Joseph T. Siegle, Michael M. Weinstein, Morton H. Halperin
Trang nhà của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ quả quyết rằng “Phát triển kinh tế sẽ đưa đến dân chủ”, đồng thời cũng tán thành lập luận cho rằng: các quốc gia nghèo cần phát triển kinh tế trước khi thực hiện tiến trình dân chủ hoá đất nước. Nhưng nhiều dữ kiện lịch sử đã chứng minh điều ngược lại mới đúng. Các quốc gia dân chủ nghèo, ít nhất, cũng đã phát triển với tốc độ ngang với các quốc gia độc tài, bên cạnh đó, lại nổi trội hơn, so với quốc gia độc tài, trong hầu hết các chỉ số về sự thịnh vượng xã hội. Ngoài ra, chúng cũng hoạt động hữu hiệu hơn trong việc phòng tránh các cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Xoá tan lập luận “phát triển trước, dân chủ sau” là một hành động cần phải thực hiện, không phải chỉ vì lập luận đó sai, mà vì người ta có thể nại vào đó để đưa ra các chính sách hung tàn – các chính sách ngấm ngầm phá hoại mọi nỗ lực quốc tế trong việc cải thiện đời sống của hàng trăm triệu con người hiện sinh sống trong các quốc đang phát triển.
Những ai tin rằng dân chủ chỉ có thể nảy sinh khi nào một quốc gia đã phát triển về phương diện kinh tế, đều là những kẻ đang thuyết giảng một phương pháp trì hãm sự thúc đẩy dân chủ. Trong khi đó, những ai tin rằng nhiều quốc gia vẫn nằm mãi trong tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, bởi vì chúng cứ duy trì các cấu trúc chính trị chuyên quyền, đều cả quyết rằng chiến lược ưu tiên phát triển kinh tế chỉ làm cho tình trạng nghèo đói, xung đột và áp bức càng thêm kéo dài.
Thế nhưng tại sao “huyền thoại” ưu tiên phát triển kinh tế lại thường được nhiều người tin theo? Trước hết, nó dựa vào một quan niệm phổ quát – được nhà xã hội học Seymour Martin Lipset và nhiều người khác đưa ra cách đây 45 năm trước – rằng sự phát triển kinh tế sẽ tạo ra các điều kiện tiên quyết có tính cách thiết yếu cho nền dân chủ; đó là sự gia tăng số người biết chữ, sự kiến tạo một tầng lớp trung lưu và sự nuôi duỡng các quan điểm có tính cách quốc tế. Kế đến, nó tỏ ra thích hợp với những yêu cầu của thời đại sinh ra nó, thời Chiến Tranh Lạnh, thời mà chỉ có một phần ba các quốc gia trên thế giới được xem là dân chủ, nhưng chỉ một số rất ít trong đó là nước nghèo. Nhiều mô thức cai trị đã bị cản trở, cùng với việc các quốc gia trên thế giới bị mắc kẹt trong sức hút của hai khối đối lập nhau, khối Liên-xô và khối phương Tây. Đặt hy vọng phát triển vào những quốc gia mà nhìn bề ngoài có vẻ dân chủ như Ấn Độ, Costa Rica và Columbia là một hành động xem chừng như phi thực tế trong một hoàn cảnh thế giới như thế. Hơn nữa, phương Tây lại muốn ủng hộ các chính phủ độc tài nào không bị Liên-xô chi phối, nhằm ngăn chặn không cho chúng biến thành cộng sản.
