Cũng như mọi lần, chiến dịch tranh cử tổng thống lần này vừa xấu xí vừa có vị đắng trong ký ức người Mỹ. Mặt xấu xí chủ yếu diễn theo một hướng, đỉnh cao là hoạt động mạnh mẽ của một nhóm giả định là độc lập, do bạn bè của người tổng thống đương chức tài trợ, nhằm tô vẽ người ra tranh cử – vào những năm tuổi 20 ông là một chiến sĩ mẫu mực cả trong cuộc Chiến tranh Việt Nam lẫn trong phong trào đòi chấm dứt cuộc chiến tranh đó – mô tả ông thành một kẻ hèn nhát và một kẻ phản bội. Cái vị đắng chủ yếu cảm nhận được ở những ai tham gia vào với người tranh cử, song nó lại quá liều khiến cả hai phe đều thấy đắng. Đây là một chiến dịch chẳng ai nghĩ đến giây phút ban nhạc sẽ dạo khúc mừng công “Ngày vui lại về”.
Những cảm xúc dâng cao của cuộc chạy đua (với chút may mắn) sẽ kết thúc vào ngày 2 tháng 11 năm 2004 bắt nguồn từ ba lần sự kiện Ngày Thứ Ba trước đây. Ngày Thứ Ba mồng 7 tháng 11 năm 2000, hơn một trăm linh năm triệu người Mỹ đi bỏ phiếu, và họ đã bầu cho Al Gore làm Tổng thống Hoa Kỳ với số phiếu không nhiều hơn lắm nhưng đúng là nhiều hơn thật. Thế nhưng, do cách phân bổ phiếu bầu, kết quả bầu cử lại trở thành kết quả của bầu cử đoàn ở Florida. Tại bang này, George W. Bush dẫn hơn năm trăm phiếu, tức là một phần nghìn so với độ chênh toàn quốc của Gore; thật bất thường nhưng lại có nhiều điều bất thường, tất cả dẫn đến chỗ lấy mất đi các phiếu bầu cho Gore; và bộ máy bầu cử lại nằm trong tay ông anh của Bush lúc đó là thống đốc bang và trong tay một đồng chủ tịch chiến dịch tranh cử của Bush, lúc đó là bộ trưởng ngoại giao bang Florida.
Bush đâm đơn kiện đòi ngừng kiểm lại phiếu, và vào Ngày Thứ Ba 12 tháng Chạp, Toà án Tối cao Hoa Kỳ thoả mãn đòi hỏi của ông ta. Lý lẽ trong vụ xử Bush kiện nhau với Gore quá yếu kém và rõ ràng là nghiêng về một phe đến độ năm vị thẩm phán ủng hộ quyết định đã từ chối ghi tên mình vào, trong khi bốn thẩm phán chống lại cũng chẳng buồn che đậy sự ghê tởm của họ. Vốn dĩ vẫn có luật để giải quyết những tranh chấp bầu cử loại đó, luật liên bang, luật bang và cả trong Hiến pháp nữa. Song bằng cách phớt lờ các luật đó — không xử mà dùng một quyết định để dựng Bush lên —Toà án Tối cao đã giễu cợt không chỉ quyền dân chủ của người dân mà giễu cợt cả nền cộng hoà pháp định.
Một kết quả chẳng đẹp đẽ đến thế cho cả quyền hành pháp của đa số lẫn quyền bình đẳng của cá nhân công dân có khả năng làm hại cho sự hài hoà xã hội. Thế nhưng tác hại có thể bớt nghiêm trọng đi rất nhiều nếu tân Tổng thống nỗ lực đôi chút để chịu quan tâm đến những điều kiện đặc biệt đã bầu ra ông — trong việc tổ chức Nội các, trong cách thức theo đuổi các mục tiêu chính sách, rất có thể ngay trong việc định ra chính các mục tiêu nữa. Nhưng ông ta đã không có những nỗ lực như vậy. Theo Bob Woodward trong cuốn Kế hoạch tiến công (Plan of Attack), Phó Tổng thống Dick Cheney diễn giải thế này: “Ngay từ buổi đầu chúng tôi bước vào toà nhà tổng thống, đã có khái niệm về một thứ quyền lực tổng thống hạn chế, bởi việc bầu cử sát nút nhau đến vậy, cuộc bầu bán kéo dài chỉ chừng ba chục giây đồng hồ. Nó không được chiêm ngưỡng lâu tý chút. Chúng tôi đã có chương trình nghị sự rồi, chúng tôi lao vào thực hiện thôi, chúng tôi đã thắng cử trong cuộc bầu này — mở hết tốc lực tiến lên thôi.”
Mệnh lệnh quan trọng hàng đầu của tân Tổng thống là thúc giục Hạ Viện thông qua chương trình cắt giảm thuế hoàn toàn nghiêng về làm lợi cho những người rất giàu. Các chính sách ông ta đeo đuổi trong công việc hành pháp như làm suy yếu việc bảo vệ môi trường, cắt giảm quỹ hỗ trợ kế hoạch hoá gia đình quốc tế, hầu hết không được lòng dân chúng, ở bên ngoài người ta gọi đó là “căn cứ cố thủ” (xin nghe cho rõ kẻo nhầm) nghĩa là sự dịch chuyển theo hướng bảo thủ và đặc biệt là yếu tố đạo lý kiểu đạo Tin Lành trong đó. Vòng tay Tổng thống nhiệt thành ôm lấy công cuộc đó đã khiến cho bốn tháng sau khi lập Chính quyền mới thì ông Jim Jeffords thượng nghĩ sĩ ôn hoà bang Vermont ra đi, khiến cho đảng Cộng hoà mất đi quyền kiểm soát Thượng Viện. Rồi bốn tháng sau sự kiện đó, vốn liếng chính trị của Tổng thống lại bị sa sút một mẻ nữa, nhẹ nhàng thôi, nhưng không gì ngăn nổi. Thế là xảy ra Ngày Thứ Ba đen tối nhất.
