Henryk M. Broder
Quấn quít quanh Yasser Arafat là bao nhiêu chuyện thần thọai và hoang đường – Cái chết cũng mang nhiều mâu thuẫn như cả một đời người. Gần bốn thập kỷ qua, ông đã đứng vào vị trí mũi nhọn của dân tộc mình, một dân tộc đã tin tưởng mù quáng quá lâu vào chính ông. Và rồi đây, ai sẽ dẫn dắt người Palestin ra khỏi sự lầm lạc?
Arafat đã qua đời. Nhưng chắc một trăm phần trăm thì không. Biết đâu tin này lại nằm trong chương trình phản tuyên truyền mà chúng ta đã trải trong những ngày qua. Arafat đã chết, não bộ ngưng họat động. Ông ta chưa chết, não bộ chưa ngưng họat động. Arafat đang rơi vào hôn mê. Ông đã hồi tỉnh từ hôn mê và đã trao đổi với các bác sĩ. Arafat đã lại rơi vào hôn mê sâu hơn trước. Các cơ phận quan trọng đang hoạt động. Chả còn gì hoạt động nữa, ngoài các máy móc đang treo vào người.
Cuộc chiến Arafat chống lại tử thần cũng tựa như tòan bộ cuộc đời ông. Đầy những mâu thuẫn, khó hiểu, mơ hồ. Không hề cam kết hay tránh tuyên bố rõ ràng là những ngón nghề của ông, là bí mật của „trường thọ“. Lần xuất hiện quan trọng đầu tiên trước Liên Hiệp Quốc vào tháng 11 năm 1974, ông đã vẫy chào với nhánh olive, đồng thời lại kè kè khẩu súng ngắn bên hông. Ông đã lên án họat động khủng bố của lữ đoàn thanh niên của chính mình, mặt khác lại cho chúng được hoạt động. Những trả lời phỏng vấn và tuyên bố bằng Anh ngữ nghe cũng khác hẳn các diễn văn và hiệu triệu khi ông sử dụng ngôn ngữ Ả Rập.
Chưa có chính trị gia nào từng được Giáo Hoàng tiếp và ban phép lành nhiều bằng Arafat – trong khi đó thì những người quyết tử vì đạo của ông lại đang tự mình mang bom nổ tung trên các chuyến xe buýt Do Thái. Ông đã cầm quyền, vừa với cương vị Người lãnh đạo PLO vừa là „Chủ tịch“ của Cơ quan Tự trị, dù chả có sự ủy thác nào, bởi các cuộc bầu cử sau cùng vào Hội đồng PLO cũng đã cách đây hơn 20 năm và thời gian là Chủ tịch được tín cử cũng đã trôi qua. Cuộc kháng chiến Intifada [1] thứ nhì mà ông đã nhanh chóng nắm quyền lãnh đạo, cũng là cách để tránh bầu cử. Trong khi đó, ông luôn nói về nền „dân chủ“ mình muốn thiết lập. Vương quốc của Arafat là một cơ sở hoạt động tư nhân, ông là một trong những kẻ chuyên quyền vĩ đại cuối cùng mà sau cái chết này, chỉ còn sót lại Muammar Gaddafi, Fidel Castro và Kim Jong Il mà thôi.
Và Arafat cũng – xếp hàng ngay sau sự xâm chiếm bởi Do Thái – là niềm bất hạnh lớn nhất mà dân tộc Palestin đã gặp phải. Arafat không phải là chiến thuật gia mà cũng chả phải chiến lược gia và đã đánh giá sai mọi tình huống: Cuộc chiến 6 ngày năm 1967, [2] chiến tranh Jom-Kippur 1973, [3] các Hiệp ước hòa bình giữa Do Thái, Ai Cập và Jordan, chiến tranh vùng Vịnh [4] lần thứ nhất trong đó ông đã đoàn kết với Saddam và ngay cả các hậu quả của Hiệp ước Oslo [5] mà qua đó ông được trao giải Hòa bình Nobel. Thành tích lớn nhất của ông là bất chấp tất cả các lỗi lầm cũng như đánh giá tình hình sai lệch mà vẫn giữ được quyền lực. Ông đã đạt được điều ấy, không phải vì có thiên tài gì ghê gớm, mà vì vô đạo đức và vì chả có gì làm ông xấu hổ.
