trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
13.9.2004
Xuân Phong
Về bản dịch «Một giấc mơ» của Franz Kafka
 

Bên cạnh tiểu thuyết và trích đoạn nhật kí của Kafka, Tuyển tập tác phẩm Franz Kafka (Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2003) đã chọn lọc giới thiệu 13 truyện ngắn, trong đó có 3 bản dịch của ông Lê Huy Bắc, tiến sĩ ngữ văn, sinh năm 1968, giảng viên ngữ văn các trường đại học sư phạm Huế và Hà Nội; đó là: Giấc mơ, Một thầy thuốc nông thôn, Người cưỡi xô. Có lẽ ông Lê Huy Bắc (LHB) đã dùng một bản gốc không phải tiếng Đức và không mấy chuẩn xác nên cả ba truyện đều có chỗ này chỗ kia ít nhiều không sát hoặc sai với nguyên bản tiếng Đức, nhất là truyện Giấc mơ (trang 778 – 780).

Nếu liệt kê hết và phân tích chỗ đúng chỗ sai thì khá dài dòng, nên người viết bài này (XP) chỉ nêu một vài dẫn chứng:

1. Kaum aber hatte er zwei Schritte gemacht, war er schon auf dem Friedhof.

Nhưng lúc đã đến nghĩa địa thì anh không thể nào đi nổi lấy vài bước nữa. (LHB)

Nhưng mới đi được có hai bước anh đã tới nghĩa trang rồi. (XP)

2. Es waren dort sehr künstliche, unpraktisch gewundene Wege (….)

Ở đó, các lối mòn rất ngoằn nghoèo, vừa thực lại vừa không thực (LHB)

Những lối đi ở đấy được xếp đặt quanh co, rất mực bất tiện (XP)

3. Mit diesem Bleistift setzte er nun oben auf dem Stein an; der Stein war sehr hoch, er mußte sich gar nicht bücken, wohl aber mußte er sich vorbeugen, denn der Grabhügel, auf den er nicht treten wollte, trennte ihn von dem Stein.

Cầm cây bút ấy trong tay, ông ta hướng nỗ lực của bản thân vào đầu tấm bia mộ; phiến đá rất cao, ông không phải cúi xuống, mặc dù phải nghiêng người về phía trước bởi lẽ nấm mồ, mà ông vừa mới rút chân về, đang chắn giữa ông và bia mộ. (LHB)

Rồi y đặt cây bút chì này lên đầu phiến đá; tấm bia rất cao nên y không cần khom người, nhưng tất nhiên phải cúi tới trước, vì nấm mộ – mà y không muốn giẫm lên – ngăn y với phiến đá. (XP)

4. Nun sah auch K. den Künstler an und merkte, daß dieser in großer Verlegenheit war, aber die Ursache dessen nicht sagen konnte. Alle seine frühere Lebhaftigkeit war verschwunden. Auch K. geriet dadurch in Verlegenheit; sie wechselten hilflose Blicke (…)

Lần này, K. nhìn lại ông ta và thấy rằng ông ta đang cực kì xấu hổ và không thể nào tự mình cắt nghĩa nổi. Tất cả sự hưng phấn ban đầu của ông ta đã biến đi đâu mất. Điều đó cũng khiến K. cảm thấy xấu hổ; họ trao cho nhau mấy cái nhìn cầu mong sự giúp đỡ. (LHB)



Bấy giờ K. cũng nhìn nhà nghệ sĩ, thấy y cực kì bối rối mà không rõ nguyên do. Mọi vẻ sinh động mới đây của y biến đâu mất cả. K. cũng vì thế bối rối theo; họ nhìn nhau mà không biết phải làm gì. (XP)

5. Der Künstler wartete, bis K. sich beruhigt hatte, und enschloß sich dann, da er keinen anderen Ausweg fand, dennoch zum Weiterschreiben.



