tu và hành đạo. Còn với người cúng dường, là cơ hội để họ bày tỏ thiện tâm, hướng về điều tốt lành, hay lòng kính sư trọng pháp Phật, và từ đó nếu có thuận duyên họ sẽ thay đổi nhiều hơn. Ngày xưa khi các tăng đi khất thực, tiếp nhận sự bố thí cùa nhiều người không phân biệt, cũng là dịp để giảng Pháp cho ai đến gần họ, và gọi đó là thí Pháp (bố thí Phật pháp). Chùa dù là thế nào cũng là nơi nhiều người có cơ hội tiếp xúc với Phật giáo, nghe giảng Pháp, đón nhận kinh sách Phật. Nghe, tụng đọc dù một trang kinh, đối với người theo đạo Phật, cũng tốt hơn là không nghe kinh gì hết, hay nghe lời kinh xằng bậy, giả mạo như ông hoạ sĩ Cương đã làm ra để chống lại việc xây chùa ( như tôi đã vạch ra).
Không thể, không nên lấy cái biết không đúng của mình về Phật giáo để chống lại Phật giáo. Thà cứ bắt chước người cộng sản, dùng tư tưởng duy vật, hay người theo tôn giáo khác dùng ngay giáo điều riêng của họ, chống lại Phật giáo, chống lại việc xây chùa. Như vậy có vẻ đàng hoàng hơn.
Thân chào ông Nguyen Mai Linh,
Xin cho tôi hỏi: “Có phải khu du lịch Bình Dương là nơi mà một ông công nhân đã bị hổ dữ xổng chuồng vồ cắn chết nát thây, hồi năm ngoái?”
Câu chuyện thương tâm này ít ai để ý, nhưng tôi theo dõi báo Mạng VN thì phát giác thêm một chi tiết khác, đó là lời tuyên bố của ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi mới nhậm chức được vài tháng: “ông Dũng muốn ra điều luật bảo vệ hổ sau khi nghe tin một con bị bọn trộm bắt và làm thịt từ sở thú Bình Dương”.
Quan sát những hình ảnh chụp từ khu du lịch Bình Dương, tôi cũng nhận xét rằng mức độ kỹ thuật chạm trổ tinh vi, kiến trúc tân kỳ hoành tráng như thế chứng tỏ có bàn tay của người phương Bắc xen vào. Dĩ nhiên họ núp bóng ẩn nấp sau lưng, chi tiền và điều khiển từ xa, làm sao báo chí truyền thông vạch ra cho được. Nghe những lời tường thuật đầy đủ trong bài báo Mạng PhanChauTrinhDaNang, tôi mới biết đại gia nhà ông Võ Văn Kiệt có uy thế vẫy vùng một thời, đâu khác gì Nguyễn Minh Triết hùng cứ tại Bình Dương. Thế nhưng tôi vẫn chưa hiểu tại sao đến giờ phút này hãy còn nhiều người ngậm ngùi tưởng nhớ công lao ông Kiệt, nghĩ rằng ông là người “có gan dám nói” trong bộ sậu BCT của Đảng? Hậu quả tai hại của khu công nghiệp Dung Quất sau mười năm bàn cãi và xây dựng đã hiển lộ rõ sai lầm nặng nề của ông Kiệt, tại sao nhiều người còn cố sức biện hộ cho ông?
Cám ơn ông Linh,
Phục vụ nhu cầu tín ngưỡng dân gian:
“theo chủ trương của tỉnh, bộ xương cá voi cần được lưu giữ nhằm phục vụ nhu cầu tín ngưỡng dân gian và du lịch nên tỉnh đã quyết định xây mộ cá voi lộ thiên, có lồng kính để du khách tham quan”
(xem thêm http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201015/20100411012907.aspx )
Theo tôi, những hình ảnh về chùa Bái Đính được trưng lên để mọi người thưởng lãm đã nói lên được rất nhiều điều. Tuy nhiên, kỷ lục về những ngôi chùa lớn ở vùng Đông Nam Á còn có chùa Đại Nam Quốc Tự ở Bình Dương được xây dựng từ 2001 cũng do tiền của một đại gia Việt , và bây giờ là chùa Bái Đính. Xin quý vị để chút thì giờ ngắm qua ngôi chùa ở Bình Dương nhé, trước khi tiếp tục bàn luận thêm
http://phanchautrinhdanang.com/BAIVO2007/QuaidanbinhDuong2.htm
Xin góp ý với ông Lề Trái.
