trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
23.5.2006
Phan Bá Thụy Dương
Wilbert Rideau: Kẻ tử tội thất học trở thành một cây bút lừng danh
 
Wilbert Rideau

Không phải kẻ nào mang án tử hình cũng hoàn toàn tuyệt vọng, mất đi niềm tin. Thảm trạng tù đày nhiều lúc lại là môi trường, cơ hội tốt để con người có thể phát huy, ghi lại những suy tư, những khổ ải, gian truân mà họ đã kinh qua, chiêm nghiệm… Tác phẩm của họ thường được người đọc ưu ái đón nhận và đôi khi được liệt vào hàng kiệt tác trong các lãnh vực báo chí, văn học, chính trị…

Chỉ mới vài ba thập niên trở lại đây thôi, người ta có dịp được biết thêm nhiều tên tuổi mới. Chẳng hạn Jack Henry Abbott, tác giả mấy cuốn sách My Return [Chuyến trở về của tôi] và In The Belly Of The Beast: Letters From Prison [Trong lòng thú vật: Những bức thư từ nhà ngục], thuộc loại best-seller. Theo tin của các giới báo chí, truyền thông và viên chức cải huấn trại Wende Correctional Faculty thuộc New York, nhà văn da đen này đã treo cổ tự vẫn trong phòng giam cấm cố, biệt lập của mình vào sáng chủ nhật ngày 10 tháng 2 năm 2002, khi vừa 58 tuổi. Một nhân vật lừng lẫy khác là Eldridge Cleaver, nguyên chủ bút tạp chí Remparts, tác giả tập Soul on Fire [Linh hồn lửa] và nhất là tác phẩm thời danh Soul on Ice [Linh hồn băng]. [1]

Ngoài ra, chỉ kể riêng từ trại Louisina State Penetentiary [khu cải tạo Angola] trong nhiều năm qua, người ta đã có cơ hội biết thêm về những người-tử-tội-trở-thành-nhà-báo như Billy W. Sinclear, Ron Wikberg, Tommy Mason… Đặc biệt là trường hợp Wilbert Rideau, kẻ được rất nhiều người ủng hộ và tên tuổi lừng danh nhất.

Cuộc đời của WR mang nhiều sắc thái đặc thù, đầy hấp lực và là một tấm gương sáng. Nhờ những nỗ lực vươn mình hướng thiện không ngừng, từ một kẻ sát nhân thất học, mang án tử hình, trong thời gian chờ ngày lên đoạn đầu đài đã chịu khó tự học, đọc sách để trở thành một nhà báo, nhà văn được nhiều giải thưởng và sự nể trọng, ưu ái của nhiều người trong mọi giới.

Tháng 3 năm 1993, tạp chí Life đã vinh danh WR là: “Tù nhân hoàn lương được phục hồi danh dự nhất nước Mỹ”. Đó cũng là câu nói mà những người gần gũi WR, các bạn tù, nhân viên giám sát, cũng như viên chức cải huấn thường phát biểu khi đề cập về ông.

Chính Edwin Edwards, Thống đốc tiểu bang Louisiana, cũng tuyên bố trong cuộc họp báo ngày 17-6-1986 rằng: Nếu có quyền hành xử riêng theo niềm tin của mình, tôi đã ký lệnh phóng thích WR. Tôi đồng ý với những người nói rằng ông ta đã được phục hồi danh dự.

Những ngày cùng khổ

WR sanh ngày 13 tháng 3 năm 1942 trong một gia đình nghèo tại xóm Lawtell thuộc tiểu bang Louisiana – nơi vừa bị cơn bão Katrina tàn phá dữ dội. [2] Khi lên 6, ông theo cha mẹ di chuyển về khu Lake Charles – Jim Crow South ở miền Tây Nam Louisiana, chỗ tiếp cận với ranh giới miền Đông tiểu bang Texas, một thị trấn khai thác dầu khí với nhiều sòng bài, nằm trong khu vực được gọi là vùng “Deep South”. Nơi đây, vấn đề kỳ thị chủng tộc, màu da đã được định hình đậm nét. Sự phân biệt này đã hoàn toàn chia cách cuộc sống xã hội và nếp sinh hoạt văn hóa của người da trắng và da màu.