Lập luận ưu tiên cho phát triển kinh tế – cái cổ xúy cho quan niệm về sự tiện lợi của độc tài – vẫn cứ tồn tại trong một thế giới hậu Chiến tranh Lạnh, bất chấp các hậu quả kinh tế tệ hại của các quốc gia bị cai trị bởi chính phủ quân phiệt ở Mỹ châu La-tinh, ở Phi châu và ở các nước cộng sản Đông Âu và Liên-xô trước đây. Lý do của sự việc này phần lớn là vì thành quả kinh tế sáng chói của một số quốc gia độc tài Á châu như Singapore, Indonesia, Nam Hàn, Đài Loan và gần đây có thêm Trung Quốc. Dựa vào kinh nghiệm của các quốc gia này, một biến thể của lập luận ưu tiên cho kinh tế đã xuất hiện và được áp dụng rộng rãi; đó là: một chính phủ kỹ trị đủ mạnh, bị cách ly khỏi sự hỗn loạn của nền chính trị dân chủ, là biện pháp hữu hiệu nhất trong việc đưa ra các chính sách kinh tế vĩ mô có hiệu quả và có viễn kiến. Theo quan niệm này, thì kinh nghiệm của nước Nga của những năm 1990 và các diễn biến bất ổn của các nền dân chủ non trẻ ở Phi châu, Mỹ châu La-tinh và Đông Âu chính là những hình ảnh về sự điên rồ khi dân chủ được thực thi quá sớm.
Quốc gia dân chủ hùng cường hơn, tươi đẹp hơn và thanh bình hơn
Trong khi lập luận ưu tiên phát triển kinh tế nghe có vẻ đầy sức thuyết phục, thì bằng chứng thực tế cho thấy một cách rõ ràng rằng: trong khu vực những nước đang phát triển, các quốc gia dân chủ luôn luôn vượt qua các quốc gia độc tài về nhiều mặt. Nhưng trước khi tiếp tục, thiết tưởng chúng ta cần phải định rõ nền dân chủ là gì. Nền dân chủ là một hệ thống chính trị dung nạp sự dự phần của số đông, chấp nhận sự cạnh tranh trong việc nắm giữ cơ quan hành pháp, và có nhiều biện pháp giám sát quyền lực mang tính chất hiến định.
(…) Bởi vì ai cũng đồng ý rằng các quốc gia thịnh vượng nhất trên thế giới đều là những quốc gia có nền dân chủ đã được thiết lập một cách hoàn mỹ, và bởi vì điểm tranh luận ở đây là liệu các quốc gia dân chủ nghèo có thể phát triển tương đương với các quốc gia độc tài nghèo hay không, cho nên cuộc thảo luận này sẽ được giới hạn trong những quốc gia có chỉ số GDP theo đầu người nằm dưới con số 2.000 Mỹ kim. Như vậy, chúng ta sẽ so sánh hai nhóm quốc gia nghèo: một bên là các quốc gia dân chủ và bên kia là độc tài.
Các dữ liệu về chỉ số phát triển của thế giới do Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) thu thập từ năm 1960 đến nay đã cho thấy một sự thật rất giản dị như sau: các quốc gia dân chủ nghèo, tính trung bình, đã phát triển với tốc độ nhanh bằng các quốc gia độc tài nghèo trong hơn 40 năm qua. Ngoài khu vực Đông Á, tỷ lệ phát triển bình quân theo đầu người của các quốc gia dân chủ nghèo cao hơn 50% so với các quốc gia độc tài. Các quốc gia đã chọn con đường dân chủ – chẳng hạn như Cộng hòa Dominica, Ấn Độ, Latvia, Mozambique, Nicaragua và Senegal – đều tiến nhanh hơn các quốc gia độc tài như Angola, Congo, Syria, Uzbekistan và Zimbabwe. Hơn nữa, bởi vì một phần tư các quốc gia độc tài tệ hại, trong đó có Cuba, Bắc Hàn, và Somali, đã không cung cấp dữ liệu về sự phát triển của họ, nếu không thì sự sút giảm về tỷ lệ phát triển của các quốc gia độc tài còn lớn hơn nhiều so với dữ liệu của World Bank.