Đúng là viết “(thay đổi chế độ) nếu họ muốn” thật không ổn, trong trường hợp ở Việt Nam. Đó chỉ là cách nói dè chừng và áp dụng cho trường hợp ở những nước có bầu cử tự do, dân chủ, với dân trí (khá) cao, không bị dọa dẫm, lừa gạt, mua chuộc . Họ sẽ dùng là phiếu chọn người đại diện xứng đáng lo việc dân, việc nước (không phải để “cai trị”, đàn áp, khai thác, bóc lột họ). Hoặc chỉ khi người dân hiểu biết đầy đủ các quyền của con người, của công dân, và có quyết tâm, phương tiện, cơ hội đấu tranh làm thay đổi thể chế mà không qua bầu cử (lúc đầu) như ở các nước Đông Âu.
Ở VN , tình hình rất bi quan, như ông Lề Trái đã nêu, lại thêm những phương cách trấn áp, doạ dẫm, lừa gạt, mua chuộc vừa trắng trợn, thô bạo vừa rất tinh vi. Còn có cả một chính sách ngu dân, những lời lẽ ru ngủ. Như những luận điệu : nhân quyền trước hết là “no bụng”, VN có tiêu chuẩn riêng về nhân quyền, không thể chấp nhận quan điểm áp đặt từ phương Tây. Mới đây một quan chức cấp cao VN nói ở Ấn Độ ” VN chưa có nhu cầu về đa đảng”, mà không thèm biết từ năm 1947 dù Ấn còn nghèo, dân trí còn rất kém, mới thoát khỏi chủ nghĩa thực dân,mọi thứ đều lạc hậu hơn VN bây giờ nhiều, nhưng người Ấn đã chấp nhận chế dộ dân chủ, đa đảng.
Về vụ chùa Bái Đính, tôi đã góp ý hơi nhiều vì thấy có sự gán ghép ngôi chùa này với người trong Đảng CS hay nhà cầm quyền VN. Rất có thể chùa BĐ nằm trong sự kiểm soát và lợi dụng cùa chính quyền , như công ty Google trước đây ở Trung Quốc (từng hợp tác với nhà cầm quyền TQ trong việc kiềm duyệt và truy tầm những hoạt động chống đối), hay khi Làng Mai bỏ tiền ra xây dựng chùa Bát Nhã ở Lâm Đồng (lúc đó bị nhiều người ngoài này chỉ trích). Nhưng hiện giờ Google đã khác, và Bát Nhã cũng đã khác. Sau này, khi chùa Bái Đính hoàn thành (và nếu sinh lợi) không biết chắc số phận của “đại gia” bỏ tiền làm việc đó sẽ như thế nào. Ngưới ta có thề sẽ gán cho đủ thứ tội để loại bò ông và cướp đoạt ngôi chùa. Những chuyện tương tự đã xảy ra.
Dành nhiều thiện cảm cho Phật giáo, tôi không thể tán đồng việc chống báng đạo Phật hay chống việc xây dựng một ngôi chùa thờ Phật, dù là chùa lớn hay nhỏ thế nào, với những lý cớ chưa rõ ràng, có thể nhân danh hay nguỵ trang dưới nhiều hình thức. Đồng thời, tôi cũng chống việc biến chùa thành nơi hấp dẫn khách du lịch, như đã viết trong một góp ý với cảm nghĩ riêng về chùa Bái Đính, xin nhắc lại:
“Danh lam thắng cảnh quyến rũ khách hành hương, vãn cảnh, và mục đich trước mắt có lẽ (chính quyền) biến khu chùa Bái Đính thành một tụ điểm du lịch lớn, đồng thời đóng góp vào viêc tổ chức kỳ niệm 1000 năm Thăng Long, vì Hoa Lư ở Ninh Bình là tiền thân của Thăng Long.
