trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
15.11.2002
Phạm Xuân Nguyên
Xin hãy cứ học theo cụ Nguyễn
Về bộ phim mới: Mê Thảo-thời vang bóng của đạo diễn Việt Linh
 

1.

Nguyễn Du viết Ðoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) là dựa theo Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân. Ðiều này người Việt đọc Kiều ai cũng biết.

Kim Vân Kiều truyện là tiểu thuyết văn xuôi lối chương hồi của Trung Quốc. Ðoạn trường tân thanh là tiểu thuyết thơ thể lục bát của Việt Nam. Ðiều này người Việt đọc Kiều ai cũng biết.

Ðoạn trường tân thanh y sì Kim Vân Kiều truyện về cốt truyện, không thêm bớt một nhân vật nào, một sự kiện nào, một hành động nào, một địa điểm nào, một thời gian nào. Nguyễn Du chỉ lược của Thanh Tâm tài nhân một vài chi tiết do yêu cầu của thể loại. Ðiều này người Việt đọc Kiều ai cũng biết.

Thanh Tâm tài nhân là nhà văn xoàng ở xứ ông. Kim Vân Kiều truyện là tác phẩm ở xứ ông gần như bị lãng quên. Nguyễn Du là đại thi hào của nước Việt, danh nhân văn hóa thế giới. Ðoạn trường tân thanh khắp hang cùng ngõ hẻm nước Việt đều đọc, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ðiều này người Việt đọc Kiều ai cũng biết.

May mà cụ Nguyễn tổ này khi dựa tác phẩm người làm tác phẩm mình đã rập khuôn để sáng tạo và sáng tạo trong rập khuôn mới để lại một kiệt tác gây cái hồng phúc cho văn chương nước non nhà. Ðiều này người Việt đọc Kiều không phải ai cũng biết.

(Giả sử, trộm vía cụ, gần hai trăm năm trước lúc đang viết cụ hứng bút cái cảnh báo oán báo ân cho Kiều giết chết Hoạn Thư, hay cuộc đoàn viên cụ bắt Kiều lên giường chăn gối với chàng Kim, lấy cớ người Việt ghét ra ghét yêu ra yêu, thì Kiều sẽ là người của hôm nay, tiếc thay).

2.

Nguyễn Tuân viết Chùa đàn năm 1946 trong không khí cách mạng kể một người thoát cái cá nhân ra với cộng đồng, từ chán sống đến biết sống. Nhưng đấy là lớp ngoài. Chùa đàn là truyện trong truyện, ông Nguyễn viết rất kỹ lưỡng, có ba phần dựng, “tâm sự của Nước Ðộc…” đóng. Lớp trong mới là chính, là phần đắc ý nhất của Nguyễn Tuân, tức là ở phần “Tâm sự của Nước Ðộc”. Là một nhà văn nổi tiếng duy mỹ, ông Nguyễn dồn cả vào đây sự tụng ca nghệ thuật qua một giọng đàn giọng hát với những vinh quang bi lụy của nó. Và bi kịch giải thoát, khi tiếng đàn lời ca ấy hòa điệu khốc liệt chết người để cứu người. Ðiều này ai đọc Chùa đàn thì biết.

Cặp đàn ca tài danh dưới ngòi bút ông Nguyễn đây là Bá Nhỡ và cô Tơ. Họ là tri âm của nhau, không phải tình nhân hay vợ chồng. Ðể thức tỉnh và cứu vớt ân nhân Lãnh Út, Bá Nhỡ đền ơn cứu mạng bằng cây đàn oan nghiệt của chồng cô Tơ để lại đệm cho tiếng hát cô Tơ. Dây đàn đứt, Bá Nhỡ chết, Lãnh Út bỏ đi, ấp Mê Thảo bốc cháy. Ðiều này ai đọc Chùa đàn thì biết.

Sinh thời, khi tuyển tập Nguyễn Tuân ra lần đầu không được đưa Chùa đàn vào, ông Nguyễn buồn và đau lắm. Nghe như một lần ông thổ lộ với người làm tuyển thế bằng như cắt mất buồng gan của ông. Ðiều này ai đọc Chùa đàn thì cũng khó biết.

