trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
3.4.2003
Joseph Brodsky
Vì sao Kundera hiểu sai về Dostoyevsky
 
Đêm 20 rạng ngày 21 tháng Tám 1968, theo chỉ thị GOU/1/87 654 do bộ trưởng quốc phòng Liên Xô, nguyên soái Gretshko ký từ ngày 08 tháng Tư 1968, 4600 chiếc xe tăng xô viết và 165.000 hồng quân tràn vào Tiệp Khắc. Trong vòng 5 ngày sau đó, đất nuớc 14 triệu dân này nằm dưới sự chiếm đóng của quân đội Liên Xô với 6300 xe tăng, 800 máy bay, 2000 đại bác và 400.000 lính. Gần mười bảy năm sau, nhà văn Tiệp Milan Kundera (1929), lưu vong tại Pháp từ 1975, trong tiểu luận "Dẫn luận về sự biến tấu" (06.01.1985), lí giải sự ác cảm đột nhiên của mình với Dotstoyevsky trong những ngày tháng lịch sử đó. Không lâu sau, ngày 17.02.1985, nhà thơ Nga Joseph Brodsky (1940), lưu vong tại Mỹ từ 1972, đáp lại bài viết của M.Kundera bằng tiểu luận "Vì sao Kundera hiểu sai về Dostoyevsky?" với những lời phê bình gay gắt. Mời bạn đọc theo dõi cuộc tranh luận văn chương giữa hai tác gia hàng đầu của văn học thế giới, một người được trao giải Nobel văn chương năm 1987, người kia được coi là một trong những nhà văn quan trọng nhất hiện nay, hai người Đông Âu buộc phải rời khỏi xứ sở và ngôn ngữ của mình, sống và phát triển tài năng sự nghiệp tại các nuớc phương Tây, cùng nói về một nhà văn Nga thế kỷ 19, về những biến cố lịch sử của thời đại chúng ta, và về quan hệ của họ với văn hoá phương Tây.
talawas

Bài viết mới đây của Milan Kundera trên The Book Review (“Dẫn luận về sự biến tấu”) chứa đựng một số điểm cần phải nói lại. Mọi cuộc tranh luận về thị hiếu thường dẫn đến sự cách biệt. Nhưng các sở thích Kundera nêu lên dựa trên cảm quan lịch sử của ông nhiều hơn là trên quan niệm mỹ học.

Hiện nay, với lịch sử, người ta đã đứng trên một nền tảng vững chắc hơn, nếu không phải là hoàn toàn bền vững. Nó vững chắc đủ để chịu được lập luận của một người ác tâm mang số phận một nghệ sĩ. Có lẽ nó đủ vững chắc để chúng ta có thể hình dung được là nó định đoạt tư thế đạo đức của một nghệ sĩ có tầm cỡ như vậy. Nhưng nó sẽ trượt khỏi chân ta nếu ta bắt nó chịu trách nhiệm về mỹ học của mình. Làm thế, là chúng ta đặt nghệ thuật dưới khuôn khổ cứng nhắc của một tín điều, một hệ thống triết học, của quyền lợi phe nhóm – nói cho cùng là, của một hệ tư tưởng. Nghệ thuật lâu đời và tất yếu hơn tất cả các thứ đó.

Có thể mượn tay để tô điểm cho một giáo đường, gieo vần cho một luận cương, viết một bản quốc ca hay xây một lăng tẩm thích hợp cho một kẻ bạo chúa. Nhưng không ai có thể sở hữu nghệ thuật – kể cả các ông chủ của nó hay thậm chí chính các nghệ sĩ. Nghệ thuật có những động lực tự sinh riêng, logic riêng, phả hệ riêng và tương lai riêng của nó. Mỹ học của một cá nhân xuất phát từ bản năng về tất cả những điều đó, chứ không phải từ người cho tiền. Và chính mỹ học của một cá nhân là cái khơi dậy cảm quan lịch sử và đạo đức của hắn – không phải là ngược lại.