Nhưng chùa trở nên “thiêng” hay “linh tự” khi có hiện diện của cao tăng đắc đạo, hay đạo cao đức trọng, và có nhiều Phật tử súng tín, thường xuyên đến lễ bái, cúng dường. . Tôi nghĩ vị trí của chùa không nằm gần những vùng có đông đảo Phật tử. Cho nên có lẽ trong tương lai với cơ sở lớn như thế khiến phần điều hành và bảo trì rất tốn kém , chùa sẽ dựa nhiều vào khách du lịch. Và như thế sẽ không tốt cho việc tịnh tu” .
Kính bác Hòa Nguyễn, “nếu họ muốn” là câu chết người đấy bác ạ . Đặt ngược vấn đề lại “nếu họ không muốn” tức là có thể kéo dài sự tồn tại của chính quyền đương thời cho tới lúc “họ muốn”. Chính quyền này vẫn tồn tại, vậy cái lý do ở đâu ? Do “họ không muốn” hay họ “không muốn vì chưa muốn”? Nếu họ không muốn thì lý do họ không muốn vì sao ?
Còn chuyện xảy ra trong những xã hội kín thì thật sự giới học giả ngoài này còn rất mù mờ, hay nói đúng hơn vẫn còn lăn tăn phần giả thuyết . Bác cứ tưởng tượng một bài toán và nghiệm số đã biết sẵn, nhưng tất cả thành phần khác trong bài toán vừa là biến số, vừa ẩn số . Nghiệm số biết trước chỉ vì họ biết rõ về người ra bài toán chứ không phải vì đã giải được bài toán . Lấy ví dụ một cuộc tranh cãi về số liệu lấy trên báo chí từ những quốc gia toàn trị, nhất là những báo lề phải . Kết luận là những gì không đăng có giá trị hơn những gì in trên mặt báo . Còn muốn đánh giá số liệu được in trên mặt báo chăng, một người đề nghị đem tờ báo soi gương . Cái ảnh trong gương là thật, còn tờ báo không đáng số tiền bỏ ra .
“Tôi tin các doanh gia và Nhà nước VN học theo cách kinh doanh mới, của phương Tây gần đây thôi”. Học được thì làm gì khi luật vẫn là luật rừng của tư bản rừng rú thời còn mồ ma ông Mác, cộng với độc quyền về chính trị và kinh tế của chính quyền đương thời . Nó có ích như sinh viên VN ra nước ngoài về môn thảo chương phải học logic. Về nước với mớ kiến thức đó đọc báo nhà nước hoài có nước phát khùng . Cứ nghe ra rả phủ định của phủ định vẫn là phủ định -(-x) = -x thì không điên là may lắm rồi . Chỉ có mũ ni che tai cắm cúi làm việc kẻo mấy kẻ dựa hơi quyền thế mắng như tắt bếp . Bảo sao sinh viên du học phần lớn “một đi không trở lại”. Những người “muốn” và “có thể” đã đi gần hết rồi bác ạ . Chỉ còn những ai “không thể” và “không muốn” thôi . Trong những kẻ “không muốn”, một phần do quyền lợi gắn chặt vào nền độc quyền đó . Không phải không đúng khi nhiều tay làm ăn tuyên bố làm ăn với độc tài dễ hơn nhiều . Có phải chịu ràng buộc nhiều như các nước dân chủ đâu mà không dễ dàng, vì cùng lắm tư bản phương Tây cũng không thô bạo với dân bản xứ bằng chính phủ bản địa, vả lại “bóc lột” cỡ nào cũng có mác “chuyên chính vô sản” của nhà nước độc tài nhân danh vô sản bảo kê rồi còn đâu . Cứ nhìn phu mỏ trong các nhà máy quốc doanh bên Trung Hoa mà thấy, tư bản 300 năm trước cứ gọi bằng cụ nhá! Nhưng báo chí vẫn một lòng tin vào đảng .