Ký giả Ray I. Broussarf [3] của tờ News Banner tại Covington – Louisina, trong một bài báo lên tiếng yêu cầu trả tự do cho WR đã viết: Nếu quí vị chưa từng sống trong vùng Cực Nam vào thời kỳ quyền bình đẳng chưa được thực thi thì quý vị không thể nào hiểu rõ miền Nam và chắc chắn là quí vị không biết gì về Louisiana trong giai đoạn đó… Tôi đã từng nhìn kỹ vào mắt của những người da đen khi thấy bọn thanh niên da trắng to con ra lệnh cho họ đi xuống xếp hàng đằng sau, ngồi vào phía cuối xe bus, hay đuổi họ ra khỏi cửa các quán cà phê, các quày hàng tiệm ăn chỉ dành riêng cho người da trắng. Quý vị có thể nhận thấy rõ ràng được những ánh mắt của người bị hạ nhục kia chứa đầy sự phẫn uất, thù ghét.

Khi còn thơ ấu, Wilbert Rideau theo học tại Second Ward Elementary School, một trường tiểu học dành riêng cho người da đen và là một học sinh giỏi, thông minh, linh hoạt, yêu thích khoa học. Cậu bé nhút nhát này đã từng mơ ước mai sau sẽ trở thành một nhà du hành vũ trụ, giống như nhân vật anh hùng Flash Gordon luôn luôn bay bổng, ngao du trên không, được miêu tả trong các tập sách truyện vẽ bằng tranh.

Gia đình WR vốn nghèo khó – thậm chí nghèo dưới mức độ trung bình của những người khác trong cộng đồng cùng màu da. Đời sống gia đình lại càng tụt dốc, tồi tệ hơn sau khi cha mẹ ông ly dị. WR sống với mẹ. Thức ăn trưa mỗi ngày đi học của cậu học trò ốm yếu, cơ hàn này chỉ là một củ khoai lang lạnh ngắt. Nhiều khi WR phải vất ném đi vì cảm thấy ngán ngẩm, xấu hổ. Mặc cảm thua thiệt cùng bản chất rụt rè, vụng về khi giao tiếp đã làm WR càng ngày càng xa lánh, mất đi các bạn cùng trường.

Sau khi lên lớp 8, WR được chuyển về trường Trung học W.O Boston Colored, nơi ông bắt đầu biết trốn học đi chơi xúc xắc với bọn trẻ lêu lổng bên những ngôi mộ bị phá hoại, cỏ mọc um tùm trong khu nghĩa trang trước nhà. Cuối cùng ông bỏ học. Khi ấy ông vừa mới 13 tuổi. Nhờ khai gian là đã 16 nên WR xin được việc dọn dẹp, lau chùi cho một tiệm tạp hoá của người da trắng với tiền lương dưới mức tối thiểu. Sau đó, ông xin được những công việc bán thời gian khác, thông thường một ngày làm 2, 3 nơi, nhưng cũng chỉ là công việc thấp kém như ban ngày thì cầm chổi quét dọn, ban đêm thì đẩy xe cút kít. Bị hắt hủi và kỳ thị nhiều lần khiến WR cảm thấy chán đời và tự ghét thân phận mình hơn.

Năm 1990 ông đã kể lại với cô Anne Butler, một cây bút tại Louisiana: Sau khi nhìn qua sự phân biệt giữa chúng tôi và họ, có lúc tôi đã phát hiện và khẳng định rằng cuộc đời chỉ mang ý nghĩa hễ là người da trắng là có tất cả và đó là phương thức mà người ta đang áp dụng, hành xử. Tôi không chấp nhận sự việc này. Sự việc đó phi lý, không thể dung dưỡng được. Tôi cần sự thay đổi, tôi muốn có điều kiện tốt đẹp hơn… và thoát khỏi tình trạng tuyệt vọng, mất niềm tin mà tôi đã gánh chịu. Đó cũng hẳn là cảm nghĩ mà ông đã thừa hưởng từ những người lớn tuổi trong cộng đồng da đen.