Ngày 11 tháng Chín 2001 đem lại một món quà tích cực: tình đoàn kết cả quốc tế lẫn quốc gia được trỗi dậy — đoàn kết với Hoa Kỳ và đoàn kết bên trong Hoa Kỳ. Tình đoàn kết đặc biệt dạt dào này đã đem lại cho ông Bush một cơ may thứ nhì để tạo ra một cái gì đó từa tựa như một chính phủ đoàn kết dân tộc. Một lần nữa, ông ta gạt cơ may qua một bên, chọn cách dùng cái vốn liếng chính trị được Osama bin Laden trao cho để hoàn tất nhanh nhiều điều đối nội khác nữa không có trong chương trình. Một năm sau ngày 11 tháng Chín ấy, vào thời gian bầu cử giữa kỳ, ông ta đã gia tăng được đa số trong Hạ Viện và tái lập được việc kiểm soát Thượng Viện bằng cách tô vẽ những người Dân Chủ được bầu như là những kẻ ủng hộ chủ nghĩa khủng bố. Có gì đáng ngạc nhiên không khi thấy sự giận dữ của nhiều người Dân Chủ thậm chí còn lớn hơn những điều lý giải được bằng sự khác biệt quan điểm sâu xa giữa hai ứng cử viên và hai Đảng của họ?
Chính quyền Bush đã thành công trong việc thực thi các chính sách và thực hiện các ý đồ với sự giúp sức của phe đa số — về chính trị và vẻ như cả về ý thức hệ nữa — trong cả hai Viện. Thế nhưng về cơ bản thành tích của chính quyền này cũng là sự thất bại, sự ngạo mạn và thiếu năng lực — điều đặc biệt đối với một ê-kip vốn tự hào về tính chuyên nghiệp của mình.
Vào tháng Giêng 2001, ngay sau khi Bush nhậm chức, Văn phòng Ngân sách Hạ Viện (VPNSHV), một cơ quan không thiên vị đảng nào hết, cho công bố dự báo ngân sách mười năm tới. Báo cáo cho thấy ngân quỹ dư thừa luỹ tiến hơn năm nghìn tỷ đô-la. Vào thời điểm đó, người ta bàn tán nhiều về việc phải làm gì để tiêu hào phóng cho hết món tiền được dự báo đó, chuyện ấy bây giờ nhìn lại thì thấy rõ chỉ là món đồ cổ. (Bây giờ là thất thu – ND thêm). Thất thu ngân quỹ liên bang năm ngoái là ba trăm bảy mươi lăm tỷ đô-la; năm nay sẽ đạt điểm cao nhất là bốn trăm tỷ. Căn cứ theo VPNSHV, dự báo mới nhất được đưa ra vào tháng Chín, thì giai đoạn từ 2005 đến 2014 sẽ có thâm hụt luỹ tiến đến 2,3 nghìn tỷ đô-la.
Ngay cả bảy nghìn tỷ đô-la thay đổi hoàn toàn từ có thành không này vẫn chưa bao gồm những tai hoạ về thuế. Khi tính toán, VPNSHV cho rằng phần lớn việc cắt giảm thuế của Bush sẽ hoàn thành vào năm 2011, như định rõ trong văn bản luật. Thế nhưng, không ai ở Washington lại trông đợi điều đó thực thi đúng lịch trình; thiết kế cắt giảm thuế chỉ mang tính tạm thời sao cho kết quả cuối cùng tỏ ra không đáng sợ lắm. Nếu Hạ Viện cho gia hạn thời gian chót — điều này gần như chắc chắn nếu Bush thắng cử và nếu phe Cộng hoà duy trì được sự kiểm soát Hạ Viện — thì khi đó, theo VPNSHV việc thâm hụt luỹ tiến giữa 2005 và 2014 sẽ tăng gần gấp đôi, lên tới 4,5 nghìn tỷ.
