Vài năm trở lại đây, cùng với sự xuất hiện của một vài cây bút thơ trẻ có những bài thơ khác thường, người ta còn thấy cả sự hăng hái “lăngxê” của một vài nhà thơ lớn tuổi. Thế là văn đàn đã lặp lại cái khung cảnh bi hài do báo chí dàn dựng để tán dương các ngôi sao ca nhạc “một mùa” đã và đang diễn ra trong đời sống âm nhạc. Hiềm một nỗi, để làm công việc của người viết phê bình văn học, có vị còn đem theo cả bầu nhiệt huyết của chàng Ðôn Kihôtê, có lẽ vì thế mà trong khi giương cao khẩu hiệu khách quan – khoa học họ cứ khăng khăng chỉ có riêng mình là đúng đắn, là có con mắt xanh, họ coi những người không cùng ý kiến là “cận thị”(2), nhìn gần không biết nhìn xa. Và trên con chiến mã gầy còm của mình, họ hy vọng sẽ kì cạch kéo cỗ xe “thơ trẻ” trở về với đài tưởng niệm cách đây dăm ba chục năm người Phương Tây từng dựng lên để nhớ tới “thơ điện”, “thơ man rợ” – những thứ thơ mà các nhà thơ như Marinetti, Pélieu, Messagier… đã chế tạo ra. Chính vì thế lời ta thán về việc người khác “ngộ nhận trong phán xét thơ trẻ” cũng chỉ là một “sự ngộ nhận về mình” dưới một hình thức thuần túy cá nhân. Thì ra, nếu không nghiên cứu kỹ lưỡng nguồn gốc một hiện tượng văn chương nào đó, người ta có thể tiếp nhận và cổ súy cho những xu hướng lỗi thời mà không biết nhận chân.
Là một người làm thơ, là những người làm thơ, Nguyễn Trọng Tạo và các nhà thơ đồng ý hướng lẽ nào lại không hiểu điều đơn giản rằng, thơ chỉ có thể là thơ khi nó tìm thấy sức sống trong lòng người đọc và điều thơ đem lại trước hết là ở ý tưởng sâu sắc, tươi trẻ, có sức lay động lòng người… mà tác giả gửi gắm trong bài thơ chứ không phải là những thủ pháp hình thức che đậy cho sự hời hợt, nghèo nàn của tư duy thơ. Nếu người đọc không quan tâm, dù có tốn bao nhiêu giấy mực khẳng định, tán dương một (những) bài thơ nào đó, hay một (những) cây bút thơ nào đó thì cũng không đủ sức làm cho tác phẩm, tác giả ấy trở nên bất hủ. Dường như nhận thấy lý lẽ của mình chưa đủ sức thuyết phục, Nguyễn Trọng Tạo phải sử dụng tới cả thủ pháp của các “nhà giả kim thuật” bằng cách đưa ra một con số mập mờ qua một cách diễn đạt mập mờ để người đọc có thể viển vông lạc quan cùng với anh. Anh viết: “Ngay trong cuộc xét giải thưởng thơ năm 2000 tại Hội đồng Thơ, Hội Nhà văn Việt Nam vừa qua, hai tác giả trẻ là Vi Thùy Linh (20 tuổi) và Nguyễn Hữu Hồng Minh (28 tuổi) đã được Hội đồng Thơ đề cử cùng sáu tác giả khác để bỏ phiếu. Số phiếu của họ chỉ thua hai tác giả đoạt giải. Ðó là những dấu hiệu tốt về sự hiện diện của thơ trẻ trong những năm gần đây”. Theo chỗ tôi được biết, tác phẩm của hai tác giả nói trên là do Thanh Thảo (một trong vài nhà thơ tuổi ngoại ngũ tuần đang cố gắng ganh đua với thơ trẻ) giới thiệu, nhưng điều đáng nói là nếu như ở Hội đồng Thơ, hai tác phẩm sau này đoạt giải thưởng năm 2000 của Hội Nhà văn đạt số phiếu tỷ lệ 6/9 và 7/9, thì tác phẩm của hai bạn trẻ được Nguyễn Trọng Tạo ưu ái lại có số phiếu tỷ lệ 3/9. Không hiểu Nguyễn Trọng Tạo tìm thấy “dấu hiệu toát” ở chỗ nào, hay là anh phóng tác theo câu chuyện vui về một anh chàng háo danh muốn được cả nước biết tới tên tuổi qua mục “hộp thư bạn nghe đài” của buổi phát thanh Văn nghệ!.