Tuy những công việc bấp bênh, bị khinh rẻ kia chẳng cải thiện được cuộc sống bao nhiêu, nhưng với số tiền kiếm được $35 mỗi tuần cũng giúp WR phần nào trên lộ trình kết giao bằng hữu mới qua các cuộc uống rượu “gin” hay trong hội trường bài bạc, cá độ… Môi trường xấu này đã dẫn dắt WR vào ngõ cụt. Cho đến ngày 16-2-1961 lúc vừa 19 tuổi, WR đã liều lĩnh dùng súng lục cướp chi nhánh ngân hàng Gulf National tại thị trấn Lake Charles.

Khi bị phát hiện, để thoát thân, WR đã bắt cóc ông giám đốc và 2 nữ nhân viên làm con tin. Cả 3 đều là người da trắng. Trên đường đào tẩu, khi ra tới vùng ngoại ô thì cô Julia Ferguson cho xe chạy chậm lại và họ tìm cách trốn thoát. Kêu họ dừng lại không được, WR đã nã hết 6 viên đạn và làm 3 người bị thương. Khi Julia gượng đứng dậy thì WR dùng dao đâm vào ngực cô. Theo lời của cảnh sát, cô này gượng dậy để xin tha mạng. Còn theo lời khai của WR, ông dự tính sau khi đến nơi có thể thoát thân ông sẽ thả họ về. Việc giết cô Julia chỉ là hành động thiếu suy nghĩ trong lúc lo sợ, bối rối.

Bước vào con đường sáng trong bóng tối lao lung

WR bị buộc tội cố sát và kết án tử hình 3 lần vào các năm 1961, 1964, 1970, với các bồi thẩm đoàn toàn người da trắng. Nhưng các phán quyết trên đều lần lượt bị các Toà Thượng thẩm, Toà Phá án liên bang tiêu hủy, vì các tiến trình xử án này bị xem là bất hợp lệ, sai lầm, thiếu vô tư. Sau đó không lâu, vào năm 1972, Toà Thượng thẩm lại tuyên bố hình phạt tử hình là vi hiến. Nhờ vậy WR thoát chết, trở thành tù nhân chung thân khổ sai. Năm 1973, ông được đưa ra khỏi khu biệt lập dành cho những người chờ ngày ra pháp trường thọ lệnh hành quyết.

Theo lời tường thuật của ông qua bài “Why Prisons Don’t Work”, năm 1962 ông cùng với 30 kẻ sát nhân khác bị chuyển sang nhà tù Louisina State Penitentiary để chờ bị xử tử hoặc thọ án chung thân cấm cố. Tuy có sự khác biệt, những tội nhân này đều chung nhiều điểm tương đồng: thiếu tay nghề, thất học, bốc đồng và đã từng làm những việc nông nổi, hồ đồ, thậm chí ngu xuẩn. Họ là những người đã từng thất bại, từ chối hay không thích ứng, hội nhập được với xã hội bên ngoài.

Cảm thấy ân hận về tội lỗi của mình WR bắt đầu miệt mài tự học và đọc sách. Ông đọc một cách say mê các sách về tôn giáo, thánh kinh mà luật lệ nhà giam cho phép, cũng như những thể loại, đề mục khác bị cấm. Qua sách vở cũng như sự thân cận, trợ giúp của những người trong trại tù, ông thấy xã hội, đời sống quanh ông đầy những nhân vật anh hùng và người tốt bụng. Trường hợp kề cận bên ông nhất là những nhân viên cải huấn – những người có nhiệm vụ canh chừng ông, cải tạo ông, lại là người thường lén lút cung cấp sách vở bị cấm đoán cho ông trau dồi kinh sử và mở mang kiến thức. Tưởng cũng cần nói thêm là những người tạo dựng con đường thăng tiến cho WR ở đây đều là người da trắng. Điều này đã giúp ông thay đổi hẳn cách nhìn của mình. Có lẽ đối với ông, đó là một dấu mốc quan trọng, mới mẻ. Ông nhìn cuộc đời và con người bằng một lăng kính trong sáng hơn.

Sau một thời gian tự học hỏi, ông thấy có hứng thú trong việc sáng tác và bắt đầu viết. Khởi đầu bằng cách viết thư giúp các bạn tù, rồi những bài nhận định, phân tích về tội phạm, hình luật, tập hợp thành một cuốn sách dày, và bản thảo một tập truyện dài, mà ông hy vọng người ta có thể tìm thấy sau khi ông bị xử tử.