Một trong những điều tệ hại nhất có thể xảy ra với một nghệ sĩ là coi bản thân như người chủ nghệ thuật của mình, và nghệ thuật như công cụ của mình. Là sản phẩm của sự cảm nhận thương trường, thái độ này xét về mặt tâm lý gần như không khác gì với cái quan niệm của một ông chủ coi người nghệ sĩ là một nhân viên. Cả hai đều có xu hướng mặc nhận (hoặc quảng cáo) – người trước, ngôn ngữ riêng của người nghệ sĩ; người sau, ý muốn và mục đích của ông chủ. Và những sự độc đoán kiểu như vậy bao giờ cũng phải có người khác trả giá. Nghệ sĩ thì hạ bệ ngôn ngữ riêng của nghệ sĩ khác; ông chủ thì cắt hợp đồng, tuyên bố một phong cách này nọ là phi hiện thực hoặc thoái hóa và có thể giam giữ (hoặc lưu đày) nghệ sĩ. Trong cả hai trường hợp, kẻ thua cuộc là nghệ thuật, và vì vậy, là loài người, kẻ còn lại trong tay một khái niệm què cụt về bản thân.

Nhưng nếu ông chủ (chẳng hạn nhà nước) có thể xin lỗi vì họ đã không hiểu biết rõ hơn, thì nghệ sĩ (chẳng hạn nhà văn) không thể làm thế được. Khác với nhà nước, nhà văn không thể lấy cớ rằng các hành động của hắn là tất yếu lịch sử để tự bào chữa. Việc dẫn ra những sự thăng trầm lịch sử cũng không che đỡ được cho hắn, kể cả nếu chỉ là vì hàng trăm nghìn người tỵ nạn, xuất khẩu lao động, thuyền nhân, làm mướn chui, vân vân, coi như đã tháo đóa phong lan từ khuyết áo của nhà văn lưu đày. Nếu không lo mâu thuẫn về khái niệm, hắn có thể đòi hỏi sự tất yếu thẩm mỹ. Nhưng mỹ học là một hiện tượng tuyến tính. Nó không có quyền năng từ quá khứ tác động ngược trở lại sự tiến bộ của nó – đấy sẽ là một lời tuyên bố tự bại.

Chắc chắn, thương trường, với sở trường tuyệt đỉnh của nó, có thể buộc một con chuột nhút nhát nhất tự coi mình bằng những lời lẽ có được sau khi chết. Nó cũng có thể khiến một tác giả dày dạn coi việc anh lính của đội quân chiếm đóng chặn xe hơi của hắn lại là một cuộc chạm trán cá nhân với lịch sử – đấy có lẽ là cảm giác của ông Kundera tại Tiệp Khắc năm 1968. Chúng ta có thể cảm thông cho ông ta, nhưng chỉ cho đến khi ông ta bắt đầu khái quát hóa về người lính đó và nền văn hóa mà người lính đại diện. Nỗi sợ hãi và sự ghê tởm là điều dễ hiểu, nhưng những người lính không bao giờ đại diện văn hóa, huống chi là văn học – họ mang súng, chứ không mang sách.

Ở một nhà văn mang mặc cảm sở hữu đối với nghệ thuật của mình, một sự va chạm kiểu này sẽ đánh thức cảm giác bất an buộc hắn phải đáp trả bằng ngôn ngữ không phải của sự tất yếu nghệ thuật, mà của sự tất yếu lịch sử. Nói cách khác, hắn luống cuống nhìn quanh để tìm nơi đổ lỗi. Chỉ tự tin khi ở trong lãnh địa riêng của mình, lẽ tự nhiên là hắn phê phán gay gắt kẻ thể hiện một ngôn ngữ xa lạ. Chắc chắn, ngôn ngữ xa lạ này luôn luôn đe dọa hắn và lòng tự tin của hắn. Giờ đây, khi sự rủi ro xảy đến với hắn, theo bản năng hắn chỉ tay về hướng quen thuộc. Nói cách khác, Kundera xuất hiện trên sân khấu cùng với bài viết “Dẫn nhập về biến tấu” của mình, ngón tay chỉ thẳng vào Dostojevsky.

