Lương Thư Trung
talawas là một trong những trang nhà hiện nay có nhiều bản văn dịch từ các bản văn gốc bằng đủ các thứ tiếng nào Nga, Ðức, Trung Hoa, Pháp, Anh, Mỹ… Ở địa chỉ này còn có tiết mục chuyên đề mang tên “dịch thuật”, thành ra, văn dịch ngày nay ít ra cũng được ban chủ biên talawas đặt lên một trong những đề mục quan trọng của một tờ báo văn học điện tử.
Không hiểu sao, tôi lại thích hai chữ “dịch thuật” hơn là “chuyển ngữ”, tương tự, tôi cũng thích hai chữ “thảo luận” hơn “tranh luận”. Có lẽ các từ ngữ “trích dịch”, “phỏng dịch”, “dịch thoát”, “dịch sát”, “dịch là phản dịch”, “dịch là diệt” … nghe đã quen tai rồi và khi áp dụng để chỉ các trường hợp riêng của mỗi câu cú hay nội dung của các đoạn văn dịch không ổn, các chữ quen ở trên dễ dùng hơn và nó không bị lẹo luởi khi phải nói “ trích chuyển ngữ”, “phỏng chuyển ngữ”, “chuyển ngữ thoát”, chuyển ngữ sát”, “phản chuyển ngữ”… Và có lẽ cũng không ai đi dùng những chữ lạ kỳ đời như vậy! Thành ra, trong bài viết ngắn này tôi khoái dùng chữ “bản dịch” hơn là “văn bản chuyển ngữ”.
Từ hồi còn đi học, cách nay có hơn nửa thế kỷ, một cuốn sách được Hà Mai Anh dịch mà học trò vườn chúng tôi hồi đó đứa nào cũng mê là cuốn Tâm hồn cao thượng. Mãi tới ngày nay, tóc đã bạc, lưng đã còng, mà sao tôi cứ mê những câu văn trong cuốn sách dịch của Hà Mai Anh:
“Mỗi buổi sáng, lúc con ra trường, con hãy nghĩ cùng giờ ấy, trong một thành phố ta có tới ba vạn đứa trẻ cũng như con đi vào lớp học trong ba tiếng đồng hồ để được mở mang trí tuệ. Con lại nghĩ, xấp xỉ giờ này, con trẻ trên hoàn cầu đều đi học cả. Con hãy tưởng tượng những đứa trẻ ấy lếch thếch trên những đường hẻm nhà quê, rảo bước trong các phố phường huyên náo, dưới bầu trời oi ả hay trong cơn mưa tuyết lạnh lùng; chúng đi thuyền ở những xứ lắm sông ngòi, cưỡi ngựa qua những cánh đồng mông quạnh. Chúng xuống lũng, lên đồi, chúng xuyên rừng lội suối, chúng vượt qua những ngọn đồi hẻo lánh hoang vu. Ăn mặc hàng nghìn lối khác nhau, nói bằng trăm thứ tiếng khác nhau, chúng đi một mình hay lũ năm lũ ba, sách cắp trong tay hay cặp đeo dưới nách.
Từ ngôi trường cùng tột lấp trong áng tuyết nước Gia-Nã-Ðại cho tới nóc trường hẻo lánh lẫn trom xóm gồi xứ Á-Rập, có tới hàng triệu triệu đứa trẻ học cùng một điều bằng những thể thức khác nhau.
Con lại tưởng tượng cái tổ kiến học sinh ấy gồm có hàng trăm dân tộc khác nhau và cái trường hoạt động ấy, con có cái hân hạnh dự phần, rồi con tự nhủ: ví phỏng một mai sự hoạt động ấy ngừng hẳn thì nhân loại sẽ trở lại đời man rợ, sẽ sa vào cõi tối tăm; sự hoạt động ấy là sự tiến bộ, là mối hy vọng, là áng vinh quang của thế giới vậy.” [1]
Và một đoạn khác :
“Con ơi! Phải kính yêu thầy giáo con; hãy yêu thầy vì cha yêu thầy và trọng thầy; hãy yêu thầy, vì thầy đã hy-sinh đời thầy để gây hạnh-phúc cho biết bao nhiêu đứa trẻ sẽ quên thầy…” [2]
Hai đoạn văn trên, chẳng những một mình tôi, mà ai đã từng đi học từ lúc còn nhỏ cũng đã say đắm ngâm nga khúc nhạc trữ tình ấy qua lá thư của người cha tâm sự cùng đứa con. Một bản dịch mà người đọc từ trẻ đến già thuộc nằm lòng như vậy, trong sách vở có được mấy quyển!?! Lúc bấy giờ, người đọc không còn bận tâm đi tìm bản gốc để mà truy tìm những lỗi về cách dùng chữ, lối hành văn, cách sắp xếp câu cú. Thành ra, theo tôi một bản văn dịch hay, hấp dẫn, tuyệt diệu là các dịch giả phải làm sao mang vào các dòng chữ dịch của mình cái hồn của tác giả gởi qua cuốn sách.