(…) Mặt khác sự phát triển còn được lượng định bằng các chỉ số xã hội như tuổi thọ, số lượng dân chúng tiếp cận nguồn nước sạch, tỷ lệ người dân biết chữ, sản lượng nông nghiệp, phẩm chất dịch vụ y tế công. Đối với hầu hết các tiêu chuẩn này, các quốc gia dân chủ nghèo luôn luôn bỏ xa các quốc gia độc tài.
Người dân của quốc gia dân chủ nghèo sống thọ hơn 9 năm so với người dân của quốc gia độc tài; có cơ hội đến trường trung học nhiều hơn người dân của quốc gia độc tài đến 40%; và lợi tức nông nghiệp cao hơn người dân của quốc gia độc tài 25%. Con số sau cùng là con số rất có ý nghĩa, bởi vì 70% dân số của các quốc gia lợi tức thấp đều sinh sống ở nông thôn. Tử suất trẻ sơ sinh ở các quốc gia dân chủ thấp hơn quốc gia độc tài 20%. Những kẻ đang đi theo lập luận ưu tiên phát triển kinh tế nên đặc biệt chú ý đến con số này, bởi vì nó phản ánh nhiều tiêu chuẩn khác nữa, chẳng hạn như tình trạng chăm sóc sức khỏe của sản phụ trước khi sinh con, chế độ dinh dưỡng, phẩm chất nước uống, và giáo dục nữ giới.
Qua dữ liệu của World Bank, chúng ta thấy các quốc gia dân chủ nghèo còn có một ưu thế nữa: chúng phòng tránh các cuộc khủng hoảng tốt hơn so với những quốc gia độc tài. Kể từ năm 1960, các quốc gia độc tài gánh chịu các cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng (làm giảm 10%, hoặc lớn hơn, chỉ số GDP thường niên) nhiều hơn gấp hai lần so với quốc gia dân chủ. 70% các quốc gia độc tài đã phải trải qua ít nhất một cuộc khủng hoảng như thế kể từ năm 1980, trong khi chỉ có 5 trong số 80 trường hợp khủng hoảng kinh tế đã xảy ra cho các quốc gia dân chủ nghèo trong vòng 40 năm qua.
(…) Trong 30 năm qua, các quốc gia dân chủ nghèo ít lâm vào tình trạng thâm hụt tài chánh hơn so với các quốc gia độc tài. Cả hai nhóm quốc gia này hầu như đều chi tiền bằng nhau cho giáo dục và y tế, nhưng các quốc gia dân chủ nghèo sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả hơn. Không phải ngẫu nhiên mà các quốc gia dân chủ nghèo luôn luôn tỏ ra trong sạch hơn từ 15 đến 20 phần trăm so với các quốc gia độc tài khi được đánh giá theo thang điểm chỉ số tham nhũng và các tiêu chuẩn pháp trị.
Các quốc gia dân chủ thực hiện công cuộc an dân tốt hơn và tránh được phần lớn các thảm hoạ tác động đến cho người dân: trong 20 mươi năm qua, 87% các cuộc tỵ nạn đều xuất phát từ các quốc gia độc tài; 80% số người bị buộc phải ly hương trong năm 2003 đều là dân của các quốc gia độc tài, mặc dù các quốc gia độc tài chỉ chiếm một phần ba các quốc gia trên toàn thế giới. Amartya Sen, nhà kinh tế chính trị học từng đoạt giải Nobel, đã nhận xét rằng: không một nền dân chủ nào trên thế giới từng gặp phải nạn đói nghiêm trọng.