Đổi lại, đất nước đem tương lai mình đi cầm cố sẽ nhận lại được gì? Tổng thống nói rằng việc ông cắt giảm thuế là làm nhẹ gánh cho nền kinh tế trước và sau vụ 11 tháng Chín, do đó mà làm giảm bớt cuộc trượt dốc bắt đầu với việc đổ vỡ hệ thống Nasdaq hồi tháng Tư năm 2000. Đúng là cho dù có thiết kế tồi thì việc cắt giảm thuế cũng khiến cho nền kinh tế có được một cú nảy ngắn. Nhưng như thế cũng không phải là chính sách thông minh. “Phần lớn việc cắt thuế đem lợi về cho những người Mỹ thu nhập thấp và trung bình”, Bush nói trong buổi tranh luận cuối cùng với Thượng nghị sĩ John Kerry. Nói điều này là không đúng — thực ra là nói dối — cho dù nói ra được như thế chí ít cũng lờ mờ nhận ra rằng, làm ngược với cách làm của Robin Hood (lấy của người giàu chia cho người nghèo – ND thêm) và chỉ cắt giảm thuế thôi, là điều tởm lợm cả về chính trị lẫn đạo đức. Thế nhưng để cho việc cắt giảm thuế có thể kích thích nhanh chóng hoạt động kinh tế thì tiền phải chui vào túi những người sẽ chi tiêu nhiều. Trong chừng mực nào đó, theo sự đòi hỏi của phe Dân chủ và những người Cộng hoà ôn hoà, việc cắt giảm thuế của Bush có đem lại cho lớp gia đình trung lưu đôi chút đỡ đần dưới dạng trả lại tiền đặt cọc, chi các món tín dụng lớn hơn vào việc nuôi dạy con trẻ, và tiền phạt nhẹ hơn cho các vi phạm trong việc cưới. Song, người giàu vẫn ăn nhiều mà nói ra thì ít. Một nhóm nghiên cứu có tên Citizens for Tax Justice (Công dân đấu tranh cho thuế khoá công bằng) ở Washington đã phát hiện nhiều điều vô cùng đáng tin cậy, đó là năm nay một người điển hình ở nhóm thu nhập thấp nhất chiếm 5 phần trăm tổng thu nhập sẽ được cắt giảm thuế 91 đô-la, một người điển hình ở nhóm thu nhập trung bình chiếm năm phần trăm tổng thu nhập sẽ bỏ túi 863 đô-la, và một người điển hình ở bậc thu nhập cao chiếm một phần trăm tổng thu nhập sẽ mang bộn về 59.292 đô-la.
Những sự chênh lệch này giải thích cho chúng ta điều lên án thường gặp rằng Bush dường như là vị tổng thống đầu tiên kể từ tổng thống Hoover làm người Mỹ mất nhiều việc làm nhất. Sự tham gia không lay chuyển của cái chính quyền này là chuyển gánh nặng nộp thuế từ loại thu nhập tạo ra sự trù phú sang loại thu nhập khích lệ làm việc thêm nữa. Viện nghiên cứu Chính sách Đánh thuế và Kinh tế (The Institute on Taxation and Economic Policy), một nhóm nghiên cứu khác ở Washington, ước tính mức trung bình thuế thu nhập liên bang từ lợi tức cổ phần và lãi đầu tư tư bản hiện giờ là khoảng mười phần trăm. Với những người làm công ăn lương, tỷ lệ đó là khoảng ba mươi ba phần trăm. Tổng thống hứa nhiệm kỳ hai sẽ gia tăng những khoản thu nhập nhờ miễn thuế, sẽ cắt giảm thuế nhiều hơn đối với lợi tức cổ phần và từ tư bản và bãi bỏ hẳn thuế tài sản — tất cả đều sẽ mở rộng thêm khoảng cách rộng lớn giữa người giầu nhất và những người khác.
Vài tuần trước khi bắt đầu nhiệm kỳ, Bush đánh tín hiệu về cách thức xử lý vấn đề môi trường khi ông ta thất hứa với chiến dịch đòi điều chỉnh việc thải chất carbon-dioxide, nguyên nhân cơ bản của sự nóng lên toàn cầu. Thành tích của ông kể từ đó đều bị áp đặt bởi các ngành công nghiệp liên quan đến chính sách môi trường, nhiều khi họ nói năng không úp mở gì hết. Vào năm 2002, Cơ quan Bảo vệ Môi trường (Environmental Protection Agency) đề nghị bãi bỏ điều khoản chủ chốt trong Luật Không khí Sạch (Clean Air Act) gọi là điều khoản về “duyệt xét nguồn năng lượng mới,” điều này yêu cầu các nhà máy phát điện phải lắp đặt thiết bị kiểm soát ô nhiễm hiện đại khi nâng cấp các thiết bị cũ. Thay vào điều này là điều khoản do một nhà máy bị coi là gây ô nhiễm bậc nhất của quốc gia đề xuất gửi bằng e-mail cho Nhóm Nghiên cứu Năng lượng do phó tổng thống Cheney làm chủ tịch. Rất gần đây thôi, Chính phủ Bush đề xuất những điều luật mới làm sa sút mạnh mẽ sự kiểm soát chất thải thuỷ ngân từ các nhà máy phát điện. Những người dự thảo đề xuất luật đó của Cơ quan Bảo vệ Môi trường đã cóp-pi những bị vong lục do công ty luật đại diện cho ngành công nghiệp đó gửi cho mình.
“Tôi đồ chừng là các bạn sẽ nói tôi là một người quản lý đất đai giỏi,” Bush nói năng văn chương trong cuộc tranh luận lần thứ 2. Hoặc có thể các bạn sẽ chẳng nên nói gì về chuyện đó hết. Cho tới nay, Tổng thống không làm cách gì thuyết phục Thượng Viện cho phép khoan dầu tại Khu Hoang dã Quốc gia Bắc cực, thế nhưng những vùng hoang dã to lớn đặt chân tới được đều đã chuẩn bị mở cửa khai thác. Bằng cách lách luật sử dụng đất đai liên bang, nhiều khi chỉ thông qua những thay đổi nho nhỏ về luật quảng cáo, Chính quyền Bush đã mở cửa sẵn sàng sáu mươi triệu acres, một vùng rộng lớn hơn cả bang Indiana và Iowa cộng lại, để chặt gỗ, khai thác mỏ và thăm dò dầu mỏ.
