trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
4.12.2003
Norman L. Wang
Về sự không chính xác, không hệ thống, không nhất quán trong hai bài viết của ông Trần Đình Hượu
 

Tôi thấy mình đang đồng ý với nhận xét:


“Ta không quen đòi hỏi tính chính xác, tính hệ thống, tính nhất quán; ta không có thói quen tư duy triết học.”

của ông Trần Đình Hượu về người Việt, vì hai bài: Về đặc điểm tư tưởng Việt NamVề vấn đề tìm đặc sắc hoá dân tộc của ông có thể được coi là những ví dụ về sự không chính xác, không hệ thống, không nhất quán ở một học giả là người Việt.

Sự không chính xác có thể biểu lộ ở hình thức những phát biểu quá chung chung mà vận dụng vào chỗ nào cũng có thể đúng:

“Sự kết hợp phức tạp giữa Nho, Phật, Đạo, giữa Tam giáo với cách suy nghĩ dân gian, giữa những thứ đó với Âm dương, Ngũ hành để tìm cách quan niệm thế giới, quan niệm con người, cuộc sống, quan niệm sự vận động, sự đổi thay lịch sử… đó mới đúng là cách tư duy Việt Nam.”

Câu này vận dụng cho Trung Quốc cũng có hiệu lực nguyên vẹn, như vậy “đó mới đúng là cách tư duy Việt Nam” hay mới đúng là cách tư duy Trung Quốc? Hoặc:

“Tư tưởng Việt Nam không chỉ là cái thổ sản thuần Việt, mà còn có cả nhiều cái từ ngoài đến, có khi được cải tạo, có khi để nguyên dạng, nhưng đều được sắp xếp theo một cách nào đó hay sử dụng theo một cách nào đó. Cái này mới là mấu chốt của bản lĩnh và ưu nhược điểm của cái này mới là cái chi phối sâu xa tư duy Việt Nam.”

Câu này đúng là “dự báo cho mọi loại thời tiết” có hiệu lực cho tư tưởng của mọi dân tộc. Nếu tôi thay chữ “Việt Nam” bằng chữ “Mỹ” thì đây là một phát biểu cũng hoàn toàn đúng về đặc điểm tư tưởng Mỹ! Hoặc:


“Cách tư duy Việt Nam có ưu điểm và nhược điểm.”

“Nhìn vào lối sống, quan niệm sống, ta có thể nói người Việt Nam sống có văn hoá, người Việt Nam có nền văn hoá của mình. Những cái thô dã, những cái hung bạo đã bị xoá bỏ để có cái nền nhân bản.”

“Văn hoá truyền thống của ta là tốt đẹp.”

Chúa ơi! Chúng ta đang ở đâu? Đang ở trong một buổi phổ biến kiến thức phổ thông cho các bà lão ở Câu Lạc Bộ Dưỡng Sinh và Văn Hoá? Tôi cũng phải đồng ý với ông Patrick Raszelenberg là những câu kiểu này “vô vị và rỗng nghĩa”. Tiếc thay sách nghiên cứu của nhiều tác giả Việt Nam được làm đầy bằng những phát biểu nhàm chán như vậy mà ông TĐH không phải là đỉnh cao rực rỡ nhưng là một ví dụ.


“Nước ta từ đời Lý Trần đã thành nước có văn hiến cao hơn các nước Đông Nam Á cùng thời:”

Thế nào là có văn hiến cao hơn? Nước Đại Việt có thành tựu văn hoá nào ngang tầm Angkor của Jayaverman VII (1181-1201) không? Thành tích quân sự của nước Đại Việt khi xâm lược Champa có hơn của người Khmer không? Hai triều Lý và Trần kéo dài tổng cộng gần 3 thế kỉ XI, XII, XIII. Nói một cách thiếu phân biệt như TĐH thì văn hiến của “nước ta” cao hơn các nước ĐNA từ thế kỉ XI, XII, hay XIII? Xin nhắc lại rằng đó là một khoảng thời gian ba thế kỷ, tức là bằng cả lịch sử nước Mỹ rồi đấy. Các độc giả cũng đã thấy rằng tôi có ý giễu cợt từ “nước ta” của TĐH mà theo tôi bị dùng quá dễ dãi. Đó là nước Đại Việt trong câu văn trên, mà đường biên giới của nó dừng lại ở đâu thì chúng ta đều đã theo dõi được. TĐH cũng viết những câu như: “Nhưng nước ta lại sớm thống nhất”. Vẫn là dùng từ “nước ta” không chính xác như thế, trong khi khái niệm “thống nhất” ở đây cũng bị đưa ra không có phân biệt lịch sử nào. “Sớm” theo nghĩa nào cho cả một cái chung chung là “nước ta” nếu đến tận đầu thế kỉ 19 mới có cuộc thống nhất toàn Việt Nam thông qua nhà Nguyễn?