Khó quên được sự xuất hiện của Arafat trong buổi ký Hiệp ước Oslo II tại Cairo vào tháng 9 năm 1995. Sau khi các lời phát biểu lễ tân đã dứt, ông đứng trên bục và vào phút chót, đã từ chối ký vào các văn bản cho đến khi Tổng thống Ai Cập Mubarak bước đến và ra lệnh: „Ký đi cho xong, đồ chó!“, vì Mubarak là chủ nhà và như thế có thể bị bêu xấu đến nghìn thu nếu buổi lễ chỉ vì Arafat mà tan vỡ.
Dù không có khả năng rời khỏi nơi đóng bản doanh chính thức tại Ramallah nửa bước, nhưng Arafat vẫn đóng vai trò chủ nhân ông quyết định sinh tử qua chữ ký dưới bản án dành cho các kẻ „phản bội“ hay „cấu kết“ đã bị tòa án cấp tốc kết án tử hình. Sau đó các kẻ lãnh án bị đem ra hành hình công khai, là nguồn vui cho không ít khán giả.
Vào thời điểm nào đó, khi cuối cùng người Palestin có được quốc gia riêng và không phải chiến đấu chống lại quân xâm lược nữa, thì họ sẽ có khả năng để lập bản cân bằng thua được, như người Nga sau cái chết của Stalin và người Tây Ban Nha sau Franco. Và họ sẽ nhận ra rằng người lãnh đạo quý yêu của mình đã làm tất cả để đúc xi măng chôn cứng số phận họ, rằng số nạn nhân Palestin mà ông ta phải chịu trách nhiệm không ít hơn so với số nạn nhân Palestin do quân chiếm đóng Do Thái gây ra, rằng ông ta chẳng những chỉ khủng bố người Do Thái mà cả nhân dân mình.
Để kiểm soát khoảng 4 triệu người Palestin, Arafat đã đưa 12 mật vụ khác nhau vào họat động, chỉ nhận mệnh lệnh của ông và những cơ sở này cũng được nâng đỡ qua trợ cấp tài chính của Liên hiệp châu Âu, trong khi dân tộc Palestin lại chả được gì nhiều từ cơn mưa tiền ấm áp từ Bruxelles.
Không nơi nào trên thế giới mà số nhân viên tình báo so với dân số lại nhiều hơn đây. Arafat đã không hề đầu tư vào kinh tế, giáo dục và y tế – việc này ông ta nhường cho các cơ quan cứu trợ làm – mà vào an ninh cho bản thân. Khi người ta biết được, rằng trong nhiều năm ông ta đã lái có đến 900 triệu Dollar tiền từ ngân sách của Cơ quan Tự trị lọt vào trương mục riêng, rằng hàng tháng ông đã trợ cấp 100.000 Dollar cho người vợ sống ở Paris, thì ông lại đủ sức làm cho những người chỉ trích mình nhanh chóng yên tâm qua một vài thú nhận tượng trưng cũng như vài lời hứa hẹn. Dân Palestin phản ứng như trẻ con nổi loạn chống lại người cha độc đoán khi bị ông ta cấm hút thuốc, nhưng đồng thời lại không muốn thiếu vắng bàn tay chỉ đạo mạnh mẽ của ông ta.
Dân Palestin đã tin rằng Arafat sẽ dẫn họ trở về nhà mình ở Akko, Ramle hay Ashdot, duy chỉ có điều này họ không thể nào hình dung ra được: rằng một ngày nào đó, ông ta sẽ qua đời và để họ lại một mình trong cô quạnh. Nhưng thời gian không tạo thuận lợi, mà chống lại người Palestin, dù cho Do Thái là kẻ bị cả thế giới đổ tội lên đầu. Để dựng vở kịch kháng chiến, người ta cần vài người tử đạo và vài hỏa tiễn tự tạo. Để có thể lãnh đạo quốc gia, cần có khả năng phân biệt được ước mơ và hiện thực. Và đó chính xác là điều mà Arafat đã ngăn trở qua bộ dạng cách mạng của mình. Ông đã dẫn dắt nhân dân Palestin vào con đường lầm lạc, các cơ sở cho quyền lực của ông là bạo lực, tham nhũng và – ảo tưởng.