Một số người cho rằng sự dân chủ hoá “vội vã” tại các quốc gia nghèo là nguyên nhân làm cho các chính trị gia cơ hội thổi bùng ngọn lửa thù hận sắc tộc và xung đột vũ trang. Theo lập luận này, bàn tay sắt của nhà lãnh đạo độc tài có thể duy trì tình trạng bình ổn xã hội. Nhưng một lần nữa, lập luận này đã bị sự khảo sát thực tế bác bỏ. Các quốc gia nghèo thường xuyên rơi vào tình trạng xung đột – cứ 5 năm 1 lần kể từ năm 1980. Nhưng quốc gia dân chủ nghèo ít đánh nhau hơn so với các quốc gia độc tài. Ở khu vực dưới sa mạc Sahara của Phi châu, nơi diễn ra hầu hết các cuộc xung đột gần đây, các quốc gia đang tiến hành cải cách dân chủ đều trải qua các cuộc xung đột vũ trang ít hơn 50% so với tỷ lệ xung đột vũ trang xảy ra tại khu vực này.
Mặc dầu các dữ liệu cho thấy rằng các quốc gia dân chủ nghèo thực hiện công việc mang lại lợi ích vật chất cho công dân của mình một cách tốt hơn so với các quốc gia độc tài, nhưng không phải – cố nhiên – tất cả đều như thế. Một số quốc gia dân chủ cũng không thành công trong khía cạnh này; tuy nhiên, một vài quốc gia độc tài, đặc biệt là những quốc gia ở khu vực Đông Á, lại rất phát triển. Điều đó cho thấy rằng có thể đem lại sự phát triển trong một thể chế độc tài. Nhưng loại chính phủ độc tài này khó có thể đại diện cho hầu hết các chế độ chuyên quyền trên khắp thế giới. Nam Hàn, Đài Loan, Singapore và Indonesia đều khuyến khích sự phát triển của khu vực tư nhân, theo đuổi chiến lược phát triển mang chiều hướng xuất cảng và chịu ảnh hưởng các quốc gia dân chủ phương Tây một cách nặng nề khi áp dụng các định chế chính trị và kinh tế đặc thù của mình. Hơn nữa, như Trung Quốc đã cho thấy thông qua thành tích kinh tế to lớn của mình vào cuối thập kỷ 1970 (thời điểm nước này bắt đầu áp dụng các chính sách kinh tế theo định hướng thị trường), chủ nghĩa độc tài không phải là đặc điểm mang lại sự phát triển của các quốc gia này. (…) Do đó, dẫu có tồn tại các trường hợp ngoại lệ, nhưng sự ưu trội của kinh nghiệm mới là cái đưa đến chính sách phát triển. Và một chứng cứ phổ quát hiện đang bao trùm khắp mọi nơi, đó là: trong 40 năm qua, các quốc gia dân chủ nghèo đã và đang có một ưu thế phát triển vững chắc hơn so với các quốc gia độc tài.
Một giả định bổ sung vào lập luận ưu tiên phát triển kinh tế cho rằng: dân chủ cuối cùng sẽ xuất hiện sau khi có sự tiến bộ về kinh tế. Nói một cách cụ thể, khi một quốc gia bước vào tình trạng “trung lưu” – Fareed Zakaria của tờ Newsweek và nhiều người khác đã đưa ra một tiêu chuẩn về lợi tức theo đầu người cho một quốc gia “trung lưu” là 6.000 Mỹ kim – thì theo lập luận này, người dân chắc chắn sẽ đòi hỏi một sự dự phần chính trị sâu rộng hơn, và điều này sẽ đưa đến sự chuyển đổi dân chủ thành công. Tuy nhiên, có một vấn đề thực tế khiến cho ta khó có thể thử nghiệm xem giả thuyết này đúng hay sai, đó là: chỉ có một vài quốc gia độc tài đã đạt đến tiêu chuẩn “trung lưu”. Kể từ năm 1960, chỉ có 16 quốc gia độc tài có lợi tức theo đầu người vượt qua con số 2.000 Mỹ kim. Trong số này, chỉ có sáu quốc gia – Đài Loan, Nam Hàn, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha, Hy-lạp và Mễ-tây-cơ – áp dụng chế độ dân chủ như là một hệ quả của sự phát triển kinh tế. Con số này là thiểu số và không đủ để làm căn cứ áp dụng mô thức ưu tiên phát triển kinh tế cho toàn bộ các nước đang phát triển. Nếu dựa vào lập luận dân chủ sẽ đến sau khi phát triển kinh tế này, thì chẳng lẽ phần lớn, trừ 4, trong số 87 quốc gia trên thế giới, những quốc gia đang thực hiện một cuộc chuyển đổi dân chủ, đều không thích hợp để hưởng một nền dân chủ hay sao?