3.

Phim Mê Thảo – thời vang bóng dựng theo Chùa đàn. Các tác giả phim cũng chỉ lấy phần “Tâm sự của Nước Ðộc” của truyện để chuyển lên màn ảnh. Ðiều này ai đọc Chùa đàn cũng thấy đúng. Phần đó là cái tích chùa đàn. Mê Thảo là tên cái ấp của Lãnh Út. Nhưng thêm ba chữ “thời vang bóng” đã là sai. Ai đọc Nguyễn Tuân đều biết ông viết loạt truyện “vang bóng một thời” đăng trên tạp chí Thanh Nghị thời trước 1945 là có cái ý bảo tồn trân trọng những nếp văn hóa cổ xưa trước sự xâm thực của văn hóa ngoại lai lố lăng. Ông Nguyễn vốn kỹ tính và kiêu kỳ. Một tập sách của ông biên tập viên định đặt tên “Ký Nguyễn Tuân” ông còn bảo rút lại thành “Ký Tuân”, như một ký gạo, ký thịt, nghe lạ và ấn tượng. Ðem một tên gọi rất hay của ông làm đuôi cho một cái tên gọi khác rất có ý của ông là điều tối kị đối với ông. Mặc dù các tác giả phim hình như có ý của họ. Văn chương nghệ thuật Việt Nam đến nay vẫn rất chuộng cái lối tuyên bố nửa úp nửa mở chủ đề tư tưởng tác phẩm ngay từ cái tên gọi: thời lầm lỗi, thời xa vắng. Tên thì to mà nội dung thì bé. Gọi Mê Thảo là đủ, cứ gì phải đèo thêm “thời vang bóng”? Xem phim người ta chỉ là Thu Cúc đi kiện, Giã từ ái thiếp, tên cứ như câu cửa miệng mà phim nặng kiếp nhân sinh.

Cặp cầm ca Tơ – Bá Nhỡ vào phim được đổi tên Tơ – Tam. Ông chủ Mê Thảo từ là Lãnh Út thành Nguyễn. Cũng cho là được đi, nếu đổi tên có ý nghĩa gì. Ở đây có chăng là cái tên Nguyễn? Còn không thì cứ nguyên tên trong truyện mà gọi, nhất là với những cái tên nhân vật văn học đã nổi tiếng, quen thuộc. Nhớ lại dạo nào có vở chèo lấy tích Tấm Cám đã đặt tên là chị Tấm anh Ðiền, chẳng lẽ còn vang bóng đến một bộ phim hôm nay. Ông Nguyễn đặt một chữ là một cân nhắc, Bá Nhỡ thành Tam, hỡi ôi, văn thành phim.

Có ba sự phá văn Chùa đàn và dung tục Nguyễn Tuân trong phim này. Thứ nhất, xử lý mối liên hệ Tơ – Bá Nhỡ thành Tơ – Tam. Tình tri âm bị biến thành tình nhân. Cái lý do Bá Nhỡ ở Mê Thảo đã thành một cảnh súng nổ máu chảy, mà lẽ ra chỉ cần một câu thoại. Trọng tâm của nhân vật này không phải hối hận việc giết người mà day dứt một kiếp đàn. Thứ hai, sự thủ dâm của Lãnh Út (thành Nguyễn). Nguyễn Tuân thời trẻ vào chốn cầm ca tửu sắc đã biết trọng cái thanh cao nghệ thuật, nhiều sáng tác ông viết về những người cô đầu không bợn chút xác thịt. Ông chủ Mê Thảo nếu có thủ dâm là thủ dâm về xã hội chứ không phải thủ dâm tình dục. Thứ ba, đặt thêm một nhân vật là người đàn bà làm công yêu ông chủ, mô típ xấu người dở nết nhưng tâm hồn cao thượng. Cũng có thể hiểu: một sự mù quáng của đám đông? Thứ tư, con đường xe lửa chạy qua ấp. Cái sự chỉ “nghe nói sẽ có con đường xe lửa mở qua đây” trong văn Nguyễn Tuân lên phim đã biến ông chủ ấp suốt phim chỉ triền miên say rượu và thủ dâm thoắt thành một lãnh tụ nông dân với một câu thoại rất kịch nói với đám người khốn khổ: “Các người nên nhớ, bóng tối là địa ngục, nhưng ánh sáng không phải bao giờ cũng là thiên đường”. Có ý có tứ cả đấy, hỡi người xem! Cả phim các lớp lang khá rời rạc, nhưng riêng cảnh cuối khép với cảnh đầu là theo kiểu thủ vĩ hô ứng: nghe câu chủ ấp nói, nhớ lại cảnh đầu phim con tàu thời nay chở đôi trẻ lắc lư theo tiếng nhạc hiện đại lao vun vút về quá khứ, về Mê Thảo, lời cảnh báo thế là đã được chứng nghiệm. Nguyễn Tuân có sống lại xem phim cũng đành ngậm ngùi: ông đã bị con cháu cho rớt tàu.