Nhân đọc trên talawas, chúng tôi cũng nhận ra nhiều ý kiến rất bổ ích giúp cho các nhà dịch thuật chỉnh đốn những chỗ sai sót trong các bản văn dịch của mình lại cho đúng và nhờ đó người đọc cũng được biết rõ ngọn ngành. Nhưng những lỗi như vậy không phải ngày nay mới có, mà dường như thời nào cũng có và dịch giả nào khi bắt đầu làm công việc dịch văn cũng ít nhiều vướng vào.
Các bạn thử mở lại các trang sách cũ, chúng ta sẽ thấy ngay các bậc tiền bối đi tiên phong trong việc dịch văn Tây như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Á Nam Trần Tuấn Khải và nhiều vị khác nữa cũng ít nhiều có vài sai sót. [3] Nhưng nếu không có các nhà tiền bối ấy khai mở cái kho báu vô tận của văn chương Tây phương, làm gì chúng ta biết được các bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine, thế giới tiểu thuyết của Alexandre Dumas, của Victor Hugo, của Balzac và nhiều nhà khác vào thời mà tiếng Tây ở nước Việt chưa rành rẽ cho lắm.
Mà nói gì đến văn Tây, ngay trong các bản dịch từ Hán văn ra, mà các bậc thức giả của mình cũng uyên bác về nền Hán học dữ lắm, mà khi dịch các tác phẩm văn chương của Trung Hoa cũng đâu có hoàn hảo cho lắm. Theo lời tựa của Phan Huy Ích trong bản Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc có viết rằng: “Lấy tiếng nước nhà diễn văn tự Trung Quốc thật hết sức khó khăn… Lấy tiếng Nam mà dịch văn Trung Quốc, nếu không xuyên tạc, tất quê mùa, cái thế bắt buộc phải vậy.” [4]
Chẳng hạn, trong một tuyển tập có tên Ðường Thi, dịch giả Trường Xuân Phạm Liễu đã phải dùng tới bốn câu để dịch hai câu thơ cuối trong bài thơ Xuân giang hoa nguyệt dạ của Trương Nhược Hư, quả là dịch thơ dù là thơ chữ Hán ra chữ Việt đâu có dễ:
“Bất tri thừa nguyệt kỉ nhân qui
Lạc nguyệt điều tình mãn giang thụ.”
đã được dịch giả dịch là :
“Quay bóng trăng có bao người lữ thứ
Quay gót về tìm lại chốn cố hương
Trăng đã rụng ngàn cây sông nước chảy
Tình mơ màng vẫn đầy ắp tình thương.” [5]
Qua hai câu thơ chữ Hán và bốn câu thơ dịch vừa dẫn, chẳng những dịch giả đã dùng quá nhiều chữ dư thừa mà vẫn không làm cho câu thơ dịch có thần hồn. Những chữ “quay bóng”, “quay gót”, “tình mơ màng”, “tình thương” thật là rườm rà, càng làm câu thơ thêm tối nghĩa. Trong khi ấy, “tình điều” trong các tự điển Hán Việt chỉ có nghĩa “tình chia ra nhiều mối như các nhánh cây”. Nói gì những câu thơ, ngay cái tựa bài thơ, dịch giả làm người đọc vẫn đọc không trôi: Xuân giang hoa nguyệt dạ được dịch là Ðêm trăng hoa sông xuân. Ðúng là dịch giả đã đọc tựa bài thơ theo cách đọc chữ Hán. Người đọc lơ- tơ-mơ chữ Hán như chúng tôi đành ngẩn ngơ giữa thơ chữ và thơ dịch.