Trong thời kỳ phát sốt phát rét liền ngay sau vụ 11 tháng 9, Chính quyền Bush vội vàng đưa cho một Hạ Viện ngoan ngoãn thông qua đạo luật thường thích được gọi là Luật Ái quốc Hoa Kỳ. Một vài phản ứng với đạo luật này tỏ ra quá đáng. Nhiều điều khoản trong đó, như điều cho phép chia sẻ thông tin rộng rãi hơn giữa các cơ quan điều tra, là những điều nhạy cảm. Về những điều khác thì cũng còn phải nghĩ xem chúng có tính chất hợp pháp không. Chẳng hạn mục 215 của luật cho phép các nhà điều tra của chính phủ – không cần phải có trát gọi hầu toà hoặc lệnh khám xét dựa trên lý do chính đáng — vẫn có lệnh của Toà án cho phép họ lục lọi các lưu trữ ở thư viện, hiệu sách, tài liệu của các bác sĩ, các trường đại học và các nhà cung ứng dịch vụ Internet cùng các tổ chức công tư khác nữa. Các quan chức của Bộ Tư pháp nói rằng họ đã dùng mục 215 không chút hạn chế, thế mà tới nay họ vẫn chưa có được thông tin gì từ các thư viện hoặc các hiệu sách. Những điều họ tự nguyện thú nhận có thể làm ta yên tâm hơn nếu những gì họ thu thập được lại không gây khó chịu đến thế.
Bí mật và cao ngạo là nền móng của Bộ Tư pháp và của Tổng Chưởng lý John Ashcroft. Bảy tuần lễ sau những cuộc tấn công ngày 11 tháng 9, Chính quyền Bush thông báo rằng công việc điều tra của họ đã dẫn đến việc bắt giữ gần một nghìn hai trăm vụ. Bắt giữ vẫn tiếp tục, nhưng cuối cùng Chính quyền chẳng cho biết có bao nhiêu người đã và đang bị giam giữ. Chưa thấy có một người bị giam giữ nào bị kết án một điều gì tương tự như là hành động khủng bố. Cũng đáng khiển trách là việc đối xử với những công dân nước ngoài sống ở Hoa Kỳ. Kể từ ngày 11 tháng 9, chừng năm nghìn người đã bị gom lại và chừng năm trăm người bị tống ra khỏi nước Mỹ, tất cả đều với cái cớ là vi phạm luật nhập cư, sau khi bị buộc tội mà theo lý thuyết của Ashcroft những lời buộc tội phải được giữ kín. Do chỗ không có chính sách tống cổ những kẻ tình nghi khủng bố, nên thật là không rõ ràng những điều buộc tội này phục vụ cho mục đích chống khủng bố nào.
Tổng thống Bush thường than vãn về đường lối cản trở của phe Dân chủ, nhưng nếu nói đúng từ ngữ thì sự thật là ông ta đã có bước tiến đáng kể trên con đường cản trở các toà án liên bang bằng các tư tưởng bảo thủ. Thượng Viện đã công nhận hai trăm linh một vụ bổ nhiệm của ông cho ngạch Tư pháp, thế là nhiều hơn các vụ bổ nhiệm trung bình các khoá trước của Tổng thống Clinton, Reagan và Bush cha. Các ông nghị Cộng hoà trong Thượng Viện cản trở hơn sáu chục vụ bổ nhiệm của ông Clinton; các ông nghị Dân chủ trong Thượng Viện chỉ chặn lại có mười ca của ông Bush thôi. (Nhân thể nói thêm, mười người này xứng đáng bị nhận những gì họ đáng nhận. Vài người trong bọn họ — như Carolyn Kuhl, nhiều năm làm việc nhưng lại chỉ để giúp bạn bè nào có hành động phân biệt chủng tộc được chạy thuế, và như Brett Kavanaugh, một người ba-mươi-tám-tuổi chẳng biết mô tê gì về pháp lý hoặc công việc xử án, người đồng tác giả viết Báo cáo Starr (điều tra ông Clinton và cô thực tập sinh – ND chú thích) — là những vụ đề bạt tồi tệ nhất chưa từng thấy.)
Nhưng ngay cả khi Bush và Ashcroft bị cản trở thì đó chủ yếu là do hệ thống tư pháp vẫn còn mạnh mẽ của chúng ta, đặc biệt là Toà Tối cao. Giống như một vài quyết định tồi tệ trong bốn năm qua (ta nhớ lại lần nữa vụ Bush kiện nhau với Gore), phần lớn những quyết định tốt nhất, như phục hồi chính sách hành động tích cực, duy trì quyền tự do công dân của những người bị tình nghi khủng bố, giảm nhẹ luật chống kê giao của bang Texas, cấm tử hình người chậm phát triển trí tuệ — đều đạt được với sự chênh nhau một hoặc hai phiếu. (Vụ Roe kiện nhau với Wade là vụ có hai thẩm phán bị bãi chức kiểu hoán vị.) Toàn bộ các thẩm phán, trừ một người trong những thẩm phán đang chức, còn lại là những công dân cao tuổi từ sáu mươi nhăm đến tám mươi tư, và khoảng cách tuổi tác kể từ vụ đề bạt mới đây nhất — mười tuổi — là khoảng cách xa nhau nhất kể từ năm 1821. Ông Bush đã hơn một lần nói rằng Antonin Scalia và Clarence Thomas là các thẩm phán ông ưng hơn cả. Nếu Bush đắc cử kỳ hai, Toà án chắc là sẽ được tạo dựng lại theo hình ảnh họ.