Tôi không hiểu vì sao có sự phá văn và dung tục đến như vậy. Nghĩ mãi, tôi chỉ có thể cho là thế này: các tác giả phim Mê Thảo – thời vang bóng đã hiểu Nguyễn Tuân, hiểu văn Nguyễn Tuân, hiểu Chùa đàn của Nguyễn Tuân theo cách họ muốn làm phim. Do đó phim của họ, tôi nghĩ, may ra là “vang bóng Chùa đàn” nếu không phải là “tàn bóng Chùa đàn”.

Có một lần thời nay Nguyễn Tuân nghe hát ca trù, người hát là một nghệ nhân nổi danh, ông cầm chầu, đang lúc tiếng hát tiếng trống cao trào hứng khởi thì có mấy người cũng dân văn nghệ đến xem ghé cứ rì rào nhỏ to, ông bực quá giáng một roi chầu thật mạnh, sau đó bỏ về để lại một lời với người bạn đã vì ông mà tổ chức hầu hát đó: bận sau có bọn đó thì thôi, khỏi bảo tôi đến. Câu chuyện này là kỷ niệm của nhà thơ Hoàng Cầm và đã được viết thành bài in sách. Nếu ông Nguyễn còn sống bây giờ vào rạp xem Chùa đàn lên phim ông có xô ghế đứng dậy ra về? Và ông sẽ nói câu gì?

4.

Có người sẽ phản đối tôi: truyện là truyện, phim là phim, phim dựa theo truyện không nhất thiết theo đúng truyện, nhà biên kịch và đạo diễn được phép và được quyền sữa chữa thêm bớt cái của nhà văn, sao anh cứ lấy truyện mà bình phim. Thì hẳn. Nhưng nếu người làm phim có phép và có quyền như vậy đối với tác phẩm văn học thì tôi cũng có phép và có quyền như vậy đối với tác phẩm điện ảnh, trong trường hợp này điểm quy chiếu của hai bên là văn bản của nhà văn. Làm phim theo truyện là anh phải chấp nhận sự thưởng thức phán xét của hai loại khán giả: loại có đọc truyện và loại không đọc truyện. Tôi nói từ góc độ một người đọc truyện bình thường, chưa nói là phê bình văn học, các tác giả phim có thể trao đổi tranh luận với tôi với tư cách họ cũng là người đã đọc truyện, chứ không thể lấy ý kiến những người không đọc truyện đối lập và phủ nhận ý tôi. Kiểu như nói: thì anh cứ quên truyện đi, coi đây là một bộ phim độc lập, như những người chưa đọc truyện họ xem ấy. Ơ hay, rành rành dòng chữ dưới tên phim trang trọng: “Dựa theo tác phẩm… của nhà văn…”, tôi đọc truyện rồi giờ tôi xem phim, bảo quên truyện làm sao tôi quên được. Nói thế là còn xúc phạm đến tác giả truyện nữa. Lẽ ra với loại khán giả này người làm phim lại phải thận trọng, lại cần ý kiến phản hồi, vì họ cùng đọc một tác phẩm với anh. Chớ khuếch đại đặc trưng của một loại hình nghệ thuật để vầy vò tác phẩm của một loại hình khác.