Nhiều nguồn tin cho biết, trong suốt 44 năm trong trại giam ông luôn giúp đỡ các bạn tù khác và tuân thủ luật lệ, qui điều nghiêm ngặt, và chưa bao giờ sai phạm. Công việc nào ban quản huấn giao, cho dù khó khăn, gian nan, WR đều hoàn thành xuất sắc, chẳng hề so đo, từ chối.

Dần dần, nhờ được giao dịch thư từ với thế giới bên ngoài và sự hướng dẫn thường xuyên của Clover Swann – biên tập viên trẻ của một nhà xuất bản ở New York, ông trở nên hăng say sáng tác, cống hiến những nhận xét, suy luận của mình về thế giới tội phạm sau những bức tường, hàng rào kiên cố. Tiếng nói của ông càng ngày càng được người ta quan tâm, tiếp nhận. Nhờ vậy, WR cũng tìm thấy cho riêng mình một niềm hứng khởi, hy vọng mới.

Năm 1973, ông xin cộng tác với tờ Angolite nhưng bị khước từ vì BBT và nhân viên của báo này đều là người da trắng và chỉ dành cho người da trắng. Không nản chí, ông đứng ra qui tụ nhiều người da đen khác để tự thành lập tờ The Lifer với chủ trương phục vụ giới mang án tù chung thân. Năm sau đó ông bắt đầu viết hàng tuần mục The Jungle.

Năm 1975, Toà án liên bang ra lệnh cải tạo toàn bộ thể chế nhà tù tại trại cải tạo Angola và mở rộng quyền bình đẳng cho tất cả tội phạm. Vị quản thủ trại, ông Paul Murray Henderson, trước khi đi đã ủy nhiệm tờ Angolite cho WR. Ông Paul Phelps, người kế thừa, bèn hợp thức hoá việc bổ nhiệm ấy, đồng thời còn thoả thuận để WR được toàn quyền điều hành tờ báo đúng theo tiêu chuẩn áp dụng cho giới báo chí của thế giới tự do bên ngoài. WR có thể viết, cho đăng bất cứ chuyện gì, ngay cả tố giác các sai trái trong trại, miễn là ông có chứng cớ trung thực.

Sau khi nắm tờ Angolite, WR đưa Billy W. Sinclair, Tommy Mason – người cùng chủ trương tờ Lifer về với ông. Họ nhanh chóng biến bản tin quay ronéo thành một tạp chí có giá trị và đẹp. Ngay năm sau, tờ Angolite đã đoạt nhiều giải thưởng toàn quốc. WR đích thân tuyển chọn các biên tập viên, văn nghệ sĩ cho tờ báo. Nhiều người khác trong ban biên tập cũng giành được những giải thưởng quan trọng. Đồng thời tờ Angolite còn được giới truyền thông trên thế giới tự do ca ngợi, đánh giá cao. Bỉnh bút của WR là Ron Wikberg – người cùng viết cuốn Rage and Survival Behind Bars với ông, được xem là người có công trong việc khiến nhà tù hủy bỏ việc xử tử tội bằng ghế điện, thay thế bằng phương pháp tiêm độc dược để giảm trừ sự đau đớn, kinh hoàng, qua bài “The Horror Show”.


Tiếng nói của WR càng ngày càng được thế giới bên ngoài tán thưởng. Ðến cuối thập niên 70, ông trở thành một diễn giả xuất sắc về lãnh vực tội phạm và báo chí. Ông thường được mời thuyết trình, nói chuyện tại các trường đại học, trên các đài truyền thanh, truyền hình khắp nơi. Trong nhiều lần xuất hiện trên chương trình Nightline ABC-TV, có lần ông đã cùng ngồi bàn luận với vị chánh thẩm Tối cao Pháp viện Hoa kỳ là Warren Burger về những vấn đề lịch sử. Liên tục 2 năm 1989 và 1990, ông đã bay tới Washington DC để thuyết trình trước cuộc họp thường niên của American Society of Newspapers Editors [Hiệp hội các Biên tập Báo chí Mỹ]. Ông và Ron Wikberg cũng cộng tác với giáo sư Burk Foster của University of Louisiana năm 1991 để viết cuốn sách giáo khoa về tài phán tội phạm và quyển này được áp dụng cho đến ngày nay. Kể từ 1974 về sau, ông thường xuyên công tác với tiểu bang, với giới tư pháp, các trường học, các cơ sở, đoàn thể công, tư… về việc cải tiến chế độ lao tù, tạo công ích cho xã hội, những chương trình ngăn chặn việc học sinh bỏ học… Để có thể dành nhiều thời gian hơn cho công cuộc nghiên cứu và những hoạt động xây dựng, năm 1995 WR đã từ chức, nhường tờ Angolite cho các trợ thủ của mình.