Thông thường, để trở thành một hiện tượng xã hội nói chung, một hiện tượng văn học nói riêng, tự thân chủ thể phải mang những phẩm chất đủ làm cho xã hội, làm cho văn giới chú ý. Nhưng trong thời buổi báo chí phát triển như ngày nay, người ta có thể làm ra một hiện tượng xã hội, hoặc làm ra một hiện tượng văn chương, bằng thủ pháp tán dương khoa trương, trống dong cờ mở. Ðiển hình trong mấy năm gần đây phải kể tới chiến dịch viết bài ca ngợi, làm phim chân dung, kết nạp vào Hội Nhà văn cái ông Hùng Anh – thi sĩ dỏm, để cuối cùng phải đối mặt với một sự bẽ bàng bởi ông ta là một tay tham nhũng, lừa đảo. Nếu cứ tin vào điều Nguyễn Trọng Tạo viết: “Một số tác giả trẻ như Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly cũng đã gây được sự chú ý của độc giả, trong đó có người đã tạo ra được những tranh luận, khen ngợi hoặc phê phán. Trường hợp tập LINH (sau tập Khát được đề cử ở Hội đồng Thơ) của Vi Thuỳ Linh là một hiện tượng khá đặc biệt được tranh luận nhiều trên báo chí Bắc Trung Nam, trong đó tám bài khen, bốn bài chê, và ba bài dở khen dở chê” thì người đọc thiếu thông tin sẽ ngỡ rằng dư luận rất chú ý tới các cây bút thơ trẻđược anh dẫn ra. Nhưng sự thật thì người ta chỉ chú ý đến các tác giả này khi họ được các anh ca ngợi hết lời, đến mức người trong văn giới phải tìm đọc, rồi phải lên tiếng phê phán tạo ra các cuộc tranh luận, chứ đâu phải tự thân thơ của họ có sức hấp dẫn, được công chúng chú ý! Vả lại, một tập thơ có bao nhiêu bài khen, bao nhiêu bài chê, bao nhiêu bài dở khen dở chê không nói lên điều gì, như trên đã nói, vấn đề là ở chỗ công chúng có khao khát tìm đọc, có nhớ, có ngâm ngợi… hay không. Theo tiêu chí này mà xét thì xem chừng các “hiện tượng thơ trẻ” do Nguyễn Trọng Tạo “lăngxê” không có được tiếng vang như anh quảng bá. Khi dấn bước vào lộ trình “đỡ đầu cho thơ trẻ“, không hiểu Nguyễn Trọng Tạo đã mất bao nhiêu công lực để trui rèn các kỹ xảo ngoa dụ, ngoa ngôn như vậy nhỉ? Trong lịch sử văn học từng có hiện tượng một tác phẩm, một tác giả bị dư luận đương thời phê phán (thậm chí không thừa nhận) nhưng trong giai đoạn lịch sử sau, tác phẩm ấy lại trở nên bất tử, tác giả ấy lại trở thành danh nhân. Nhưng tiếc thay, những trường hợp như thế thường không nhiều! Do đó không phải bất kỳ tác phẩm, tác giả nào bị dư luận đương thời phê phán cũng sẽ có hậu vận như vậy. Xin hãy tỉnh táo khi phân biệt cái mới đích thực với cái lạ, cái khác thường, giữa sự “sáng tạo” với sự “tối tạo” trong thơ.