Nghệ sĩ đợi cho đến lúc K. bình tĩnh trở lại rồi quyết định – nhưng nó cũng chẳng ích gì – tiếp tục với việc khắc chữ. (LHB)

Nhà nghệ sĩ chờ cho K. bình tĩnh lại rồi quyết định vẫn cứ viết tiếp, vì y không biết nên làm gì khác hơn. (XP)

6.Cái dấu phẩy nhỏ đầu tiên ông ta đã làm, khiến K. nguôi ngoai, nhưng rõ ràng, thái độ của nghệ sĩ là cực kì miễn cưỡng khi làm điều đó; rồi chẳng mấy chốc cái công việc tẻ nhạt ấy cũng được kết thúc; ban đầu, cái hình thù ấy như thể một chiếc lá vàng bị khuyết hay một cái cọc hàng rào chưa dựng xong, rồi dần dần, dấu phẩy ấy kéo dài xuống chuyển thành một chữ rất lớn. (LHB)



Đoạn in đậm trên đây không có trong những ấn bản tiếng Đức mà người viết bài này được xem! Do đó mới phỏng đoán, như đã viết, là ông Lê Huy Bắc đã dùng một bản dịch không mấy tin cậy.

Đoạn tiếng Đức, tạm gọi là ‚tương tự’, như sau:

Der erste kleine Strich, den er machte, war für K. eine Erlösung, der Künstler brachte ihn aber offenbar nur mit dem äußerten Widerstreben zustande; die Schrift war auch nicht mehr so schön, vor allem schien es an Gold zu fehlen, blaß und unsicher zog sich der Strich hin, nur sehr groß wurde der Buchstabe.



Nét đầu tiên y vạch ra là cả một sự giải thoát cho K., nhưng xem ra nhà nghệ sĩ đã viết cái vạch kia cực kì miễn cưỡng; nét chữ không còn bay bướm nữa, nhất là có vẻ thiếu chất vàng, lê thê, nhạt nhẽo và không chắc tay, chỉ được cái là chữ rất to. (XP)

7. nur zum Schein war eine dünne Erdkruste aufgerichtet.

một lớp đất cứng mỏng đã được đắp lên chỉ để giữ gìn hiện vật. (LHB)

lớp đất mỏng đắp lên cho có vẻ thế thôi (XP)

8. in das [Loch] K., von einer sanften Strömung auf den Rücken gedreht, versankt. Während er aber unten, den Kopf im Genick noch aufgerichtet, schon von undurchdringlichen Tiefe aufgenommnen wurde, jagte oben sein Name mit mächtigen Zieraten über den Stein.



K. chìm xuống hố, lưng lướt nhẹ trên luồng không khí mềm mại. Và trong lúc anh đã sẵn sàng để chìm xuống độ sâu tàn nhẫn thì đầu anh vẫn cứ nghễnh lên khỏi cổ, tên anh chạy ngang qua phiến đá phía trên trong dòng chữ rực rỡ. (LHB)



một làn gió mềm mại đẩy K. ngã ngửa xuống đấy. Trong lúc bị cái hố sâu thăm thẳm nuốt chửng thì anh vẫn ngóc đầu lên, còn ở trên kia tên anh chạy trên tấm mộ bia thành một món trang trí khổng lồ. (XP)

Sau đây là bản dịch truyện ngắn này từ nguyên bản tiếng Đức và bản dịch của ông Lê Huy Bắc (từ tiếng ???)









Franz Kafka
Một giấc mơ
Xuân Phong dịch

Josef K. đã mơ thế này:

Hôm ấy trời đẹp và K. muốn đi dạo. Nhưng mới đi được có hai bước anh đã tới nghĩa trang rồi. Những lối đi ở đấy được xếp đặt quanh co, rất mực bất tiện, nhưng anh lướt trên một lối đi này như trên một dòng nước chảy xiết với tư thế bay bổng nhẹ nhàng, vững như bàn thạch. Ngay từ xa anh đã định sẽ dừng lại trước một ngôi mộ mới đắp. Ngôi mộ này như thu hút anh và anh nghĩ mình không thể nào đến đấy đủ nhanh được. Đôi lúc anh không trông thấy nó vì bị những lá cờ đung đưa, đập phần phật rất mạnh vào nhau che chắn mất tầm mắt; tuy không thấy những kẻ vác cờ nhưng xem chừng ở đó đang rất tưng bừng náo nhiệt.