Với những hoạt động, đóng góp tích cực không ngừng như vậy, WR đã được trao tặng nhiều giải thưởng và tuyên dương danh dự của các giới chức hành pháp, tư pháp, hiệp hội báo chí, luật gia, truyền thông, truyền hình… Trong số đó đáng kể nhất là:

  • Giải Silver Gavel của Hội Luật gia Mỹ năm 1980. WR là tù nhân đầu tiên được vinh dự cao quí này trong suốt lịch sử hơn 100 năm của A.B.A.
  • Giải George Polk của trường đại học Long Island. WR cũng là tù nhân đầu tiên được L.I.U trao tặng.
  • Giải Ó vàng của CINE và giải Thurgood Marshall Justice về truyện Final Judgement: The Execution of Antonio James, chiếu trên đài Discovery…

Trong thời kỳ sửa soạn việc tuyển chọn giải Oscar năm 1999 cho cuốn Life Sentences, ông là chủ đề trong các bài tường thuật, phỏng vấn trên các đài Good Morning America, CBS, Fox, CNN… trên các báo nội địa Hoa kỳ và các quốc gia khác như Anh, Pháp, Đức, Úc, Hoà Lan, Bỉ… Trong hơn 30 năm qua, ông là đề tài chính cho vô số bài viết lưu truyền khắp nơi.

Ngoài 2 cuốn Life Sentences, ông còn thực hiện nhiều phim tài liệu, tranh ảnh, videotape cho các lớp học… Cuốn phim tài liệu The Farm trúng giải trong kỳ đại hội Sundance 1998, và được đề bạt giải Oscar.

Xây dựng cuộc đời mới vào lứa tuổi về chiều

Nhờ sự tranh đấu của nhiều lực lượng, hội đoàn xin cải danh tội trạng, đặc biệt là sự can thiệp của National Association for the Advancement of Colored People [Hiệp hội Quốc gia vì sự Phát triển của Người Da Màu] và Educational Fund [Quĩ Giáo dục], cùng sự bào chữa của luật sư Johnnie Cohran, WR được giảm án và được trả tự do ngày 15 tháng 01 năm ngoái vì thời gian ông ở tù đã gấp đôi hình phạt dành cho tội ngộ sát. Nhiều người, trong đó có các ký giả Mathew W. Jacobs của nhật báo Shreveport, James Gill của tờ Times-Picayune, Ray I. Broussard của New Banner…, cho rằng ông phải nằm khám 44 năm có thể vì ông là một tù nhân đặc biệt và quá nổi tiếng.

Trong lúc những người cùng tuổi đang hay sắp an hưởng cảnh hưu trí nhàn hạ thì WR bắt đầu xây dựng lại cuộc đời. Một tuần lễ sau ngày được phóng thích, ông phải đi xin thẻ căn cước. Trước đó, khi ra phi trường để đi Washington, ông bị từ chối vì chưa có thẻ nhận dạng và giấy an sinh xã hội… Phải viện dẫn các trang đầu của 3 tờ báo đã đăng hình ông trong các bài tường thuật sau khi ông được trả tự do, ông mới được cấp thẻ nhận dạng đặc biệt [unusual ID] để sử dụng. Ông cũng hy vọng sẽ lấy được bằng lái xe đầu tiên vào mùa Xuân năm nay.

Ông cho biết: Việc trước mắt là tôi cần phải làm ra tiền. Đó là một ưu tiên, kiếm tiền để lo an định tương lai, bởi vì tôi chỉ còn được vài năm để làm việc. Vấn đề hội nhập lại với xã hội mới, rộng lớn sau hơn 4 thập niên sống sau những bức tường kiên cố, ở lứa tuổi về chiều như ông, hiển nhiên không tránh khỏi nhiều khó khăn, bất tiện. Từ việc phải mua bảo hiểm sức khoẻ, tập lái xe, học cách sử dụng cellphone [điện thoại di động], thẻ rút tiền…, cho đến cả việc học thắt cà vạt đối với ông có khi vẫn còn lúng túng, bỡ ngỡ. Linda LaBranche, một chuyên viên nghiên cứu về pháp luật cho Rideau Project tại Đại học Loyola và cũng là bạn thân của ông, đã nói:Việc học lái xe không phải là điều dễ dàng gì đối với một người đã 63 tuổi. Việc ấy sẽ tiến hành một cách chậm chạp.