Ðể tránh căng thẳng nhiều khi dẫn đến xung đột mất mặn mất ngọt giữa người văn và người phim khi đưa một tác phẩm lên màn ảnh, tôi xin kiến nghị một giải pháp: phim lấy một số ý, một số sự kiện của truyện thì gọi là dựa theo, dựa thì có thể thay đổi đắp bồi thêm, còn lấy hẳn cả truyện thì gọi là dựng theo, dựng thì nên giữ nguyên. Hợp đồng bản quyền giữa nhà văn một bên, nhà biên kịch và đạo diễn một bên, cũng tùy dựng hay dựa mà định liệu số tiền và tiên liệu sự cãi nhau. Cứ theo đó tôi gọi phim Mê Thảo – thời vang bóng là “dựa theo tiểu thuyết Chùa đàn của nhà văn Nguyễn Tuân”. Mà tôi cũng chẳng cần gọi, phim đã đề như vậy rồi. Té ra, lâu nay các nhà làm phim đã thực hiện dựa theo rất nhiều, thế mà tôi cứ tưởng đề ra được một giải pháp gì to tát, công hiệu lắm. Và cứ trong thực tế mà suy, cho tôi nói thật một điều, phim nước ta chủ yếu là dựa, mà dựa thường hay làm hỏng các tác phẩm văn học nổi tiếng.

Nghe có dạo người ta định làm phim Kiều. May có phim sân khấu dựa theo “Hoàng Lê nhất thống chí” đã làm cho người ta có phần biết sợ. Tôi khuyên các nhà làm phim nên đọc và đọc lại Truyện Kiều. Xin cứ học theo cụ Nguyễn: làm theo cái đã có thì phải sáng tạo trong phạm vi khuôn khổ cái đó. Cụ dùng lục bát tiếng Việt thể hiện lại y nguyên câu truyện văn xuôi tiếng Hán thành ra một kiệt tác. Tự bó mình vào chỗ hẹp mà bay lên được mới tài. Làm phim chuyển thể văn học là dùng ngôn ngữ điện ảnh truyền đạt và chuyển tải những cái đã có trong tác phẩm viết, có nhà làm phim Việt Nam nào đã dám thế chưa?

Tokyo, 21/10/2002

Phụ lục 1

Nguyễn Quang Lập

Gửi Nguyên



Tao đã đọc xong bài Xin hãy cứ học theo cụ Nguyễn của mày rồi. Tao thích, thích nhất là cái giọng tưng tửng của mày, cái giọng làm người ta dễ cáu nhưng lại có sắc thái phản ánh cá tính văn hóa của mày. Việc đề xuất dựa theo, dựng theo là hợp lý và đó là đề xuất hay. Tuy nhiên, mày xem phim chỉ luôn soi xem người ta chuyển thể như thế nào, đúng sai hay dở so với tác phẩm văn học, chứ ít khi xét nó với tư cách một tác phẩm điện ảnh độc lập. Những nhận xét thiên về văn học chỉ có ích cho nhà biên kịch chứ đối với đạo diễn thì hoặc họ không hiểu hoặc họ không quan tâm. Ðiện ảnh rất cần những đòn đau để tỉnh ngộ, nhưng phải là những đòn knock out chính nó, vì nó, chứ không phải là những lý giải ngoài hoặc quá xa điện ảnh. Tao ví dụ thế này không hiểu mày có cho là đơn giản và khập khiễng không. Con mày may một cái áo dựa theo mẫu của một diễn viên điện ảnh. Cái mẫu áo này cô diễn viên mặc rất đẹp. Con mày may áo và tùy hứng thay đổi một vài chỗ, kết quả là cái áo chẳng những mặc không vừa mà còn kệch cỡm và gớm guốc. Lúc này mày dạy con mày về việc chuyển thể cái áo sao cho đúng hay mày chỉ ra cho con mày những sai sót thẩm mỹ trong quá trình thiết kế và may áo của con mày mà không cần quan tâm đến con mày lấy mẫu của ai, từ đâu? Tao nghĩ, hiện nay không có phê bình điện ảnh là vì chúng ta, những người làm và những người bình, chưa quan tâm và do đó chưa thông thạo lắm ngôn ngữ điện ảnh – cái chủ yếu làm ra cái gọi là điện ảnh. Cũng giống hệt hiện nay phê bình và sáng tác văn học chỉ quan tâm đến ý tưởng hay những tiền đề triết học mà nó đặt ra, mà không chú ý đến văn và hành văn – ngôn ngữ của văn học – cái chủ yếu làm ra cái gọi là văn học.