Trong lúc vẫn nhìn về nơi xa, chợt đâu anh thấy ngôi mộ ấy đã kề sát, ngay bên đường, gần như anh đã vượt quá nó mất rồi. Anh vội nhẩy lên vạt cỏ, song vì con đường vẫn tiếp tục lướt nhanh phía dưới chân nên anh loạng choạng và ngã khuỵu gối ngay trước ngôi mộ nọ. Hai người đàn ông đang đứng sau mộ, giữ một tấm mộ bia lơ lửng trong không khí. K. vừa lộ diện thì họ dộng tấm bia xuống đất và nó liền đứng sừng sững như được trát vữa. Tức thì một người đàn ông thứ ba bước ra từ một bụi cây; K. nhận ra ngay đây là một nghệ sĩ. Y chỉ mặc quần dài với cái áo sơ mi cài xộc xệch, đội mũ nhung, tay cầm một cây bút chì bình thường; y nguệch ngoạc những hình thù gì đó trong không khí khi tiến lại gần.

Rồi y đặt cây bút chì này lên đầu phiến đá; tấm bia rất cao nên y không cần khom người, nhưng tất nhiên phải cúi tới trước, vì nấm mộ – mà y không muốn giẫm lên – ngăn y với phiến đá. Nghĩa là y nhón chân, tay trái tì lên mặt bia. Bằng một tuyệt kĩ y đã tạo được những chữ vàng với cây bút chì bình thường; y viết: „Nơi đây yên nghỉ …“, khắc sâu từng chữ sắc sảo, tuyệt đẹp bằng vàng ròng. Viết xong mấy từ này y ngoái nhìn K., còn K. nóng lòng muốn biết hàng chữ kia tiếp tục thế nào nên chẳng quan tâm gì đến y mà chỉ chú mục vào phiến đá. Quả nhiên người đàn ông nọ lại viết tiếp, nhưng không nổi, có gì đấy vướng mắc; y buông bút, ngoái nhìn K. lần nữa. Bấy giờ K. cũng nhìn nhà nghệ sĩ, thấy y cực kì bối rối mà không rõ nguyên do. Mọi vẻ sinh động mới đây của y biến đâu mất cả. K. cũng vì thế bối rối theo; họ nhìn nhau mà không biết phải làm gì; có một sự hiểu lầm đáng ghét mà không người nào gỡ được. Cái chuông nhỏ của nhà nguyện trong nghĩa trang lại còn gióng lên thật không đúng lúc, nhưng nhà nghệ sĩ vung mạnh tay và tiếng chuông liền im bặt. Một lát sau tiếng chuông lại gióng lên, lần này rất khẽ và chấm dứt ngay mà không đợi đòi hỏi, như thể nó chỉ muốn kiểm tra âm vang của mình. K. rất khổ tâm trước tình trạng của nhà nghệ sĩ, anh bật khóc, hai tay che mặt sụt sùi mãi. Nhà nghệ sĩ chờ cho K. bình tĩnh lại rồi quyết định vẫn cứ viết tiếp, vì y không biết nên làm gì khác hơn. Nét đầu tiên y vạch ra là cả một sự giải thoát cho K., nhưng xem ra nhà nghệ sĩ đã viết cái vạch kia cực kì miễn cưỡng; nét chữ không còn bay bướm nữa, nhất là có vẻ thiếu chất vàng, lê thê, nhạt nhẽo và không chắc tay, chỉ được cái là chữ rất to. Đấy là một chữ J, viết sắp xong thì nhà nghệ sĩ bực bội đạp một chân lên nấm mộ làm đất quanh đấy bay tung. Rút cục thì K. đã hiểu được y, nhưng để xin lỗi thì quá muộn; anh thọc hết các ngón tay xuống đất mà hầu như chẳng gặp một sức cản nào; mọi chuyện hình như đã được chuẩn bị sẵn cả rồi; lớp đất mỏng đắp lên cho có vẻ thế thôi; ngay dưới lớp đất kia toang hoác một cái hố to, vách gần như dốc đứng; một làn gió mềm mại đẩy K. ngã ngửa xuống đấy. Trong lúc bị cái hố sâu thăm thẳm nuốt chửng thì anh vẫn ngóc đầu lên, còn ở trên kia tên anh chạy trên tấm mộ bia thành một món trang trí khổng lồ.