Có cái gì đó khôi hài khi Nguyễn Trọng Tạo khen ngợi những câu thơ trẻ nhưng qua đó lại bộc lộ cái “sở đọc” còn hạn hẹp của anh. Thử làm một đối chiếu (chỉ với những gì Nguyễn Trọng Tạo đã dẫn trong bài Ngộ nhận trong phán xét thơ trẻ) giữa: “người dương cầm lên cơn tổng phổ”, “chùm hoa tigôn cũng đỏ màu tập thể”, “đời chị như viện bảo tàng – treo đầy mặt nạ đàn ông”, hay những câu thơ được anh khen sáng trưng lộng lẫy “Chưa bao giờ như chiều nay – Ðàn kiến tha mặt trời qua mùa hè run rẩy”, “Mặt trời vỡ hàng triệu mảnh bọc thân thể tôi rát bỏng- Cát bay lên như những linh hồn” với một bài thơ thuộc trường phái thơ điện ra đời cách đây đã hơn 40 năm: Vé nổ đặt rất ít thời gian thế là tôi đến chào anh buổi tối – Những mảnh bệnh cúm Tây Ban Nha xám không muốn chụp ảnh – Hãy đốt gió trong ống nêông xanh – Anh của chó – Phố xá thôi mưa – Nếu anh muốn một chén trà dệt thảm bằng hoa hồng – Chó quay lại đến thế và nhiều đến thế (Nguyên bản – Pélieu) thì hẳn sẽ thấy chúng không khác nhau nhiều lắm, tình trạng này cũng cũ như cái bài thơ anh Thanh Thảo ăn theo thơ trẻ đã “Trục vớt” được!
Với tinh thần tự tin của một Ðôn Kihôtê trước chiếc cối xay gió, trong bài viết của mình, Nguyễn Trọng Tạo đôi lần hợm hĩnh nhắc tới Văn chương cảm và luận của anh như một ấn phẩm chứa đựng những chân lý không thể bác bỏ, kiểu như: “Trong tập Văn chương cảm và luận tôi đã hơn một lần bàn về thơ tình dục, thơ hiện đại, và khẳng định rằng: Ðiều này tôi đã phân tích kỹ trong bài Thơ trẻ không an bài với thành tựu (Văn chương cảm và luận – tr.216-225)”. Từ góc nhìn của một “bậc trưởng lão nửa mùa”, anh khá kẻ cả với các cây bút phê bình trẻ tuổi, anh gọi sản phẩm của họ là “các bài gọi là phê bình”, anh “chỉ mới xem qua một số bài viết về thơ văn giới trẻ của một ít người phê bình trẻ, tôi đã thấy có nhiều điều bất ổn”. Trong bài viết trên Tia Sáng, anh cảnh báo: “Phê bình có khi là khám bệnh và kê đơn cho văn chương, nhưng ngược lại những “thầy thuốc phê bình” ốm yếu bệnh hoạn đôi khi lại tự biến mình thành kẻ truyền bệnh”, còn trên Sinh Viên (số 33 năm 2001) anh lại “truyền” cho họ cái bệnh háo danh: “Hiện nay cây bút phê bình trẻ không nhiều, và còn mang đậm tính báo chí chứ chưa thành tác giả, nhà văn lý luận phê bình”. Anh Nguyễn Trọng Tạo ơi, những người trẻ tuổi làm phê bình văn học không trông đợi anh đóng vai một nhân viên OTK để phân loại họ được là nhà này nhà kia. Anh không coi họ là tác giả, là nhà văn lý luận phê bình cũng không sao, căn bệnh háo danh ấy xin dành cho người viết nào đang nuôi tham vọng nổi tiếng trên văn đàn. Với một sự nghiêm túc nghề nghiệp, những người làm phê bình văn chương còn trẻ tuổi chỉ viết những gì khả năng họ cho phép, nếu có muốn khuyên bảo, anh hãy khuyên họ sáng suốt để không lây nhiễm căn bệnh nguy hại của một vài người cứ hoắng lên xem người khác là “cận thị” mà không biết chính mình đôi lúc lại tỏ ra “loạn thị” trong khi cảm và luận văn chương.