Thành tích cũng thảm hại như thế tại các lãnh vực khác thuộc chính sách đối nội. Một trật tự hành pháp cho phép các Tổng thống tiền nhệm giữ vô hạn định các giấy tờ không được công khai hoá là một thí dụ trong vô số chứng của bệnh tâm thần thích bí mật có từ trước vụ 11 tháng 9 rất lâu. Sự thù địch của Tổng thống đối với khoa học thể hiện rõ trong việc Bush quyết định những giới hạn khập khiễng đối với việc ủng hộ nghiên cứu nhân bản tế bào cùng với hệ thống ý muốn bóp méo hoặc bác bỏ những thành tựu khoa học gây lúng túng cho cái “căn cứ cố thủ,” làm gia tăng số lượng các học giả vốn dửng dưng với chính trị nay quay sang kêu gọi đánh bại Bush. Các chính sách năng lượng của Chính quyền, đặc biệt là việc cưỡng lại các yêu cầu gia tăng độ hiệu quả chất đốt, nhập cục với tính vô trách nnhiệm về môi trường của Chính quyền Bush. Ngay cả cái chương trình rất hấp dẫn về giáo dục mang tên Không Bé Nào Bị Bỏ rơi (No Child Left Behind), được thông qua với sự ủng hộ của con sư tử tự do Edward Kennedy, cũng bị cho rơi vì thiếu hụt kinh phí. Một vài món tiền bơm cho chương trình này đã bị đẩy sang các chương trình giáo dục khác, hàng chục chương trình đó sang năm rồi sẽ bị cắt bỏ.
Thông thường thì điểm những thành tích như vậy sẽ được các luật gia coi là thiên vị (vào những điều thông thường – ND thêm). Thế nhưng trong cuộc bầu cử tổng thống này mọi điều chẳng qua chỉ là chuyện thông thường mà thôi. Công ăn việc làm, bảo vệ sức khoẻ, giáo dục, và những chuyện khác đều không có sức nặng bao nhiêu so với quy mô chống khủng bố. Trách nhiệm quan trọng nhất hạng của Tổng thống bốn năm sắp tới, cũng giống như ba năm vừa qua, là “chiến tranh chống khủng bố” — nói cho chính xác hơn nữa là cuộc chiến chống một nhánh đạo Hồi chính thống và cực trị sử dụng vũ khí chính là những hình thức khủng bố đặc biệt tàn nhẫn
Phản ứng tức thời của Bush đối với các sự kiên ngày 11 tháng 9. 2001 là hoang mang và lo âu ra mặt. Trong vài ngày, trước các đồng bào–công dân nói chung đều an bình, dường như ông ta đã tìm được tiêu điểm cho hành động. Quyết định của Bush, dùng sức mạnh quân sự Mỹ để lật đổ những người cầm quyền Taliban của Afghanistan, những kẻ dùng đất nước họ làm căn cứ chính yếu đào tạo những kẻ thâm nhập vào tiến đánh nước Mỹ, đã nhận được sự ủng hộ gần như đều khắp của nhân dân Mỹ và các đồng minh của Mỹ. Quân đội từ Anh, Pháp, Đức, Canada, Italy, Na Uy và Tây Ban Nha đã sát vai chiến đấu với Mỹ tại Afghanistan cho tới tận hôm nay.
Lòng quyết tâm của người dân Afghanistan bình thường đi bầu Tổng thống tháng vừa rồi và phiếu còn đang kiểm rõ ràng là dấu hiệu tích cực. Song công việc ở Afghanistan vẫn dang dở mặc dù có những lời hứa tận tình rằng sẽ không lặp lại nữa cảnh hỗn loạn xảy ra sau khi đánh bại cuộc chiếm đóng của Liên Xô những năm 80-90. Bọn Taliban đã nhóm nhau lại ở các vùng phía đông và nam đất nước này. Tổ chức của Bin Laden tiếp tục dùng đất thánh và sự ủng hộ của người Afghanistan cũng như của người Pakistan trên cả hai phía biên giới chung của hai nước. Bọn lãnh chúa quân sự còn kiểm soát phần lớn đất nước Afghanistan bên ngoài thủ đô Kabul, vành ngoài vùng kiểm soát trên giấy tờ của ông Hamid Karzai, vị tổng thống đàng hoàng và hay bị quấy rầy. Sản xuất thuốc phiện vẫn gia tăng hàng ba bốn chục lần.
Những ưu tiên thật sự của Nhà Trắng ngay từ đầu đã nằm ở đâu đó. Theo lời cựu cố vấn chống khủng bố Richard Clarke tại cuộc họp ngày 12 tháng 9.2000 ở phòng Họp về Tình trạng Khủng hoảng, thì Donald Rumsfeld có gợi ý tiến đánh trả đũa chống Iraq. Khi Clarke và những người khác chỉ rõ cho ông ta rằng Al Qaeda — tổ chức bị coi là phạm tội — đặt căn cứ ở Afghanistan chứ không phải ở Iraq, thì Rumsfeld nhận xét rằng ở Iraq có những mục tiêu tốt hơn. Vấn đề cơ bản như Paul O’Neill cựu bộ trưởng Ngân khố của Bush nói, đó là ê-kíp Bush-Cheney đã có kế hoạch thay đổi chế độ ở Baghdad ngay từ trước vụ 11 tháng 9.2001 — cách gì thì cái xảy ra cũng cứ phải xảy ra.