Thích thú trước cảnh tượng này anh bừng tỉnh giấc.

Nguồn: „Ein Traum“ – Franz Kafka, Sämtliche Erzählungen, herausgegeben von Paul Raabe, Fischer Taschenbuch Verlag, Frankfurt a. M., 1994

Franz Kafka
Giấc mơ
Lê Huy Bắc dịch

Josef K. đang mơ.

Hôm ấy là một ngày đẹp trời và Josef K. cảm thấy thích đi dạo. Nhưng lúc đã đến nghĩa địa thì anh không thể nào đi nổi lấy vài bước nữa. Ở đó, các lối mòn rất ngoằn nghoèo, vừa thực lại vừa không thực, và anh đã trượt theo một trong số đó như thể lướt trên dòng nước chảy xiết với tư thế đĩnh đạc, thăng bằng, không run rẩy. Mãi tận đằng kia, một nấm mồ mới đắp đập vào mắt anh, anh muốn dừng lại bên cạnh. Nấm mồ ấy có sức quyến rũ lạ thường và anh cảm thấy mình không thể tiến nhanh đến đấy được. Thỉnh thoảng anh gần như không còn nhìn thấy do tầm nhìn của anh bị choán bởi những lá cờ cứ đột ngột đổi hướng và cứ vỗ phần phật vào nhau bằng một sức mạnh phi thường; người ta có thể nhìn thấy những kẻ cầm cờ và có vẻ nơi ấy đang diễn ra một buổi lễ cực kì vui nhộn.

Trong lúc vẫn đang nhìn về phía xa, bỗng nhiên anh lại thấy nấm mồ ngay bên cạnh con đường thay vì như thể anh đã bỏ xa nó lại phía sau. Anh vội vã nhảy lên vạt cỏ. Nhưng bởi vì con đường cứ tiếp tục lao đi dưới bàn chân đang di chuyển nên anh bị trượt và ngã khuỵu gối ngay trước nấm mồ. Hai người đàn ông đang đứng phía sau nấm mồ và giữ một tấm bia mộ lửng lơ trong không khí, giật mình bởi sự xuất hiện của K., họ dộng mạnh tấm bia xuống đất và nó đứng sừng sững như được gắn xi măng. Ngay lúc ấy, từ trong bụi cây, người đàn ông thứ ba xuất hiện; K. nhận ra ngay đấy là một nghệ sĩ. Ông ta chỉ vận một chiếc quần dài và một cái áo sơ mi cài cúc xộc xệch; trên đầu ông ta là cái mũ nhung; tay ông ta cầm một cây bút chì bình thường và vừa đi vừa vẽ những hình thù gì đó lên không trung.