Nói thế đâu phải tổ tiên chúng ta không có những bản dịch tài tình, bất hủ để lại cho con cháu đời sau. Chẳng hạn như Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị do Phan Huy Vịnh dịch, [6] từ trước đến nay có ai dịch hay hơn thế. Như ở hai câu mở đầu:
“Bến Tầm-Dương canh khuya đưa khách,
Quạnh hơi thu, lau-lách đìu-hiu…”
dịch từ hai câu :
“Tầm dương giang đầu dạ tống khách
Phong diệp địch hoa, thu sắt sắt …”
chữ “dạ”, Phan Huy Vịnh đã dịch là “canh khuya”, “thu sắt sắt” dịch là “quạnh hơi thu” nghe nó mê mẩn biết dường nào!
Ðể các bạn có dịp so sánh, cùng hai câu thơ ấy, một dịch giả “khuyết danh” đã dịch như sau:
“Bến Tầm Dương đêm chầy đưa khách
Gió kim phong hoa địch chồi bông…” [7]
Hoặc vả như chúng ta có dịp đọc lại Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ từ đời Lê do Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch, lời văn thanh thoát, rõ ràng, mạch lạc gần gũi biết mấy. Những áng văn dịch từ xa xưa như vậy, cả văn xuôi lẫn văn vần, bây giờ tìm hơi khó.
Nhân bàn qua về việc dịch sách, có lẽ dịch các tác phẩm văn học là khó hơn cả, mà nhất là dịch các tác phẩm cổ văn Việt Nam ra tiếng Tây, tiếng Anh lại càng rắc rối vô cùng. Có lẽ chính vì vậy mà thơ văn Việt Nam được các dịch giả dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh ít được người đọc để ý. Bởi một lẽ giản dị là thơ văn cỗ Việt Nam quá nhiều điển tích của Trung Hoa, trong khi những điển tích ấy người ngoại quốc ít biết hoặc có người biết nhưng mấy ai cảm được cái hồn của thi nhân Việt Nam mà hiểu được nỗi lòng cùng hoàn cảnh sáng tác.
Lấy thí dụ bản dịch Cung oán ngâm khúc của Ôn Như Hầu do Văn Hà Vũ Trung Lập dịch, chúng ta thấy có nhiều điển tích dịch giả thay vì phải để nguyên chữ gốc rồi bên dưới ghi chú thích bằng Anh ngữ là chữ đó trích từ đâu, theo tiếng Anh nghĩa là gì, thì dịch giả lại dịch ra cái nghĩa của điển tích ấy trong câu thơ dịch của mình. Làm như vậy vừa thoát mà cũng vừa mất luôn cái thuật dùng điển tích của cổ nhân. Chẳng hạn hai câu 31-32 trong Cung Oán:
“Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn
Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên đùng đùng.”
dịch giả dịch “bệnh Tề Tuyên” bằng chữ “their sexual” trong câu thơ dịch:
“They had only heard of my charm and not seen me,
Yet, their sexual desire had risen fiercely.” [8]
Tương tự, “giấc Nam Kha”, dịch giả lại dịch “the ephemeral dream”, điển Nam Kha biến mất. Và còn nhiều nữa, theo tôi. Gặp bản dịch thơ cổ như vậy tôi đành chịu.
Ở đây chúng tôi thấy đem thơ Việt mà dịch ra tiếng Tây, tiếng Mỹ cầm bằng đem muối bỏ biển. Biển thì bao la, muối mấy hột có thắm tháp gì. Mà mình cần gì phải giới thiệu cho ngoại quốc biết thơ văn của mình. Nếu họ muốn học hỏi, tìm tòi thì phải học chữ Việt trước đã rồi mới tìm hiểu thi phú văn chương. Ðó là chưa kể dịch giả lại hao hơi tốn sức quả là uổng phí. Chẳng hạn có ông Mỹ nào đã dịch thơ Hồ Xuân Hương câu “quân tử có thương thì đóng cọc” mà ông Nam Sơn có nêu lên trong bài viết Vui chút với chuyện dịch sách đăng trên talawas ngày 16-1-2003, quả là “vui chút với chuyện dịch sách” thiệt.
Ngôn ngữ của dân tộc nào chỉ để diễn đạt cái thần hồn của dân tộc ấy. Nếu kẹt quá mà phải mượn tiếng nước này dịch văn tiếng nước kia thì chỉ là mượn đỡ thôi, mà nhất là thơ ca, không phải chỉ rặt có chữ là chữ mà phần trọng yếu là cái hồn của nhà nghệ sĩ.