Vào một ngày năm 1968, sau khi quân đội Xô viết chiếm đóng Tiệp Khắc, một đạo diễn tốt bụng đã đề nghị Milan Kundera phóng tác sân khấu, dưới một cái tên giả, tác phẩm “Thằng ngốc” của Dostojevsky. Sách của ông Kundera đã bị cấm, và ông ta “không còn phương tiện hợp pháp” để kiếm sống. Thế nhưng, như ông ta viết trong bài, “Tôi đã đọc lại ‚Thằng ngốc’ và nhận ra rằng ngay dù có chết đói đi nữa, tôi cũng không thể làm việc đó được. Cái thế giới của những điệu bộ thái quá, những bề sâu u ám và sự đa cảm hung dữ khiến tôi thấy khó chịu. Và cùng lúc tôi cảm thấy một nỗi nhớ day dứt không sao giải thích được đối với tác phẩm ‚Jacques người tin số mệnh‘”

Ông Kundera không phải là nhà văn đầu tiên có ác cảm đối với Dostojevsky. Vladimir Nabokov, chẳng hạn, rất thích so sánh người đồng hương của mình với Eugene Sue, một Dickens của tầng lớp dưới Paris (mặc dù theo ý tôi, sự so sánh với Sue khó có thể nói là một sự coi thường được). Nhưng dù sao thì chúng ta cũng phải công nhận là, Nabokov đã không kể ra những thăng trầm lịch sử để hỗ trợ cho cái ý kiến sẽ còn mãi mãi ám ảnh lương tâm nghệ thuật của ông, cùng với những đánh giá về Joyce, Faulkner và những người khác.

Nhưng ông Kundera viết tiếp: “Vì sao có sự ác cảm đột nhiên đó đối với Dostojevsky? Ðấy có phải là phản ứng bài Nga của một người Czech bị chấn thương bởi sự chiếm đóng nước mình? Không, bởi vì tôi không bao giờ thôi yêu mến Chekhov? Ðấy có phải là sự hoài nghi giá trị mỹ học của tác phẩm đó? Không, bởi vì mối ác cảm đến với tôi một cách bất ngờ và không hề có tính khách quan. Cái làm tôi khó chịu về Dostoyevsky là cái không khí trong tiểu thuyết của ông: một thế giới nơi mọi thứ đều biến thành tình cảm; nói cách khác, nơi các tình cảm được nâng lên ngang hàng với giá trị và chân lý“.

Rồi ông ta công kích sự vô lý của tình cảm, và sau khi chỉ ra cái giá cho tình cảm mà nền văn minh của chúng ta đã phải trả, ông ta quay sang tán dương mặt đối lập của nó là tư duy lý tính và tinh thần duy lý và hoài nghi, xác định vị trí của chúng tại phương Tây. Vương quốc nơi các tình cảm “được coi là giá trị, là tiêu chuẩn chân lý, là sự biện hộ cho mọi loại hành vi” đại khái nằm trên hướng ngón tay ông ta chỉ, nơi sinh ra Dostojevsky và những chiếc xe tăng. Trong vương quốc đó, nơi tình cảm chiếm chỗ lý trí, “những tình cảm dân tộc cao quý nhất sẵn sàng được đưa ra để biện hộ cho những điều ghê rợn nhất, và con người, bầu ngực đầy căng niềm đam mê trữ tình, lại làm những điều tàn bạo dưới cái tên thiêng liêng của tình yêu“.

Thế nhưng điều đó không đúng; hay ít ra, nó cũng không đơn giản dễ hiểu như thế. Những sự tàn bạo đã và đang được thực hiện ở vương quốc đó, đã và đang được thực hiện không phải nhân danh tình yêu mà nhân danh sự tất yếu – và là sự tất yếu lịch sử. Quan niệm về sự tất yếu lịch sử là sản phẩm của tư duy lý tính và đến nước Nga qua nẻo phương Tây. Tư tưởng về con người dã man cao quý, về bản tính thiện của con người bị các thể chế thấp kém ngăn trở, về một nhà nước lý tưởng, về công lý xã hội, vân vân – không cái nào trong số này bắt nguồn hay nảy nở bên bờ sông Volga. Có thể người ta nên chống lại ý muốn coi những kẻ ăn bám có tài nhưng vô trách nhiệm của các phòng khách Paris thế kỷ 18 là nguồn gốc của nhà nước cảnh sát hiện đại. Nhưng người ta không nên quên rằng bộ “Tư bản” đã được dịch sang tiếng Nga từ tiếng Ðức.