Các ý niệm nền tảng
Sau khi làm nổi bật sự ưu trội của các quốc gia dân chủ nghèo so với các quốc gia độc tài nghèo, chúng ta hãu chuyển sang thảo luận về các ý niệm nền tảng của vấn đề này. Các quốc gia dân chủ nghèo luôn luôn vượt qua các quốc gia độc tài, bởi vì các định chế cai trị của chúng khiến cho quyền lực được chia sẻ, đồng thời bởi vì chúng khuyến khích sự cởi mở và thích nghi.
Các nhà lãnh đạo dân chủ luôn luôn có động lực trong việc tìm cách làm thoả mãn các nhu cầu của người dân. Nếu không làm như thế, họ sẽ bị truất nhiệm. Và bởi vì đa số người dân đều quan tâm đến các vấn đề cơm áo, cho nên các vấn đề này lúc nào cũng được ưu tiên xuất hiện trong nghị trình của các ứng viên. Trái lại, sự ủng hộ có tính cách ban phát và bè đảng hẹp hòi, cái mà các nhà lãnh đạo độc tài thường dựa vào để mưu tìm quyền lực, khiến cho họ không còn nhiều động lực để tập trung sự thịnh vượng chung của xã hội.
Ưu điểm phát triển của nền dân chủ nảy sinh từ cơ chế giám sát và đối trọng – đặc tính của hệ thống chính trị tự trị. Quyền lực không thể bị độc chiếm bởi bất cứ cá nhân hay một nhánh quyền hành nào của chính phủ, dẫu cho nhà lãnh đạo quốc gia thủ đắc sự ủy nhiệm của người dân. Mặc dầu dân chủ là một tiến trình chậm chạp, nhưng nó sẽ triệt giảm sự lan toả của các chính sách nông nổi, thiển cận hoặc cực đoan, những chính sách có thể mang đến nhiều hậu quả kinh tế thảm khốc. (…)
Trong khi đó, chế độ độc tài thường biến sự độc quyền về chính trị thành sự độc quyền về kinh tế. Chỉ có những doanh vụ và cá nhân có mối quan hệ mật thiết với đảng cai trị mới có thể thủ đắc giấy phép, tín dụng và nhiều nguồn lực cần thiết khác để thành công. Sự biệt đãi như thế sẽ giết chết tính cạnh tranh và sáng tạo; do đó, sẽ làm suy kiệt tính hiệu quả của nền kinh tế. Người tiêu thụ không có nhiều chọn lựa, đồng thời phải mua hàng với giá cao hơn. Khi những kẻ trung thành với chế độ có được đặc quyền hưởng dụng nền giáo dục, nhà ở, sự lựa chọn nghề nghiệp và địa vị xã hội, thì sự phân bổ cơ hội cho những kẻ đứng ngoài sẽ trở nên vô cùng nhỏ nhoi. Chính vì thế, đặc tính không thể thiếu của nền dân chủ là nó cung cấp một phạm vi riêng tư, cái – được luật pháp bảo vệ – sẽ nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo, hành xử độc lập và hoạt động công dân.