Tại cả ba cuộc tranh luận, Tổng thống Bush đều bảo vệ cuộc chiến tranh Iraq, nói rằng nếu không có cuộc chiến đó thì Saddam Hussein vẫn còn nắm quyền. Điều này có thể đúng, và thành tích độc ác ghê gớm của Saddam – giết người, đàn áp và xâm lăng trong khu vực – là điều mà ngay những ai hồ nghi sự khôn ngoan của cuộc chiến đó cũng phải thừa nhận mình có thoả mãn với việc Saddam bị lật đổ. Thế nhưng việc xoá sổ Saddam không phải là hệ quả duy nhất của cuộc chiến; và như ngày nay chúng ta biết, quyền lực của Saddam dù có là nỗi sợ của hàng triệu người chịu ảnh hưởng trực tiếp, thì vẫn còn lâu mới là mối đe doạ đối với Hoa Kỳ và với thế giới so với điều người ta giả định về nó — và quan trọng hơn nữa – so với điều người ta tạo ra cho nó thành như thế.
Như đã nói toạc trong vô số hồi ức và bài báo, Bush hiếm khi thích thú quan điểm nào ngượcc lại với mình. Ông ta hãnh diện khoe mình không nghe các cố vấn bên ngoài, còn các cố vấn bên trong nào dám nói ra những quan điểm không được lòng thì chỉ được tiếp nhận một cách bực tức hoặc khinh nhờn. Ông ta sống và làm việc trong một cái bong bóng xà phòng tự tạo, dựa trên cơ sở khẳng định niềm tin mang tính tôn giáo. Không ở đâu thuyết duy ngã của Bush lại tàn hại hơn trường hợp Iraq. Các lập luận và cảnh báo của các nhà phân tích tại Bộ Ngoại giao, tại cơ quan CIA, tại các cơ quan quân sự và tại các toà pháp lý các chính phủ thiện cảm với Mỹ ở nước ngoài đều không có tác động gì hơn tiếng thét của hàng triệu người đang biểu tình tuần hành.
Quyết định xâm lăng và chiếm đóng Iraq được định đoạt trên cơ sở bốn lập luận: thứ nhất là, chế độ của Saddam sắp có các chất nổ hạt nhân và đã có sẵn các vũ khí hoá học và sinh học; hai là, chế độ của Saddam có những liên hệ mạnh mẽ với Al Qaeda và (như đã được Phó Tổng thống và nhiều người khác liên tiếp nói ra) nó có thể làm được một vụ tương đương như vụ 11 tháng 9; ba là, tiếp theo sự thay đổi chế độ bên trong Iraq sẽ có thể có quá trình dân chủ hoá tiếp diễn một cách hoà bình; và bốn là, một sự thay đổi theo hướng dân chủ như vậy sẽ đẩy nhanh toàn vùng theo cùng hướng đó, tiếp theo là sự háo hức của các chính phủ mới và công chúng A-rập tạo lập hoà bình giữa Israel và chính quyền hợp pháp của nhà nước Palestina. Ta đã thấy hai lập luận đầu là hoàn toàn vô căn cứ. Còn với hai lập luận sau thì, nếu các nguyện vọng đó một mai trở thành sự thật, chẳng thấy có gì rõ ràng chuyện chiếm đánh Iraq là thuận lợi hay là cản trở cả.
Theo lập luận của Bush, chiến tranh Iraq bắt đầu ngày 20 tháng Ba năm 2003 với việc ném bom chính xác các toà nhà chính phủ ở Baghdad và kết thúc đúng ba tuần sau với việc kéo đổ bức tượng thánh Saddam. Chiến dịch quân sự này thực ra là một thành công. Nhưng buổi liên hoan chia bánh lại dẫn mọi người tham gia trò chơi tới một bờ đá dốc đứng, tiếp đó là vô vàn sai lầm tai hại và không sửa chữa được, khiến mọi người phải tự hỏi rằng, cuối cùng thì làm cách gì mà khả năng không sai lầm của những người dân sự tại Lầu Năm góc và của Tổng thống vẫn không hề hấn gì. Thất bại vì không làm theo lời khuyên của những nhà lãnh đạo như tướng Eric Shinseki khi đó là Tham mưu trưởng rằng bố trí quân không đủ sẽ không chống được việc cướp bóc không sao cản nổi vào các toà nhà chính phủ, bệnh viện, bảo tàng, và các kho vũ khí — điều vừa rồi là hoàn toàn không thể tha thứ được. (Bộ trưởng quốc phòng Rumsfeld giải thích “Giận dữ đấy”, cho dù không có cơn giận dữ nào xảy ra ở Bộ Dầu mỏ – nơi chả có gì để mà cướp bóc – ND thêm). Lầu Năm góc hoàn toàn lờ đi các kế hoạch hậu chiến của Bộ ngoại giao trong Dự án Tương lai Iraq, trong đó có cảnh báo không chỉ chuyện cướp bóc mà cả chuyện những vụ nổi dậy tiềm tàng cũng như việc điên rồ tin cậy vào những người lưu vong như Ahmad Chalabi; Thomas Warrick người đứng đầu dự án thì bị gạt ra. Việc hội đồng cố vấn Nhà Trắng coi thường các Công ước Geneva và điều khoản cấm tra khảo tù nhân coi đó là “chuyện kỳ cục” mở đường cho những lạm dụng có hệ thống và rộng khắp tại nhà tù Abu Ghraib và các nhà tù khác do Mỹ cai quản — một thảm hoạ đạo đức và chính trị mà, theo tác phong làm việc của chính quyền Bush, chẳng có ai trong vị trí hoạch định chính sách của Chính quyền phải chịu trách nhiệm cả. Và bất kể Bush có thể đao to búa lớn ra sao trong các lập luận về cuộc đại liên minh (“Nói gì với Tony Blair rồi?” “Quên mất Ba Lan rồi!”), cái liên minh do ông ta ghép lại chả là gì cả ngoại trừ việc nó to và nó đang nát nhừ vào nhau trong cái vạc bạo lực ở Iraq.