Có thể coi việc “bóng ma cộng sản” sau khi lang thang khắp châu Âu đã đậu xuống ở phương Ðông là một lời khen ngợi chủ nghĩa duy lý phương Tây. Nhưng cũng cần thấy rằng không ở đâu khác nó gặp phải sức kháng cự mạnh hơn, bắt đầu từ “Lũ người quỷ ám” của Dostojevsky và tiếp tục qua bể máu của thời Nội chiến và Ðại khủng bố; và sự kháng cự đến nay vẫn chưa dứt. Ít nhất cũng phải nói là bóng ma đó đã gặp ít khó khăn hơn trong việc đến cư trú tại quê hương của ông Kundera năm 1945 cũng như trong việc đòi lại quyền sở hữu đất nước đó năm 1968. Cái hệ thống chính trị đã làm ông Kundera mất việc vừa là sản phẩm của chủ nghĩa duy lý phương Tây, vừa là sản phẩm của chủ nghĩa tình cảm cực đoan phương Ðông. Tóm lại, khi thấy xe tăng Nga trên đường phố, thì có mọi lý do để nghĩ đến Diderot.

Kundera nghĩ về Dostojevsky như vậy là vì cảm quan địa lý của ông ta bị quy định bởi cảm quan lịch sử, hoặc vì sự có mặt của nhà văn này khiến ông ta thấy bất an. Tôi muốn nghĩ trường hợp sau là đúng, kể cả khi chỉ vì đó là tình cảm thích hợp đối với Dostojevsky có trong mỗi nhà văn chuyên nghiệp. Cũng bởi vì việc mô tả không khí trong tiểu thuyết của Dostojevsky như một thế giới nơi mọi thứ đều biến thành tình cảm, nơi tình cảm được nâng lên hàng giá trị và chân lý, tự nó là một sự bóp méo mang tính tình cảm cao độ.

Thậm chí nếu người ta có hạ các tiểu thuyết của Dostojevsky xuống cái mức mà ông Kundera đưa ra, thì cũng rõ ràng là chúng thực chất không phải nói về các tình cảm, mà là về hệ thống cấp bậc các tình cảm. Hơn thế nữa, các tình cảm đó là phản ứng chống lại những ý tưởng được bộc lộ, và phần lớn các ý tưởng đó là những ý tưởng duy lý cao độ mà thực ra là nhặt nhạnh được ở phương Tây. Ða phần các tiểu thuyết của Dostojevsky là cái kết cục Nga cho các biến cố xảy ra ở ngoài nước Nga, ở phương Tây. Hoàng tử Myshkin từ phương Tây về bị điên, và Ivan Karamazov học được các tư tưởng vô thần cũng ở đấy; phương Tây là nguồn cội chủ nghĩa chính trị cực đoan của Verkhovensky Jr. và cái ổ âm mưu của ông ta.

Ý tưởng chính của các tiểu thuyết của Dostojevsky là cuộc đấu tranh cho linh hồn con người, vì tác giả tin rằng con người có linh hồn, rằng nó là một thực thể tâm linh. Ông viết về cuộc đấu tranh này – hoặc sự giành giật – giữa đức tin và cách nhìn tồn tại theo lối thực lợi, về sự dao động quả lắc này của tâm lý con người giữa hai vực thẳm, thiện và ác. Chính các vực thẳm đó là cái ông Kundera gọi là những bề sâu u ám; chính sự dao động quả lắc đó đập vào mắt ông như những điệu bộ quá khích.

Ít nhất cũng phải nói là Dostojevsky đã trình bày một bức tranh về con người không đến nỗi thiển cận như ông Kundera nghĩ. Nó phức tạp hơn, khó quản lý hơn; và điều đó giải thích được phần nào sự cảm thụ khiếm khuyết của ông Kundera. Nhưng có lẽ sự hiểu sai của ông ta cũng liên quan đến cách nhìn con người một cách rút gọn, mà Dostojevsky chống lại và nó là sản phẩm của – xin dùng cái tên xoàng xĩnh nhất – thuyết bất khả tri. Ðúng là xe tăng và quân đội đổ vào xứ sở của ông Kundera là từ phương Ðông với một sự đều đặn đến mức khó chịu; nhưng lý do khiến ông ta tin rằng loại người được Dostojevsky mô tả chỉ có ở vùng đó thì chỉ là vì phương Tây từ trước đến nay chưa sản xuất ra được một nhà văn nào có khả năng tìm hiểu như Dostojevsky.