Điều đáng ngạc nhiên ở đây là chưa ai – ngay cả những người phi thường nhất trong những lý thuyết gia về âm mưu – phát hiện ra là Arafat biết đâu có thể là một gián điệp của Do Thái. Chính Do Thái là những người đã đem Arafat từ nơi lưu vong Tunis về và đã hợp pháp hóa ông ta thành đối tượng đàm phán. Trong một khoảng thời gian, ông không những đã chỉ có cố vấn mà lại có cả nhân viên an ninh Do Thái, những người này đã bảo vệ ông ta chống những nguy hiểm xuất phát ngay từ hàng ngũ của ông ta. Và dĩ nhiên, Arafat đã đứng ra tự lập, khi ông chối từ những điều đó. Và ông ta cũng đúng là đối tượng mà những người quốc gia cánh hữu Do Thái đã cần đến để có thể tiếp tục con đường chính trị điên rồ của họ. Những đe dọa họa hoằn, dù là trục xuất hay đòi giết Arafat, đều chỉ đưa đến sự nâng cao uy tín của ông.
Đã có một liên hiệp không chính thức và đáng ngại nhưng lại rất hữu hiệu giữa một bên là Arafat và bên kia là những người Do Thái quốc gia. Tất cả những gì ông làm đều tăng cường niềm tin của họ rằng đối thoại với dân Pelestin là vô nghĩa. Tất cả những gì họ [những người Do Thái quốc gia] làm đều có thể dùng làm bình phong cho Arafat vạch ra rằng bạo lực là phương tiện chính thống trong xử sự với người Do Thái. Và giờ đây thì không phải chỉ người Palestin lúng túng, mà chính phủ Do Thái cũng thế. Chính phủ này đã mất đi một đồng minh lâu năm và thân quý.
Cầu mong ông yên nghỉ trong an bình và cầu mong người Do Thái và Palestin rốt cuộc phải tìm được con đường ra khỏi vương quốc của những giấc mơ, để về với thế giới của thực tại.
© 2004 talawas
[1]Intifada: Tiếng Ả Rập là bừng tỉnh, vùng lên. Sự vùng dậy của người Palestin chống lực lượng Do Thái chiếm cứ dải Gaza và Tây Jordan dưới tổ chức của „Ủy ban Chính trị“ gồm PLO (Palestine Liberation Organization), Al Fatah, Hamas và nhiều lực lượng khác. Intifada lần 1 kéo dài từ 12.1987 đến 9.1993. Lần thứ nhì nổ ra từ tháng 9.2000.
[2]Chiến cuộc 6 ngày: tên gọi cuộc chiến vào tháng 6. 1967 giữa Do Thái và các nước láng giềng Ai Cập, Jordan và Syria. Những nước này đã được Iraq, Kuwait, Saudi Ả Rập, Sudan và Algeria ủng hộ. Qua đó Do Thái đã nhanh chóng kết thúc và chiếm lĩnh toàn bán đảo Sinai, Tây Jordan, Đông Jerusalem và đỉnh chiến lược Golan của Syria, tổng cộng chiếm diện tích gấp 4 lần lãnh thổ quốc gia Do Thái thành lập vào năm 1949.
[3]Chiến cuộc Jom-Kippur: cuộc chiến lần thứ tư giữa Do Thái, Ai Cập và Syria, bắt đầu vào ngày lễ hòa giải Jom-Kippur của Do Thái. Theo lịch Muslim thì gọi là Chiến cuộc Ramadan.
[4]Chiến tranh vùng Vịnh: Lần thứ nhất giữa Iran và Iraq từ 9.1980 đến 1988. Lần thứ nhì giữa Kuwait và Iraq vào tháng 1 và 2 năm 1991, kết thúc nhờ Liên Hiệp quốc đưa quân vào bảo vệ Kuwait, cùng đưa đến việc Iraq phải chịu để kiểm tra vũ khí.
[5]Hiệp ước Oslo: Là các hiệp ước giữa PLO và Do Thái ký trong thời gian 1993 đến 1995 nhằm xác định sự tự trị của dân tộc Palestin trong lãnh thổ dải Gaza và Tây Jordan đã bị Do Thái chiếm từ 1967. Gồm:
- Bản Tuyên bố Các Nguyên tắc Oslo ký tại Washington 9.1993;
- Hiệp ước Oslo I ký tại Cairo vào tháng 5.1994;
- Hiệp ước Oslo II ký tại Taba (Ai Cập) vào tháng 9.1995.