Vào cuối năm thuế khoá hiện thời, tính thành giá cho cuộc chiến tranh này là hai trăm tỷ đô-la (con số dự kiến của Lawrence Lindsey, người đứng đầu Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Tổng thống cho tới khi, giống như vô số người nắm giữ những tin tức khó ngửi khác, ông ta bị tước quân hàm) và còn tăng nữa. Và còn có những khoản phải trả giá đắt khác nữa mà các thành phần thống ngự trong Chính quyền khó thấy trước được (mặc dù vô số người đã thấy). Hoa Kỳ đã trở thành mục tiêu của một cuộc chiến tranh du kích cường độ thấp đã lấy đi mất nhiều mạng người kể từ khi sứ mạng được tuyên bố hoàn thành từ lâu rồi. Số lính Mỹ chết đã lên hơn một nghìn người, con số nằm xa dưới mức độ chịu đựng đau khổ: trong số tám nghìn thương binh có rất nhiều người tàn phế. Tổng số người Iraq chết và bị thương còn cao hơn nhiều so với người Mỹ. Al Qaeda, trước đây có mặt rất ít ở Iraq, nay trở thành một hiện diện quan trọng. Trước cuộc chiến tranh này, ta tự thuyết phục mình và mọi người rằng sức mạnh quân sự của chúng ta thực sự là vô tận. Giờ đây, nó bị căng ra quá mức, đó là một sự thật hiển nhiên với mọi người. Và nếu như bộc lộ sự yếu kém lại là điều khuyến khích kẻ thù, thì chắc chắn phải trách cứ những ai đã tạo ra cái thực tại đó, chứ không thể trách những ai như Thượng nghị sĩ Kerry chấp nhận đó là một bước tất yếu để thay đổi nó.
Khi đã đổ vỡ những biện bạch về quan hệ địa lý và chính trị, về quyền lợi quốc gia và về chống khủng bố của Chính quyền liên quan đến chiến tranh Iraq, người ta dò dẫm lập luận sang khía cạnh vị tha: sự hỗn loạn hậu chiến, bạo lực, thất nghiệp, và bất kể sao thì chiến tranh đã đem lại các quyền tự do cho nhân dân Iraq mà họ không thể có nếu Saddam không bị lật đổ. Điều đó đúng. Nhưng một hệ quả buồn và hài hước của cuộc chiến tranh này là việc loạng quạng săn tìm lại phá hoại chính lập luận biện bạch có giá trị nhất — và hệ quả xa hơn nữa là cái lý tưởng đáng giá nhất trong chính sách đối ngoại của Mỹ đã bị phá huỷ theo. Lý tưởng đối ngoại từng mang nhiều dạng thức — tư tưởng liên bang thế giới bị chết yểu của Tổng thống Wilson, tư tưởng nhân quyền của Tổng thống Carter, và việc Tổng thống Reagan bắt đầu lôi kéo thế giới vào giải trừ vũ khí hạt nhân hoàn toàn, đó là kể ra một vài thí dụ. Cuộc can thiệp quân sự thất bại tại Somalia và cuộc can thiệp quân sự thành công tại vùng Balkan là những thí dụ khác nữa. Tư tưởng bảo thủ kiểu mới đang lên trong Chính quyền Bush sau vụ 11 tháng 9 cũng có phần bắt nguồn từ các dòng trên. Chắc chắn là cũng có mục tiêu lý tưởng khi hình dung một vùng Trung Đông cuối cùng được thoát khỏi các cảnh chuyên chế và độc tài. Song cuộc phiêu lưu của Chính quyền này tại Iraq thật là quá nghiêm trọng và niềm tin vào nó bị phá huỷ nặng nề đến độ trong tương lai, nếu đứng trước những hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan về đạo đức ở các nơi trên thế giới, thì chỉ còn trông chờ nó rút lui trong tư cách một nạn nhân của Hội chứng Iraq.
Tổn hại ở Mỹ, tổn thương cả vị thế Mỹ trên thế giới do Chính quyền Bush liều lĩnh xử lý niềm tin của công chúng, đó là điều không dễ gì gỡ lại được. Và với nhiều cử tri, thì nguyện vọng được thấy những tổn hại phải ngưng lại là lý do đủ để bỏ phiếu cho John Kerry. Thế nhưng người tranh cử này còn có nhiều hơn nữa để đưa cho mọi người ngoài việc ông ta không phải là George W. Bush. Tại mỗi vấn đề gay cấn liên quan đến người Mỹ (kinh tế, y tế, môi trường, an sinh xã hội, tư pháp, an ninh quốc gia, chính sách đối ngoại, chiến tranh Iraq, đấu tranh chống khủng bố), Kerry đều đưa ra phương án sáng sủa, đúng đắn hơn là lối tự mãn, khư khư và mị dân nực cười của Bush. Những nhà thăm dò ý kiến muốn hỏi cử tri chọn ứng viên nào họ thích cùng uống bia, thì theo thước đo này Bush khi nào cũng thắng. Còn chúng tôi thì lại muốn hỏi cử tri chọn ứng viên nào thích hợp nhất cho công việc điều hành đất nước ta.