Vì vậy nên ông Kundera mới có một cảm quan địa lý như vậy. Bởi vì chỗ nào ông nhìn thấy có thế giới của tình cảm hay lý trí, người tiền bối Nga của ông lại nhìn thấy chỗ ấy có xu hướng ác của con người. Trong tất cả các dân tộc, người Czech ở vào vị trí tốt nhất để quan sát thấy mẫu số chung đó; vì vào năm 1968 thì họ cũng chưa thể quên một biến cố đã xảy ra 30 năm trước, khi một cuộc xâm lăng đến từ phía Tây. Người ta ngạc nhiên vì sao “Jacques người tin số mệnh” lại phù hợp với độc giả Czech khi đó.

Trước khi đề cao tột bậc tư duy lý tính, một người thận trọng phải tự hỏi mình liệu lý trí có cho phép đưa đến những phát hiện thực sự hay không, hay chỉ để hiển ngôn hoá các tri thức hắn đã có sẵn. Câu hỏi này cổ xưa hơn nền văn minh của chúng ta; quả vậy, nó có vẻ như là một trong những cỗ xe chính của nền văn minh. Nó là cỗ xe của phần lớn nền văn học, đặc biệt tác phẩm của Dostojevsky.

Nếu ông Kundera không đi theo hướng tìm tòi này, thì đấy cũng không phải là vì thiếu tưởng tượng hay vì sự ác cảm đối với tư duy trừu tượng. Sự thật đáng buồn về ông (và nhiều đồng nghiệp Ðông Âu của ông) là nhà văn hết sức độc đáo này đã vô ý thức trở thành nạn nhân của định mệnh chính trị và địa lý của ông ta – quan niệm về sự chia cắt Ðông-Tây.

Đúng là người Czech không có Bắc hay Nam để nói (Ba Lan? Ðức? Hungary?). Nhưng dù cái quan niệm về thế giới bị phân chia ra từng phần theo kiểu này có thể rất bi thảm, nó không phải là không có sự dễ chịu về mặt tinh thần. Nó mang lại sự phân đôi thuận tiện giữa tình cảm-lý trí, Dostojevsky-Diderot, họ-chúng ta, vân vân. Nó buộc cá nhân phải lựa chọn. Quá trình lựa chọn bao giờ cũng đầy kịch tính và nguy hiểm; khi đã lựa chọn, người ta có đủ lý do để coi mình là một anh hùng. Cái lợi duy nhất là bản thân sự lựa chọn là rất hạn chế. Ðúng như bản chất vị trí của nó, đây là vấn đề hoặc thế này/hoặc thế kia.

Thường thì một lựa chọn như vậy là biến cố có ý nghĩa nhất trong cuộc đời của một cá nhân, và khi người ta càng nghĩ lại nhiều về nó thì nó càng trở thành một thực thể có trọng lượng, che khuất đi sự nghèo nàn và số lượng ít ỏi của những lựa chọn ban đầu. Ðược tiến hành dưới sức ép của hoàn cảnh, sự lựa chọn hạn chế này là tiếng vọng của một trong những nỗi gian nan căn bản nhất của kiếp người. Ðiều đó không có gì sai, trừ chỗ nó áp đặt một quan niệm giảm thiểu về tiềm năng con người ngầm ẩn trong mọi sự lựa chọn hạn chế và đấy có thể chính là lý do nó được đưa ra. Lãng quên khả năng này, cá nhân bắt đầu khăng khăng vào bất kỳ kết luận nào mà kinh nghiệm dắt hắn tới, vứt bỏ hoặc xua đuổi một khái niệm về con người có tính chất bao quát hơn, rộng rãi hơn, hoặc vươn xa hơn.

Ðấy, tôi nghĩ, là thực chất mối ác cảm của ông Kundera đối với Dostojevsky. Như vậy nên ý tưởng cân bằng tình cảm với tư duy lý tính vậy là hiện ra dưới dạng có điều kiện, nếu không phải đơn giản là thừa; vì một ý tưởng, để xứng đáng với những gì nó nhận được từ người khác, là phải nhận ra được và đo lường được bằng phẩm chất của những lời đáp trả nó. Nếu văn học có chức năng xã hội, có lẽ nó phải chỉ cho con người thấy thông số tối ưu, giá trị tâm linh cực đại của hắn. Xét về mặt đó, con người siêu hình trong các tiểu thuyết của Dostojevsky có giá trị lớn hơn nhà duy lý bị thương tổn của ông Kundera, dù có hiện đại và phổ biến đến đâu đi nữa.