Nói lại về chùa Bái Đính, theo tin ngoài luồng thì thầy địa lý (yep, better believe it) nói đây là huyệt phát của chính đảng ta . Vì vậy việc xây chùa chiền (chắc) cũng nằm trong (một trong những) chủ trương lớn nào đấy . Vì thế mới có chuyện “ngoại giao” cho được xá lợi phật để đưa vào chùa mới xây, trong khi những cổ tự hàng trăm hàng ngàn năm thì coi như pha . Thú thật là chùa này đúng là bộ mặt của đảng; tôn giáo định hướng kinh tế thị trường định hướng XHCN “ngầu bá cháy”!. Đang chờ chừng nào tượng ông Hồ được xây và đưa vào cho đủ bộ .
Đôi khi hậu hiện đại không chỉ bao gồm rất nhiều “tiểu tự sự”, cũng có lúc bao gồm rất nhiều đại tư sự chồng lên nhau . Khốn nỗi lúc đó nó mang tính chế diễu các đại tự sự hơn là vinh danh . Phải chăng “thánh nhân đãi kẻ khù khờ” nên chùa Bái Đính bỗng trở thành một biểu tượng của hậu hiện đại ?
Ông Trung Thứ viết : “Đọc đoạn trên khiến tôi bật cười vì cho là bác suy nghĩ có phần đơn sơ. Chẳng sử sách nào chép Lã Bất Vi thu được bao nhiêu tiền từ cuộc buôn vua”.
Thế ông Trung Thứ “tin” chuyện Lã Bất Vi buôn vua là chuyện thật, và cách suy luận được đặt trên cơ sở đó ? Tôi thì (đơn giản) cho các nhà Nho từ thời Hán đã bịa ra chuyện như vậy để sỉ nhục Tần Thủy Hoàng.
Có phải chúng ta cách nhau quá xa trong thời gian không, khi Tần Vương Chính gồm thâu lục quốc (bên Tàu) vào năm 221 trước CN, và Việt Nam mở cửa buôn bán lớn với các nước tư bản chỉ từ khoảng năm 1990, sau CN. Tôi tin các doanh gia và Nhà nước VN học theo cách kinh doanh mới, của phương Tây gần đây thôi.
Câu “dân tộc nào chế độ nấy” thật ra không công bằng với người dân, vì rất nhiều khi không phải dân chọn chế độ họ mong muốn (trừ khi có bầu cử tự do), nhưng mà thường họ bị ép buộc phải chấp nhận sống trong một chế độ chính trị dù họ muốn hay không. Cho nên, xin hiều cho : câu nói đó tôi chỉ nghe, đọc ở đây mà không hề nóí là mình đồng ý. Thật tâm, tôi hoàn toàn tin tưởng người dân có thể thay đổi chế độ , nếu họ muốn.
1. Bác Hòa Nguyễn:
“Có câu nói cứ nghe hoài: “dân tộc nào, chính phủ nấy”. Trong trường hợp này, câu nói đó đúng được mấy phần?”
Nếu một dân tộc có quyền tự quyết, chọn ra một chính phủ, mà chính phủ ấy điều hành đất nước tệ hại, xã hội rối ren, dân tình khốn khó, biên cương Tổ quốc bị ngoại bang gặm nhấm, đe dọa thì trách nhiệm liên đới một phần là tại bởi dân tộc đó. Bởi họ đã không đủ khôn ngoan, sáng suốt dẫn tới chọn lựa nhầm đối tượng điều hành đất nước hoặc trong dân tộc đó không có người đủ tài đức để cho họ chọn lựa. Nếu một dân tộc rơi vào một trong hai hoàn cảnh này thì có thể khiến cho người ta xét tới nhận định như bác Hòa Nguyễn nêu ra.