Trải qua chặng đường dài công tác với công chúng, John Kerry đã chứng tỏ một tính cách vững vàng và cứng cỏi. Con người có lòng dũng cảm từng chứng tỏ trong chiến đấu ở Việt Nam cũng phù hợp với sự dũng cảm về đạo đức khi lên tiếng chống lại cuộc chiến tranh đó, một lựa chọn ông phải trả giá về chính trị khi lần đầu ứng cử vào Hạ Viện. Ông bị thất cử năm 1972 do một chiến dịch sát hại tính cách con người ông, được một tờ báo địa phương tổ chức chống lại lập trường phản chiến của ông, ngay sau khi ông quyết định ứng cử. Trong tư cách thượng nghị sĩ, Kerry giúp vào việc phơi bầy bộ mặt gian xảo của Ngân hàng Thương mại và Tín dụng Quốc tế, một tổ chức rửa tiền cho bọn khủng bố và cho các tập đoàn tội phạm; khi cuộc điều tra buộc ông đối mặt với sự tham nhũng trong hàng ngũ đảng viên Dân chủ bạn mình, ông đã vứt bỏ chủ nghiã bè phái và hạ bệ bọn thao túng quyền lực trong đảng Dân chủ với một quyết tâm hệt như của Oliver North trong vụ bê bối Iran-Contra (của đảng Cộng hoà – ND thêm). Công tác lãnh đạo đảng của ông cùng với John McCain đã khiến đoạn cuối cuộc tranh cãi không lành mạnh về vấn đề tù binh chiến tranh và người Mỹ mất tích hậu kỳ chiến tranh Việt Nam có thể đặt nền móng cho sự bình thường hoá quan hệ của Washington với Hà Nội vào giữa những năm 1990, là dấu hiệu tổng kết thành tựu của ông sau hai mươi năm làm việc tại Quốc Hội Hoa Kỳ và biểu trưng cho một tinh thần thẳng thắn và độc lập. Kerry đã có những sai phạm (rõ nhất và ít ra là sự nhận thức sau vụ việc xảy ra, đó là việc ông chống lại cuộc Chiến tranh vùng Vịnh năm 1990), thế nhưng, ngược lại với ông Tổng thống là người cố tình biến cái thái độ dửng dưng thành một đức tính trước những đổi thay trong thực tại, thì ông Kerry lại biết rút ra các bài học từ vụ việc đó.
Khả năng hành động cụ thể của Kerry khi chuẩn bị diễn thuyết tranh cử không được đều, và việc ông xuất hiện trước công chúng để giải thích cặn kẽ về lập trường trong vấn đề Iraq có thể coi là còn khó chấp nhận. Ông cần cẩn trọng hơn trước một sai phạm, chớ hấp tấp thừa nhận từng góc độ của một giải pháp; và tính ông miễn cưỡng khi phải nói rõ những thành tích khủng khiếp của Chính quyền Bush và việc ông trù trừ trong cuộc đua đã khiến ông bớt may mắn. Nhưng khi phe đối địch tìm cách diệt ông thay vì tranh cãi với ông, khi đó họ thấy trong quá khứ của ông chả có vụ bê bối nào và cũng chả có bằng cứ nào ở ông về một niềm tin xấu xa. Đứng trước những lời vu khống nhằm chọc tức và lăng mạ, ông có thái độ điềm đạm khiến cho người đương chức cao dong dỏng và không vững vàng đến mức đau khổ đã không thể vờ vịt chút gì trong suốt cuộc tranh biện tranh cử tổng thống đầy bất ngờ. Dũng khí của Kerry đã được thử lửa – lửa của những viên đạn thật và lửa chính trị hẳn là không đánh cho ai gục ngã nhưng sẽ làm cho người đó mạnh lên nếu người đó được bầu — và ông đã chọn cho mình cách ứng xử cứng rắn, thoải mái và có hẳn một liều lượng vừa đủ về phong độ uy tín của một vị Tổng thống. Trong khi Bush cố níu kéo thoả mãn những đòi hỏi hẹp hòi thô thiển nhất của “căn cứ cố thủ”, thì Kerry tìm cách hướng rộng rãi tới mọi người Mỹ. Vào một thời đại vẫn còn tính chất bè đảng thô thiển thì ông bộc lộ ra một tính cách hoàn toàn không giáo điều. Trong khi kêu gọi phục hồi con đường Mỹ, Kerry nhấn mạnh rằng cuộc bầu cử này cần phải quyết định những giải pháp cấp bách cuả thời điểm chúng ta đang sống, những giải pháp sẽ xác định rõ cuộc sống Mỹ cho nửa thế kỷ sắp tới. Sự nhấn đi nhấn lại đó là một nét tính cách của ông. Ông hoàn toàn thể hiện một sự lựa chọn tốt hơn cho cử tri chúng ta. Với tư cách là những nhà quan sát, là những phóng viên báo chí, những nhà bình luận chúng ta sẽ thấy ở ông những chuẩn mực cao nhất của sự trung thực và khả năng hành động. Và bây giờ, với tư cách công dân, chúng ta hy vọng ông thắng cử.
Ban Biên tập The New Yorker
© 2004 talawas