Ðó không phải là lỗi của ông Kundera, tất nhiên, dù ông có ý thức được nó. Có nhiều thứ để nói về cái vị trí ở đó ông nhà văn Czech này thấy mình đối diện với Dostojevsky. Thứ nhất, ông ta đã sống với một thực đơn thẩm mỹ cứng nhắc, lộ ra trong cái cách ông thường xuyên sử dụng ẩn dụ tình dục cho tư cách của con người. Nghe ra có vẻ nghịch lý, nhưng một nhà duy mỹ thực thụ sẽ không lâm vào cảnh phải lựa chọn khi thấy đoàn xe tăng ngoại bang tràn vào phố; hắn lẽ ra phải đoán trước – hoặc hình dung – được những việc như thế (nhất là trong thế kỷ này). Thứ hai, thuyết bất khả tri kiểu Luther buộc lý trí người ta phải tự dàn dựng lấy một bản Phán Xử Cuối Cùng của nó. Bản này tàn nhẫn hơn bản của Ðấng Toàn Năng, bởi vì người ta dễ nghĩ rằng người ta tự biết mình tường tận hơn Ðấng Tối Cao. Thiếu sự ân sủng, mà đương lượng lý tính duy nhất của nó là giải pháp ngừng tra khảo chính mình, cá nhân duy lý quay sang một chủ nghĩa khoái lạc tội lỗi.

Thứ ba, và có lẽ quan trọng nhất, ông Kundera là một người ở Lục địa, một người châu Âu. Các dân tộc này hiếm khi có khả năng tự nhìn mình từ ngoài vào. Nếu họ làm thế, thì bao giờ cũng là ở trong bối cảnh châu Âu, vì châu Âu cho một cái thước đo khiến họ có thể nhìn ra tầm quan trọng của bản thân mình. Lợi thế của một xã hội phân tầng nằm ở chỗ nó cho phép một cá nhân có thể dễ dàng đánh giá cao được sự tăng tiến của mình. Tuy nhiên, mặt ngược lại là người ta cảm thấy có những giới hạn, và phía sau chúng, những vùng đất nơi cuộc sống của cá nhân này trở thành vô nghĩa . Ðấy là lý do vì sao một dân tộc định cư lại ghét các dân tộc du cư: ngoài mối đe dọa thể chất, dân du cư còn gây hại cho quan niệm về ranh giới.

Các sắc dân ở Lục địa là những người tồn tại bằng các ranh giới, dù đó là ranh giới dân tộc, cộng đồng, giai cấp, truyền thống, thứ bậc hay lý trí. Thêm vào đó cái cấu trúc quan liêu có tính mê hoặc của nhà nước, và ta sẽ có một người không có cảm giác về sự ngẫu nhiên, cả đối với bản thân hắn cũng như đối với chủng tộc hắn. Chưa bao giờ được nghe nói đến nhiều sự lựa chọn, hắn trong trường hợp khá nhất cũng chỉ biết tính đến một sự lựa chọn đặc biệt theo kiểu cả khối, giống như cái hắn đã biết – Ðông hoặc Tây. Khi thành nhà văn, hắn phải cố trả đũa bằng cách tẩy xoá các giới hạn của thể loại. Ðiều đó có thể mang lại cho hắn cái danh tiền phong chủ nghĩa, nhưng chỉ là trong đám người cũng tự thấy mình đang lâm vào ngõ cụt phong cách.

Từng sống lâu ở Ðông Âu (Tây Á theo cách nghĩ của một số), lẽ tự nhiên là ông Kundera sẽ muốn tỏ ra châu Âu hơn bản thân người Âu. Ngoài những điều khác, thái độ đó chắc có sức lôi cuốn mạnh đối với ông ta, bởi vì nó cấp cho cái quá khứ của ông ta nhiều liên hệ lô-gích với hiện tại hơn thường có đối với người lưu đày. Nó cũng đặt ông ta vào một vị thế thuận lợi để có thể chỉ trích phương Tây là đã phản bội những giá trị riêng của nó (cái quen gọi là nền văn minh châu Âu) và đã bỏ rơi một số nước đã kiên trì theo đuổi nền văn minh đó với một khả năng thành công vô cùng ít ỏi.