Mê Thảo không phải là bộ phim vứt đi. Sai lầm của nó là đã sử dụng nhầm ngôn ngữ. (Chỉ những “xen” về cô gái câm là rất xi-nê, còn lại là sặc mùi sân khấu). Thêm vào đó là lối làm phim vạch ra một ý tưởng rồi bắt tất cả chạy theo phục vụ cho ý tưởng đó là rất lạc hậu, hoàn toàn xa lạ với điện ảnh đương đại.

Tao nói dài quá rồi, chắc mày chẳng muốn đọc nữa, tao cũng cảm thấy mệt và chán khi phải bàn đến những vấn đề này.

Hà Nội 24/10/2002

Phụ lục 2

Ngân Xuyên

Xem phim Mê Thảo- thời vang bóng ở Tokyo



Thủ đô xứ hoa anh đào đang những ngày cuối thu trong buốt: trời trong xanh, nắng vàng nhẹ và gió thổi lạnh. Liên hoan phim quốc tế phụ nữ Tokyo lần thứ 15 đang diễn ra tại đây. Có 12 bộ phim truyện và tài liệu được trình chiếu trong mười ngày (26/10 – 4/11) của các nữ đạo diễn đến từ các nước Pháp, Indonesia, Việt Nam, Philippin và Nhật Bản. Bộ phim Mê Thảo thời vang bóng (MTTVB) của đạo diễn Việt Linh bị một trục trặc bất ngờ không được dự Liên hoan phim châu Á – Thái Bình Dương vừa tổ chức ở Hàn Quốc, đã kịp có mặt ở liên hoan này. Suất chiếu của MTTVB vào 12h trưa ngày 30/10/2002. Khi tôi bước vào phòng chiếu của Tokyo Women’s Plaza ở khu Shibuya thì cả phòng xem nhỏ khoảng ba trăm người đã kín chỗ. Trên sân khấu đạo diễn Việt Linh đang nói qua về tác phẩm của mình và mời những khán giả nước ngoài đầu tiên xem phim. Ðèn tắt, màn ảnh xuất hiện con tàu chở đôi trẻ lắc lư nghe nhạc từ hiện tại quay về quá khứ. Âm thanh gốc của phim (nhạc, tiếng động, đối thoại) được giữ nguyên, chỉ có thêm những dòng chữ Nhật phụ đề chạy dọc hai bên màn ảnh. Tôi đã xem phim này ở Trung tâm chiếu bóng quốc gia (Ngọc Khánh), giờ đến coi lại vừa để xem cảm xúc của mình có khác không, vừa có ý muốn biết sự đánh giá của khán giả Nhật Bản ra sao. Hết phim, đạo diễn giao lưu với khán giả. Có hai cô cậu sinh viên Việt Nam đang học kinh tế tại Tokyo khi nghe tôi hỏi thấy phim thế nào thì cười bảo chúng cháu chưa hiểu gì cả. Tôi nhờ luôn hai bạn trẻ này dịch cho nghe những câu hỏi của các khán giả Nhật Bản về bộ phim.