“Trong nền văn hoá cũ, sức sáng tạo của ta không khỏi có khuynh hướng tiểu kĩ, ứng dụng, thiếu những sáng tạo lớn. Ðó là con đẻ của tinh thần thiết thực. Trong tương lai, đó là một nhược điểm.”

Tôi đã cố gắng đọc nhiều lần cả hai bài viết của TĐH để hiểu cái hệ thống quan điểm của ông về sự sáng tạo. Rõ ràng TĐH muốn dùng khái niệm “sáng tạo” một cách riêng của ông, nhưng ông không miêu tả được cái mà ông gọi là “sự sáng tạo”. Sự miêu tả của ông lộn xộn, người đọc cuối cùng cũng phải bất lực cùng với ông. Thế nào là “sáng tạo lớn”, “sáng tạo nhỏ”? Tại sao trong tương lai tính sáng tạo lại không nên được sinh ra từ tinh thần thiết thực? Vậy nên sinh ra từ tinh thần gì? “Nền văn hoá cũ”, “tinh thần thiết thực”, “tính sáng tạo”, “tương lai”, bốn khái niệm ấy bị đặt vào nhau để quy định những ý nghĩa nào đấy nhưng không có gì trong cả bốn điều đó được xác định rõ nét. Ông PR cáu kỉnh khi đọc những câu như vậy là cũng có thể hiểu được.


“Lịch sử tư tưởng Việt Nam có hai đoạn hoàn toàn khác nhau – Từ khi nước ta tiếp xúc với phương Tây, du nhập tư tưởng phương Tây tức là từ đầu thế kỷ XX cho đến nay. Đó là thời đại mới. Tư tưởng Việt Nam tiếp cận và hoà giòng vào tư tưởng đồng đại của thế giới. – Đoạn trước đó, khi nước ta còn nằm trong văn hoá có tính chất khu vực – vùng Đông Á và Đông Nam Á – tư tưởng nước ta có những nét chung của tư tưởng cả khu vực đó. Đối với đoạn sau vấn đề đối tượng và phương pháp nghiên cứu không có gì phải bàn cãi nhiều. Đó là đối tượng và phương pháp chung khi nghiên cứu tư tưởng triết học cận hiện đại của các nước.”

Tôi rất ngạc nhiên không hiểu cái “đối tượng và phương pháp nghiên cứu không có gì phải bàn cãi nhiều” vì là “đối tượng và phương pháp chung khi nghiên cứu tư tưởng triết học cận hiện đại của các nước” là cái gì? Các nước nào? Liên Xô và Mỹ có phương pháp và đối tượng như nhau hay sao? Phương pháp nghiên cứu ở riêng trong một nước như Mỹ đã không thống nhất, có rất nhiều học phái khác nhau lắm. Câu “Tư tưởng Việt Nam tiếp cận và hoà giòng vào tư tưởng đồng đại của thế giới” lại càng kinh khủng vì sự thiếu chính xác huy hoàng. Cái thế giới này làm gì có MỘT tư tưởng đồng đại chính để Việt Nam hoà dòng vào? Tư tưởng của phe xã hội chủ nghĩa trước kia (ở thời điểm ông TĐH viết bài) mà Việt Nam là thành viên hài lòng của nó và của phe tư bản chủ nghĩa không đối lập nhau hay sao? Cái “thế giới” và “các nước” ở đây chỉ có thể là thế giới XHCN và các nước XHCN thôi. Bây giờ Việt Nam cũng còn chưa tiếp cận với rất nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau ở bên ngoài. Cái “đoạn sau” mà TĐH nói tới mới chính là giai đoạn phải bàn cãi hơn hoặc ít nhất không kém “đoạn trước”!


“Với từ “hiện đại” tôi muốn nhấn mạnh sức sản xuất, trình độ tổ chức xã hội, quy mô thông tin, giao lưu văn hoá, tốc độ phát triển khoa học kĩ thuật, những điều kiện của thế giới ngày nay mà xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa đều chung nhau.”