Vì vậy, những ai còn có khả năng đọc và viết sẽ phải biết ơn ông Kundera cùng các đồng nghiệp và bạn hữu ông ta ở Tiệp Khắc (Czechoslovakia). Có lẽ mối lo ngại duy nhất là khái niệm văn minh châu Âu của ông ta hơi hạn hẹp và lệch lạc, vì Dostojevsky không nằm vừa trong đó và bị coi là nguy cơ đe đọa nó. Một điều khác, tất nhiên, là cái nghịch lý của một nạn nhân phương Ðông này coi văn hoá của mình hơn văn hóa của phương Tây xấu xa, nhưng vẫn thèm khát những lợi lộc từ hệ thống của kẻ xấu xa đó. Nói đơn giản là, nếu những giấc mơ chính trị của vị nạn nhân kia thành hiện thực, hắn sẽ có cái tự do và môi trường văn hóa mà hắn hiện tại đang phê phán – những thứ của kẻ hung bạo.

Ðể giải quyết nghịch lý này, người ta phải ghi nhớ hai điều: Thứ nhất, nhớ rằng sự phản bội, sự xói mòn, sự hạ thấp các chuẩn mực là những đặc tính hữu cơ của nền văn minh, rằng văn minh là một cơ thể có bài tiết, sinh sản, thoái hóa, tái sinh, rằng sự lụi tàn và thối rữa của các bộ phận của nó là cái giá phải trả cho sự tiến hóa. Thứ hai, nhớ rằng sự trong sạch của nạn nhân là gượng ép, tức là một sự trong sạch giả tạo và chúng ta sẽ không phải bỏ ra một chút tự do nào, kể cả một thứ tự do nhỏ nhất; rằng cảm giác hấp dẫn của chúng ta đối với những chuẩn mực văn hóa của nạn nhân mang bản chất điếu văn, bởi vì chúng thuộc về quá khứ của một nền văn minh đã bị sự tàn bạo ý hệ ướp lạnh. Cá tươi luôn có mùi, còn cá đông lạnh thì chỉ bốc mùi khi đem rán.

Gần cuối bài viết của mình, ông Kundera viết: “Ðối mặt với bóng đêm Nga vô tận, tôi đã trải nghiệm ở Praha cái kết thúc hung bạo của nền văn hóa phương Tây như nó được quan niệm vào buổi bình minh của thời hiện đại, với nền tảng là cá nhân và lý trí của nó, là chủ nghĩa đa nguyên và sự khoan dung. Tại một đất nước phương Tây nhỏ bé tôi đã trải nghiệm cái kết thúc của phương Tây. Ðấy là lời giã từ lớn“.

Nghe thật kêu và bi thảm, nhưng đó chỉ là trò hề suông mà thôi. Văn hóa chỉ chết vì những kẻ không nắm được nó, giống như luân lý chết vì những kẻ phóng đãng. Văn minh phương Tây và nền văn hóa của nó, kể cả theo như ông Kundera đánh giá, trước hết dựa vào nguyên tắc hy sinh, vào ý tưởng về một con người chết vì tội lỗi của chúng sinh. Khi bị đe dọa, văn minh phương Tây và nền văn hóa của nó bao giờ cũng tìm được đủ quyết tâm đánh lại kẻ thù, ngay cả kẻ thù bên trong. Về nhiều mặt, cuộc chiến tranh cuối cùng là cuộc nội chiến của văn minh phương Tây. Ðổ máu là việc không vui gì, thậm chí còn không thể coi đó là một sự bắt chước nhỏ mọn theo đấng Christ; nhưng chừng nào con người còn sẵn sàng chết cho các lý tưởng của mình, những lý tưởng đó còn sống, nền văn minh còn sống.

Còn quá sớm để nói lời từ giã văn hóa phương Tây, ngay cả ở Praha, nếu chỉ vì Jan Palach, anh sinh viên Czech đã tự giết mình trước đám đông vào tháng Giêng 1969 để phản đối việc chiếm đóng của người Nga. Đêm tối Nga ụp xuống Tiệp Khắc lúc đó không tối hơn cái đêm năm 1948 khi Jan Masaryk bị một nhân viên mật vụ xô viết ném qua cửa sổ. Chính văn hóa phương Tây đã giúp ông Kundera sống qua được đêm tối đó, chính trong đêm tối đó ông đã thấy yêu Denis Diderot và Lawrence Sterne và cười cái cười của họ. Tuy nhiên cái cười đó là đặc quyền của những người tự do, cũng như những nỗi buồn của Dostojevsky vậy.

(17/2/1985)

(www.artobello.de/Kundera/)

 
© talawas 2026