Sau khi gặp lại gia đình ông cho biết: Tôi phải tập làm quen với ý nghĩ được tự do. Tôi phải tập thích ứng với một thế giới tương đối khác biệt với thế giới trước ngày tôi vào tù….

WR đang định viết sách và muốn chuộc lại lỗi lầm, cũng như làm những việc hữu ích cho đời, cho những người đã đặt kỳ vọng, niềm tin nơi ông bao nhiêu năm qua. Mới đây, có nguồn tin cho rằng WR sắp ký một hợp đồng đầu tiên, trị giá năm trăm ngàn Mỹ kim. Bây giờ, với trình độ cao và nhiều kinh nghiệm, mỗi ngày được tự do đi lại, có thể làm những điều mình ưa thích, tâm nguyện, chắc hẳn đó là một niềm vui vô bờ với ông: một-người-về-từ-cõi-chết.

© 2006 talawas


[1]Eldridge Cleaver là một tay hùng biện giỏi và đã từng gây nhiều cuộc tranh luận sôi nổi, ồn ào trong giới ủng hộ và phản đối. Đã có thời ông làm ủy viên Thông tin cho đảng Black Panther. Năm 1968, EC đã từng ra tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ dưới màu cờ của đảng Peace and Freedom. Ông còn là một nhà tranh đấu chủ trương bạo động và đã làm nhiều giới lãnh đạo hành pháp, tư pháp nhức đầu. Khi cố Tổng thống Reagan còn là Thống đốc tiểu bang California, có lần ông đã tuyên bố một cách giận dữ – khi được biết vài trường đại học và nhất là University of California tại Berkeley mời Cleaver giảng thuyết cho sinh viên của họ: Nếu để cho EC dạy dỗ con em chúng ta, coi chừng có ngày bọn chúng trở về nhà cắt cổ chúng ta vào ban đêm.

Nghe nói vào cuối thập niên 60, Eldridge Cleaver còn ngang nhiên thách đố ông Ronald Reagan cùng chơi trò sanh tử tay đôi theo kiểu cao bồi miền Tây và dành cho thống đốc quyền tự ý chọn vũ khí giao đấu. Liều lĩnh, chơi bạo như thế có lẽ vì EC biết rõ Reagan trước khi bước chân vào lãnh vực chính trị đã từng là tài tử đóng phim Western.

Cleaver mất vào ngày 1 tháng 5 năm 1998 tại Bệnh viện Pomona Valley, ngoại ô Los Angeles, chấm dứt một cuộc sống đầy sôi nổi, sóng gió, vì chứng ung thư nhiếp hộ tuyến, hưởng thọ 62 tuổi. Ông còn được nhiều người truyền tụng xem như là hậu thân, hiện thân của Malcom X.
[2]Tháng trước Louisiana lại bị thêm nạn hạn hán và hiện đang cố gắng phục hồi, lôi kéo cư dân trở lại. Mới đây, người ta vừa tổ chức tại N.O Fairgrounds Race Course một chương trình đại nhạc hội quan trọng về nhạc Jazz, Blues, Rap, Zydeco… liên tục trong 2 cuối tuần, gồm 6 ngày. Cuộc trình diễn bắt đầu vào ngày thứ sáu 28-04-06 và chấm dứt vào đêm chúa nhật 07-05-06, với những ca sĩ thượng thặng như Bob Dylan, Dr. John, Bruce Springsteen, Ani DiFranco, Peter Seeger, Keith Urban, Paul Simon, Irma Thomas, Pete Fountain, Lionel Richie…
[3]Nhà báo Broussart là một trong những người da trắng luôn ủng hộ việc xin phóng thích WR sau khi nhận ra các nỗ lực hướng thiện, những hoạt động xây dựng tích cực của người tử tội này.

 
© talawas 2026