Người lên tiếng đầu tiên là một phụ nữ hỏi về cái tửu phần trong phim có ý nghĩa gì, ở Việt Nam có tục chôn cả một nghĩa địa rượu như thế không. Ðạo diễn Việt Linh nói nhân vật trong truyện của nhà văn Nguyễn Tuân là một anh điên khùng nên cho chôn rượu như thế chỉ để chứng tỏ sự điên khùng của anh ta chứ cái tửu phần đó không có ý nghĩa gì cả. Người dân Việt Nam có tục chôn rượu xuống đất để uống cho ngon nhưng không ai chôn thành cả một nghĩa địa như vậy. Câu hỏi tiếp là về cảnh thả đèn trời, người hỏi cũng muốn biết đó có phải là một phong tục của Việt Nam không. Ðạo diễn trả lời khẳng định. Hình như bộ phim hấp dẫn khán giả Nhật ở những cái lạ nên lại một câu hỏi về điệu hát cuối phim. Ðạo diễn cho biết đó là điệu chầu văn vốn là vui vẻ trong hát lên đồng, nhưng trong phim thì là hát nỗi đau buồn, lời do chị đặt ra để hợp với cảnh phim. Một khán giả hỏi về ý nghĩa của cái tên Mê Thảo. Ðạo diễn nói đó là cái tên do nhà văn đặt ra, nó không có ý nghĩa gì cả, tách ra từng chữ thì nó có nghĩa theo tiếng Hán, “mê” là mê muội, mê mẩn, “thảo” là cỏ, cũng có nghĩa là hiền nữa, nhưng Mê Thảo thì không có nghĩa. Chị kể là lúc đầu bộ phim mang tên “Thời vang bóng”, nhưng khi sang làm ở Pháp mọi người góp ý nên thêm hai chữ Mê Thảo vào vì nghe nó có một âm điệu rất lạ, dễ cuốn hút. Nãy giờ nghe toàn những câu hỏi “tò mò” như thế, chị Minh làm ở đài truyền hình NHK thở dài: khéo mà khán giả Nhật hiểu sai bộ phim mất. Nhưng rồi cũng có người hỏi về thái độ chống đối văn minh của nhân vật chính trong phim. Ðạo diễn nói người Việt Nam tiếp xúc với văn minh phương Tây mà nếu không bị mất độc lập đất nước thì sẽ chấp nhận dễ dàng, mà chắc nước nào cũng vậy thôi. Khung cảnh trong phim này là xã hội Việt Nam đầu thế kỷ hai mươi, khi người Pháp đến Việt Nam chưa phải với ý đồ thực dân, mà còn là khai hóa. Nhưng văn minh cũng có hai mặt của nó. Xin mọi người chú ý đến câu nói của Nguyễn ở cảnh cuối phim: “Bóng tối làm ra địa ngục, nhưng ánh sáng không phải lúc nào cũng luôn luôn là thiên đường”, thấy ánh sáng thì cũng phải nhìn cho rõ đã chớ để bị quáng mắt vì nó. Câu dịch lại khiến khán giả cười vui. Cũng phải nói là Việt Linh may được cô phiên dịch trẻ trung, thông thạo, chính cô là người dịch phụ đề cho MTTVB. Trả lời một câu hỏi về ý nghĩa cảnh cuối phim, đạo diễn cho rằng thật khó nói. Thực ra thì nhân vật Nguyễn đã thức tỉnh khỏi cơn mê của mình rồi, biết mình sai lầm rồi, nhưng không đủ sức mạnh để dứt bỏ, phải nhờ đến sự hy sinh của người khác mới thoát ra được. Bộ phim này là hai câu chuyện tình: một của ông chủ ấp Mê Thảo là thứ tình ích kỷ; một của cặp cầm ca là tình yêu biết sống và chết có ý nghĩa. Ðược hỏi về người phụ nữ câm trong phim, đạo diễn cho biết đó là nhân vật mình sáng tạo thêm so với truyện. Có hai lý do ra đời nhân vật này: thứ nhất, về mặt kỹ thuật nó giúp triển khai được mạch phim; thứ hai, tôi muốn gởi gắm một chút mình vào đó. Cô câm biết hết, nghe hết, nhìn thấy hết nhưng không nói được, thay vào đó cô hành động và dám chịu trách nhiệm về hành động của mình. Khán giả ra ý còn muốn hỏi thêm, đạo diễn Việt Linh cũng rất muốn giao lưu tâm tình, nhưng đã gần đến giờ suất chiếu sau, nên cuộc ra mắt đầu tiên MTTVB trên màn ảnh thế giới kết thúc sau hơn ba giờ cả xem phim và trao đổi.