Chúa ơi! Xin mời các độc giả tự quyết định rằng TĐH ấu trĩ trong các nhận thức về “quy mô thông tin”, “tốc độ phát triển khoa học kĩ thuật”, “giao lưu văn hoá”, “sức sản xuất” mà XHCN hay TBCN “đều chung nhau”, hay đúng ra là ông không có khả năng tưduy chính xác? Thông tin ở một nước XHCN hiện đại như Liên Xô diễn ra như thế nào, trong khi ở Mỹ diễn ra như thế nào, tại sao có thể gọi là “đều chung nhau” được? Những phát biểu mơ hồ, không phân biệt như thế thật là buồn cười. Còn những phát biểu mà người Việt gọi là “lơ lửng” như:


“những cái trái tự nhiên, trái nhân đạo, vốn có nhiều trong cách giải thích kinh điển Trung Quốc”

khiến người đọc rất bực vì không đủ cụ thể. Sao ông TĐH không lấy được một vài ví dụ cụ thể về cái “trái tự nhiên”, “trái nhân đạo” ấy? Tiếc thay đó cũng là khuyết điểm thường thấy ở nhiều sách của các nhà nghiên cứu người Việt. Họ thích đưa ra các nhận định nhưng không thích đưa ra ví dụ cụ thể để người đọc hiểu họ đang nói tới cái gì. Ông TĐH dành ra rất nhiều lời về Nho giáo ở Trung Quốc và ở Việt Nam. Như vậy là có ý để người đọc so sánh. Sau đó ông thông tin là “thứ Nho giáo được truyền bá vào và có ảnh hưởng nhiều ở Việt Nam là thứ Nho giáo hậu kỳ” nhưng như vậy là đến điểm quyết định để sự so sánh đạt tới nhận thức cụ thể thì ông dừng lại, không nói tiếp rằng tính chất của Nho giáo hậu kỳ là thế nào và tác động đến tư tưởng Việt Nam như thế nào. Nếu nói về “tính kinh tế” của một bài viết thì hai bài của ông TĐH trình bày ra một “tính kinh tế” rất thấp. Những điều hầu như đều được mọi tác giả khác nhắc đến thì ông cũng nhắc lại rất dài. Đến lúc cần đến những điều mà vì thế mới là lí do để ông trình bày ý kiến thì ông dừng lại ở các nhận định “lửng lơ”. Những nhận định đó nhiều lắm:


“Không chuộng trí mà cũng không chuộng dũng… Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ… Ta không háo hức cái tráng lệ, huy hoàng, không say mê cái huyền ảo, kì vĩ. Không có công trình kiến trúc nào, kể cả của vua chúa, nhằm vào sự vĩnh viễn.”

Chúng khiến cho các bài của ông mang tính phát biểu cảm tưởng của một nhà văn hay nhà báo hơn là tính nhận định của một nhà nghiên cứu. Nếu tôi nói ngược lại rằng người Việt “chuộng trí” và cũng “chuộng dũng” thì cũng được? Nếu tôi nói ngược lại rằng vua chúa Việt Nam cũng thích có một kiến trúc tồn tại vĩnh viễn và con người Việt Nam cũng thích được có những cái huy hoàng tráng lệ, vấn đề đúng ra là không đủ điều kiện xây dựng được những thứ đó? Cái đó trong tiếng Việt gọi là “nói xuôi cũng được, nói ngược cũng xong”. Nếu đây là phong cách hàn lâm của giới nghiên cứu Việt Nam, nếu phải dùng được phong cách này mới được chấp nhận là hiểu rõ văn hóa và con người Việt Nam thì thật là một sự tự mình mê man mà cũng bắt buộc người khác phải mê man.