Dân chủ là công khai: dân chủ khơi mở dòng chảy của thông tin. (…) Dòng chảy tự do của tư tưởng, cũng như dòng chảy tự do của hàng hoá, sẽ tạo ra các chính sách hữu hiệu và thích hợp. (…) Thông tin được thông tri một cách tốt nhất qua các kênh truyền thông đa chiều và độc lập. Chính chiến dịch giáo dục công chúng được chính phủ và các tổ chức phi chính phủ của Uganda đảm trách đã làm suy yếu một cách đáng kinh ngạc tình trạng lây nhiễm căn bệnh HIV/AIDS tại nước này. Uganda từng là quốc gia đứng đầu thế giới về tỷ lệ lây nhiễm HIV ở người lớn, khoảng 30%, nhưng cho đến năm 2003, tỷ lệ này chỉ còn 7%. Trái lại, việc Trung Quốc tìm cách bưng bít thông tin trong thời gian bệnh SARS lây lan tại nước này đã khiến cho bệnh lan rộng trước khi công chúng ý thức được cách phòng chống và các biện pháp phối hợp được đưa ra. Đến khi dịch bệnh được thừa nhận, thì sự không tin vào chính phủ đã đưa đến hành động người dân vi phạm các quy định kiểm dịch trong các khu vực xảy ra dịch bệnh. (…)
Sự công khai làm giảm cơ hội nhũng lạm. Truyền thông độc lập sẽ mang lại nhiều hy vọng về việc phơi bày các xung đột lợi ích tiềm tàng. Tuy nhiên, điều ngược đời là sự công khai càng được thực hiện sâu rộng tại những xã hội mới dân chủ hoá thì lại càng dẫn đến sự nhận thức rằng tình trạng tham nhũng đang trở nên trầm trọng hơn. Tại Kenya, chẳng hạn, một nghiên cứu do Tổ chức Minh bạch Thế giới thực hiện đã khám phá ra rằng sự nhận thức ấy vào năm 2003 – năm đầu tiên của chính phủ được bầu chọn một cách dân chủ – đã tỏ ra mạnh mẽ hơn so với sự nhận thức của những năm cuối thập niên 1990, khi nước này nằm dưới sự cai trị độc đoán của Daniel arap Moi. Tuy nhiên, tổ chức Minh bạch Thế giới cũng nhận ra rằng trung bình mỗi người dân Kenya chỉ phải hối lộ 9 lần trong năm 2003, so với 29 lần trong năm 2002, từ đó đã tiết kiệm được 10 phần trăm lợi tức thường niên.
Sự minh bạch luôn luôn có tác dụng tốt hơn so với việc tìm cách cắt giảm cái giá phải trả của tệ nạn tham nhũng (…). World Bank ước định rằng tham nhũng (…) đã lấy đi 5 phần trăm tổng giá trị của nền kinh tế toàn cầu, hay nói cách khác, 1.5 nghìn tỷ Mỹ kim một năm.
Tính thích nghi là một ưu điểm khác của nền dân chủ. Các quốc gia dân chủ nâng cao sự ổn định chính trị bằng cách thiết lập một cơ chế kế nhiệm rạch ròi. Điều này cho phép chúng tiếp tục vận hành một cách bình ổn khi nhà lãnh đạo quốc gia qua đời hoặc bị thất cử, đồng thời giảm thiểu tối đa các mưu toan thủ đắc quyền lực một cách phi pháp. Do đó, nhịp độ phát triển sẽ được duy trì, ngay cả khi các chính sách đặc thù của chính phủ trước được chuyển giao cho chính phủ kế nhiệm.
Dưới một thể chế dân chủ, sự trung thành với phương cách chuyển giao quyền lực một cách chính thống sẽ phản ánh tinh thần thượng tôn pháp luật: các nhà lãnh đạo chỉ có thể đạt được sự chính danh trong ánh mắt của dân chúng khi nào họ thủ đắc quyền lực thông qua những biện pháp dân chủ. Tính chính danh chính trị đặt nền tảng trên luật pháp, đến phiên nó, sẽ tạo cơ sở cho việc áp dụng các chuẩn mực pháp lý trong việc điều hành chính phủ và quản trị kinh doanh, đồng thời mang lại sự điều phối dựa trên luật lệ đối với nền kinh tế.