Tôi cùng mấy người bạn cả Việt và Nhật kéo nhau vào một tiệm cà phê. Họ thấy có phim Việt Nam trong liên hoan là kéo đi xem, chứ không theo dõi liên hoan để xem các phim khác. Mọi người tỏ ra thích phim này, thích hơn Chung cư cũng của Việt Linh và cũng đã dự liên hoan này lần thứ 12 (1999). Chị Kato Sakae, một dịch giả văn học Việt Nam nổi tiếng, khen bố cục phim chặt chẽ, liền mạch. Anh Lê Văn Cừ, phó giáo sư tiến sĩ ngôn ngữ học, người đã ở Nhật Bản gần ba mươi năm, bị hấp dẫn bởi âm nhạc truyền thống trong phim. Nhưng anh cho rằng cái câu tuyên bố của nhân vật Nguyễn ở cuối phim là không hợp, không hay. Phó giáo sư Imai Akio giảng dạy tư tưởng xã hội Việt Nam tại Ðại học ngoại ngữ Tokyo thích sự giằng co giữa bóng tối và ánh sáng, nhưng anh băn khoăn không biết phim có sai lạc với truyện không. Cả Imai và Kato trước hôm xem phim đã đọc lại “Chùa Ðàn” của Nguyễn Tuân. Anh Imai còn nêu lên với tôi một câu hỏi là theo anh nhận thấy, nhiều phim Việt Nam hiện nay trở lại với hiện thực xã hội trước 1945, lý do việc đó thế nào. Thành, cô thạc sĩ xã hội đang lưu lại làm việc ở Tokyo, nhận xét lúc đầu phim hơi rời rạc, nhưng về sau xem cuốn hút hơn. Cô cũng đồng tình với anh Cừ là câu nói của Nguyễn nghe có vẻ tuyên ngôn quá, không hợp. Phát biểu cảm tưởng riêng xong, mọi người quay qua tôi hỏi dư luận trong nước thế nào về MTTVB. Tôi đã nói qua để các bạn biết.

Liên hoan phim quốc tế phụ nữ Tokyo bắt đầu được tổ chức từ năm 1985, trong thời gian 1985 -1991 cứ hai năm một lần, sau đó diễn ra hàng năm. Ðúng như tên gọi của nó, liên hoan này chỉ dành cho phim của các nữ đạo diễn, mục đích để giúp đỡ họ trong công việc sáng tạo nghệ thuật thứ bảy. Nói như Jeanne Moreau, đạo diễn, diễn viên nổi tiếng người Pháp đã tham gia liên hoan từ lần thứ nhất và lần này cũng có mặt: “May thay, chúng ta có cảm xúc khác với đàn ông. Chúng ta không phải là tờ giấy than của đàn ông. Hãy thêm vào văn hóa đàn ông thứ văn hóa phụ nữ do chúng ta làm ra thì sẽ tạo nên một văn hóa con người thực sự”. Việt Linh là đạo diễn nữ duy nhất của nước ta đã ba lần đến dự liên hoan này (1992, 1999, 2002). Lời giới thiệu phim MTTVB trong kỷ yếu của liên hoan viết: “Bộ phim thống thiết (melodramatic) này mô tả thời gian thay đổi và những tình yêu đau khổ trong cuộc đời trên nền nhạc truyền thống. Vì đây là một đề tài khác lạ đối với đạo diễn Việt Linh nên chị đã đưa thêm vào một nhân vật cô đầy tớ câm yêu ông chủ. Bộ phim cho thấy một phương diện mới đáng chú ý của Việt Linh với những hình ảnh có chất lượng cao và một thứ “của lạ” (exoticism) nhẹ nhàng”.

Tokyo 30/10/2002

© Talawas 2002

 
© talawas 2026