Cuối cùng là một vấn đề then chốt rằng trong cả hai bài của mình ông TĐH đều muốn tìm cách giải thích quá trình Hán hoá đối với văn hoá và tư tưởng Việt Nam. Tôi cảm thấy như là cùng đau khổ với ông vì ông không tìm được cách cung cấp cho những lời giải thích của mình một cái “xương sống”. Không ý thức được sự không nhất quán của mình nên ông không quyết định được rằng nên giữ ý kiến “trong hàng ngàn năm chính quyền đô hộ xúc tiến quá trình Hán hoá, khi đã dành được độc lập, các triều đại, kể cả chính quyền chúa Nguyễn ở Nam hà, cũng tiếp tục con đường Hán hoá đó.”, tức là việc Hán hoá diễn ra trước hết do áp lực của Trung Quốc, hay đó là chọn lựa tự nguyện của chính quyền Việt Nam (“Cho nên dùng Nho giáo không phải do áp lực của quân xâm lược chiếm đóng mà là do sự tự lựa chọn của các vị minh quân, lương tướng yêu nước, suy nghĩ nhiều về tương lai dân tộc.”), hay đó là sự lựa chọn vui vẻ của nhân dân Việt Nam (“Dân ta có tinh thần kiên cường chống sự xâm lược của Trung Quốc, có tâm lí ghét Tàu, nhưng đối với văn hoá Hán, lúc bấy giờ là thích hợp với sự phát triển của mình, thì sẵn sàng tiếp nhận.”) Tất nhiên trong tinh thần “nói thế nào cũng được” thì cả ba khả năng đó đều kết hợp chặt chẽ với nhau mà người ta không thể quyết định cái khả năng nào là trội nhất. Nhưng nếu chỉ để đi đến kết luận như vậy thì không cần nghiên cứu lịch sử cặn kẽ làm gì.

Nỗi đau khổ tiếp theo là TĐH không quyết định được xem mức độ Hán hoá đối với văn hoá và tư tưởng Việt Nam là đến ranh giới nào. Một mặt tất cả các phân tích của ông đều chỉ có thể cho thấy một xã hội và nền văn hoá Việt Nam bị Hán hoá cao độ với một cái xương sống là Nho giáo. Mặt khác ông tìm cách dành chỗ cho những yếu tố phi Hán. Cho nên lúc trước ông viết: “Ở đây trong lịch sử đã có một sự chuyển vùng về văn hoá từ Đông Nam Á sang Đông Á.” Nhưng lúc sau lại viết: “Có thể nói trong đời sống chung của cả đất nước thì sắc thái Đông Nam Á vẫn là nền tảng, nhiều khi các yếu tố Hán tuy có vào, thậm chí là vào lâu, vẫn không phá vỡ được. Điều đó có thấy rất rõ ở các vùng trước đây không được coi là “đất văn vật”. Tất nhiên là Hán và phi Hán đều tồn tại, nhưng chỉ để đi đến kết luận như vậy thì cũng không cần nghiên cứu nhiều lắm. Nhiệm vụ của nhà nghiên cứu là không dừng lại ở những kết luận “dự báo cho mọi loại thời tiết”. Xin mời độc giả đọc đoạn sau đây mà theo tôi bộc lộ tất cả tính không chính xác, không rõ ràng, không nhất quán, không hệ thống trong phong cách nghiên cứu của TĐH:


“Sự phá vỡ không nổi sắc thái bản địa đó là cơ sở cho một số người nói quá trình phát triển lịch sử ở Việt Nam là quá trình phi Hán hoá hay nói trong tư tưởng Việt Nam, Nho giáo chỉ là cái vỏ, cái áo khoác ngoài Thế nhưng một hệ tư tưởng cũng phải phát triển đến mức cao mới có đủ sức quy tụ và chi phối mọi mặt hoạt động, mà Nho giáo thì chưa phát triển đến trình độ như vậy. Về căn bản nó chỉ là một học thuyết đạo đức – chính trị chưa giải đáp được nhiều vấn đề của nhu cầu trí tuệ con người. Có những mảnh đất nó chưa với tay tới, có những điạ hạt nó bất lực.”

Tôi phải xin lỗi các học trò của ông TĐH vì tôi không dành được lời khen cho ông TĐH. Cũng có thể sự nghiệp của ông TĐH đã có một đóng góp trong giai đoạn mà nghiên cứu về lịch sử văn hoá ở Việt Nam còn chưa đạt tiêu chuẩn phổ biến ở quốc tế, cho nên người ta bỏ qua những khuyết điểm trong phong cách nghiên cứu. Nhưng hiện nay tình hình nghiên cứu về Việt Nam đã khác nhiều lắm rồi. Nếu chỉ để phát biểu một số điều còn cấm kị thì giới nghiên cứu không cần bỏ ra nhiều công phu làm những học giả thật xuất sắc mà chỉ cần có lòng dũng cảm công dân thôi. Tất nhiên tôi biết rằng ở Việt Nam nơi mà tôi sinh ra (nhưng không phải quê hương) cũng như ở Trung Quốc (quê hương mà không phải là nơi tôi sống) và cả ở Mỹ (Tổ Quốc của tôi nhưng không phải quê hương và nơi sinh) lòng dũng cảm công dân cũng rất quý giá và hiếm hoi.

© 2003 talawas

 
© talawas 2026