Cuối cùng, các cấu trúc dân chủ luôn luôn thích nghi tốt với sự biến đổi của hoàn cảnh. Vì các chính sách trong các quốc gia dân chủ đều bắt nguồn từ một tiến trình “thử và sai”, cho nên chúng có thể thích ứng với hoàn cảnh thực tế của dân chúng. Khi có một sự hình thành chính sách và quan điểm, thì luôn luôn có một áp lực tu chỉnh, loại bỏ hoặc thay thế những thứ không thích hợp. Các cuộc bầu cử là cơ hội thuận tiện nhất để cho sự tu chỉnh được thực thi. Nhưng ngay trong nhiệm kỳ của một nhà lãnh đạo, thì sự tu chỉnh này vẫn sẽ diễn ra. Nền dân chủ có tính chất độc đáo không phải vì nó luôn luôn đưa ra chính sách tốt đẹp nhất, mà vì nó định chế hoá quyền thay đổi lãnh đạo hoặc chính sách một khi những thứ này trở nên kém hữu hiệu. (…)
Nhìn chung, nền dân chủ luôn luôn đưa ra một hệ thống định chế đầy quyền uy để có thể thúc đẩy sự phát triển của quốc gia. Các định chế này càng mang nhiều tính đại diện, tính minh bạch và tính trách nhiệm, thì các chính sách mà chúng đưa ra càng có nhiều khả năng đáp ứng với các nhu cầu cấp thiết và căn bản của dân chúng.
Dân chủ trước
Chúng ta phản đối lập luận “Phát triển trước, dân chủ sau”, bởi vì kinh nghiệm đã cho thấy rằng dân chủ thường mang lại sự thịnh vượng cho các quốc gia nghèo đói. Hơn nữa, chứng cứ xác thực đã chứng tỏ rằng nhiều nước phải thường xuyên chịu cảnh yếu kém chính là vì chúng vẫn duy trì các cấu trúc chính trị chuyên quyền và độc đoán. Do đó, chính sách ưu tiên phát triển kinh tế sẽ có nguy cơ tô đậm thêm cái vòng luẩn quẩn đói nghèo, xung đột và áp bức.
Trái lại, chính sách tập trung phát triển dân chủ không chỉ hàm ý rằng các nước nghèo có thể thành công trong công cuộc dân chủ hoá, mà còn nói lên rằng dân chủ luôn luôn tạo ra các thiết chế đối trọng và giám sát quyền lực chính trị, đồng thời luôn luôn đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của công dân, cũng như đưa đến tính công khai và các cơ chế tự điều chỉnh – tất cả những điều này sẽ góp phần vào việc nâng cao điều kiện sống của người dân và sự phát triển bền vững của đất nước.
Ngoài ra, thiết lập các định chế quốc gia khiến cho người lãnh đạo phải chịu trách nhiệm trước người dân còn đem lại khả năng chuyển các gánh nặng giám sát sự phát triển từ các định chế quốc tế sang các cấu trúc chính trị quốc gia. Sự chuyển giao trách nhiệm như vậy mới có thể tiết giảm công việc quản trị của các cơ quan quốc tế, đồng thời làm lớn mạnh các chiến lược phát triển thích hợp với nhu cầu địa phương.
Vượt thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và đẩy mạnh dân chủ là một tiến trình khó khăn và lâu dài, mà đôi khi có thể đưa đến một số thất bại có tính chất giai đoạn. Nhưng sự gian khó này không giống với những gian khó tệ hại hơn rất nhiều mà chúng ta thường xuyên phải chịu đựng trong một chế độ độc tài, đó là: tình trạng trì trệ kinh tế, các thảm họa nhân đạo, và sự xung đột vũ trang.
Bản tiếng Việt © 2008 talawas