Tuy nhiên, với trường hợp một dân tộc bị một chế độ độc tài cai trị thì lại khác. Nó giống như một ngôi làng kia có mấy thằng lưu manh, sắm được một loạt vũ khí ở đâu mang về. Có vũ khí trong tay, chúng nó tha hồ hạch sách những dân làng hiền lành, trong tay không tấc sắt. Nhất cử nhất động của dân làng đều dưới sự kiểm soát của lũ này. Bòn rút được của cải của người làng chúng lại đi thâu nạp thêm đám lâu la, đệ tử để cùng cai quản ngôi làng, xem ngôi làng như của riêng chúng nó. Như thế, nếu dân làng này có lụn bại, điêu tàn không ngóc đầu lên được thì chưa hẳn đã là do dân làng này kém cỏi, không biết làm ăn.
Người ta không thể đánh giá dân tộc Cao Ly khi nhìn vào chính quyền Bắc Hàn, mà là phải nhìn vào nhà nước Nam Hàn, vì nhà nước ấy do lá phiếu của chính người dân chọn ra.
Do vậy, nhận định “dân tộc nào, chính phủ nấy” chưa phù hợp với Dân tộc Việt Nam chừng nào một chính thể độc tài còn cai trị đất nước này; nếu gượng ép thừa nhận nhận định đó trong giai đoạn này của đất nước thì chẳng khác gì một sự lăng mạ cả một dân tộc.
2. Tôi không nghi ngờ gì thông tin của bác tại nhà thờ người Việt ở Mỹ. Ở Châu Âu cũng vây, thỉnh thoảng người ta vẫn kêu gọi sự đóng góp, chẳng hạn để giúp đỡ một cộng đoàn nào đó ở Phi Châu, đông Âu hay anh em Chính thông giáo ở Ukraina,… bằng thông báo cho Giáo dân và chuẩn bị phong bì cho họ trước đó một tuần. Tất nhiên, hoạt động này không phải là liên tục hàng tuần. Nếu không tin bác cứ tham dự Thánh lễ một thời gian thì rõ.
3. Cờ búa liềm được treo nơi Phật tự, lại có sự hiện diện của Ban tuyên giáo Trung ương, báo điện tử đảng Cộng sản Việt Nam thì tôi thách thằng nào dám ngăn cản, gây khó dễ cho công trình xây dựng thuộc tôn giáo ở Bái Đính. Dựa vào đó (cùng với thông tin trên phương tiện truyền thông và những điều mình đã kinh qua)bản thân tôi dám nhận định: hoạt động tôn giáo ở Bái Đính thì dễ dàng còn có những nơi khác lại khó khăn hơn và rồi từ đấy khiến tôi nẫy sinh mối hoài nghi.
„Thật ra, nếu chùa Bái Đính được phép xây dễ dàng thì có nằm trong kế hoạch “buôn bán” đó không? Ai dám chắc, hay từng có kinh nghiệm, xây chùa là việc đầu tư có lợi? Ông giám đốc công ty Xuân Trường hay cán bô nhà nước nào đó có phải tin như vậy không. Nếu thật sự bỏ ra 6000 tỷ đồng để đầu tư vào việc xây chùa thì trong bao lâu sẽ lấy lại vốn? Ba chục năm có đủ không. Tôi tính phỏng nếu không lấy lại đủ vốn trong thời gian đó là bị lỗ, nên làm việc khác lợi hơn. Có ông cán bô nào nghĩ mình hay con cháu sẽ còn ngồi đó để thu tiền về trong trong ba mươi năm không.“ (Hòa Nguyễn).
Đọc đoạn trên khiến tôi bật cười vì cho là bác suy nghĩ có phần đơn sơ. Chẳng sử sách nào chép Lã Bất Vi thu được bao nhiêu tiền từ cuộc buôn vua, thế nhưng thương vụ đó vẫn được xem là „lời không biết đâu mà kể“. Buôn vua còn như thế huống hồ nếu buôn Phật bán Thánh thì biết kể thế nào đây?