Cầm cây bút ấy trong tay, ông ta hướng nỗ lực của bản thân vào đầu tấm bia mộ; phiến đá bia rất cao, ông không phải cúi xuống, mặc dù phải nghiêng người về phía trước bởi lẽ nấm mồ, mà ông vừa mới rụt chân về, đang chắn giữa ông và bia mộ. Thế là, ông nhón chân lên và giữ cơ thể thăng bằng bằng cách chống tay trái lên mặt bia. Với một kĩ năng xoay người rất đáng kinh ngạc, ông ta cố viết dòng chữ vàng bằng cây bút chì bình thường của mình; ông viết: Nơi đây an nghỉ – từng chữ một sắc sảo và tuyệt đẹp bằng vàng ròng in sâu xuống mặt đá. Khi khắc xong hai từ này, ông ta liếc qua vai nhìn K.; còn K., người nóng lòng muốn biết nốt dòng chữ ấy, không để ý gì đến người đàn ông mà chỉ chăm chăm nhìn tấm bia đá. Và thực tế là nghệ sĩ đã quay lại để viết tiếp, nhưng ông ta không thể, có cái gì đó đang ngăn cản ông ta, ông ta để cây bút xuống rồi quay nhìn K. thêm lần nữa. Lần này, K. nhìn lại ông ta và thấy rằng ông ta đang cực kì xấu hổ và không thể nào tự mình cắt nghĩa nổi. Tất cả sự hưng phấn ban đầu của ông ta đã biến đi đâu mất. Ðiều đó cũng khiến K. cảm thấy xấu hổ; họ trao cho nhau mấy cái nhìn cầu mong sự giúp đỡ; nhưng đã có một sự hiểu lầm kinh khủng xảy ra giữa họ mà cả hai đều không có khả năng giải quyết. Cái chuông nhỏ trong nhà nguyện ở nghĩa địa gióng lên không đúng lúc, nghệ sĩ đưa tay lên phác một dấu hiệu, tiếng chuông ngừng bặt. Nhưng chỉ lúc sau, nó lại ngân lên; lần này thì rất khẽ và không có vẻ gì là ương bướng, song lại dội vang lên đột ngột như thể bản thân nó đang tự kiểm tra giọng điệu của mình. K. cảm thấy khổ sở bởi vì tình huống khó xử của nghệ sĩ, anh bắt đầu oà khóc và thổn thức hồi lâu trong hai bàn tay khum lại, úp lên mặt. Nghệ sĩ đợi cho đến lúc K. bình tĩnh trở lại rồi quyết định – nhưng nó cũng chẳng ích gì – tiếp tục với việc khắc chữ. Cái dấu phẩy nhỏ đầu tiên ông ta đã làm, khiến K. nguôi ngoai, nhưng rõ ràng, thái độ của nghệ sĩ là cực kì miễn cưỡng khi làm điều đó; rồi chẳng mấy chốc cái công việc tẻ nhạt ấy cũng được kết thúc; ban đầu, cái hình thù ấy như thể một chiếc lá vàng bị khuyết hay một cái cọc hàng rào chưa dựng xong, rồi dần dần, dấu phẩy ấy kéo dài xuống chuyển thành một chữ rất lớn. Ðó là chữ J, và hầu như đã sắp hoàn thành; song ngay lúc đó, nghệ sĩ giận dữ giẫm một bàn chân lên nấm mồ mạnh đến nỗi đất cát dưới bàn chân ấy bay tung cả lên trời. Ðến khi ấy, K. mới hiểu ông ta nhưng bây giờ thì đã quá muộn để ngỏ lời xin lỗi; dùng tất cả mấy ngón tay, anh đào sâu xuống lòng đất đã tơi, không một tí trở ngại; mọi thứ dường như đã được chuẩn bị từ trước; một lớp đất cứng mỏng đã được đắp lên chỉ để gìn giữ hiện vật; ngay bên dưới nó, một cái hố mở ra, bờ hố thoai thoải, K. chìm xuống hố, lưng lướt nhẹ trên luồng không khí mềm mại. Và trong lúc anh đã sẵn sàng để chìm xuống độ sâu tàn nhẫn thì đầu anh vẫn cứ nghễnh lên khỏi cổ, tên anh chạy ngang qua phiến đá phía trên trong dòng chữ rực rỡ.

Hớn hở trước cảnh tượng ấy, anh thức giấc.

Nguồn: Tuyển tập Franz Kafka, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông-Tây, Hà Nội 2003

© 2004 talawas


Bài liên quan trên talawas:

Franz Kafka

Josephine, nữ ca sĩ hay Dân chuột, Phạm Thị Hoài dịch và giới thiệu, 03.7.2003

Primo Levi

Một sự hiếp đáp có tên là Franz Kafka, Jennifer Tran dịch, 23.6.2003

 
© talawas 2026