Dịch một tác phẩm đã khó mà tìm đọc những bản dịch hay lại càng khó vô cùng. Chính vì vậy mà tôi hay tự hỏi các dịch giả có biết người đọc văn dịch dù biết chữ hay dốt đi nữa đều là những người khó tính lắm không? Thượng tọa Tuệ Sỹ có lần dạy đại ý “đọc văn dịch giống như ăn cơm nhờ người ta nhai giùm.” [9] Nếu quả đúng như vậy, những người nhờ người ta nhai cơm quả là những người thường hay bị nhịn đói vì cái tính khó ấy.
Nói thế không có nghĩa là không có những bản dịch hấp dẫn trong kho tàng sách dịch của Việt Nam. Theo tác giả Nguyễn Văn Lục trong bài Một số nhận xét về sách dịch miền Nam trước 1975 của một người đọc đã đăng trên talawas ngày 30-9-2004 đã đưa ra con số tổng kết trong vòng 20 năm là 1543 cuốn sách được dịch với nhiều tác phẩm giá trị.
Nhớ có lần chúng tôi đã đọc được bộ Con đường đau khổ của A.N. Tolstoi (không nhớ tên người dịch), tôi đọc mê man, nhất là tập Hai chị em. Nhưng tìm đọc bộ sách của Dostoievky, bộ Anh em nhà Karamazov và bộ Sông Đông êm đềm (không nhớ tác giả và người dịch) thì lại dội. Và dĩ nhiên chúng tôi là thế hệ học trò lớn lên ở miền Nam, chịu ảnh hưởng các sách dịch của Nguyễn Hiến Lê về các đề tài trong tủ sách Học Làm Người, các bản dịch về văn minh Trung Quốc, về Chiến quốc sách, Sử ký Tư Mã Thiên, và nhiều sách dịch khác. So với các bản dịch trên, Kiếp người của William Somerset Maugham, Chiếc cầu trên sông Drina của Ivo Andritch (giải Nobel 1961) cũng do Nguyễn Hiến Lê dịch thì lại khô hơn. Có lẽ văn học Trung Hoa gần với Việt Nam hơn nên đọc văn dịch của Nguyễn Hiến Lê về các tác phẩm Trung Hoa như đọc văn học của Việt Nam, vừa gần gũi vừa hấp dẫn. Sở dĩ chúng tôi thích các sách dịch của Nguyễn Hiến Lê cũng như vài bộ sách dịch khác, trong đó có Con đường đau khổ của A.N.Tolstoi vì nó hợp với mình, nó vừa là thầy vừa là bạn của mình, giống như nhận xét mới đây của nhà văn Trần Hoài Thư, một cái nhìn rất hợp với lớp người đọc già như chúng tôi: “Người đọc không là người thưởng ngoạn. Họ tìm đến tác phẩm, có lẽ, vì tác phẩm là một người bạn rất thân thiết hiểu rõ nỗi lòng của mình.” [10]
Chúng tôi cũng không nghĩ các dịch giả thường lựa tác phẩm giá trị của các văn hào tên tuổi để dịch là “dựa hơi” cái uy tín của các nhà ấy. Chẳng qua, người đọc cũng nên thông cảm là người ta bỏ công ra tìm kiếm sưu tầm biết bao chất liệu để dồn vô công trình một bản dịch, chẳng lẽ lại đi dịch những tin tức “xe cán chó” thì quá uổng phí. Nếu không dịch thì thôi, nhưng đã có ý dịch rồi thì phải chọn tác phẩm mình thích để dịch. Có thích, mới say đắm. Có say đắm mới toát cái hồn vào những trang văn dịch. Dịch sách, cách nào đó là dịch cho chính người dịch trước nhất, rồi sau mới tới người đọc. Nếu không theo chiều kim đồng hồ ấy, chắc chắn những bản dịch sẽ không có hồn và khó mà hấp dẫn người khác.
Nhưng có điều, nếu tác phẩm nào mà đã có người dịch rồi và gây tiếng vang rồi, các dịch giả nhanh trí có lẽ không ai đời lại đi bỏ công dịch lại cuốn sách ấy, ngoại trừ dịch là để học thêm. Giữa Người Trung Quốc xấu xí của Bá Dương do Nguyễn Hồi Thủ dịch và Người Trung Quốc xấu xa [11] do Nữ Lang Trung dịch, người đọc nào đã đọc của Nguyễn Hồi Thủ rồi khó mà đọc hết bản dịch của Nữ Lang Trung. Giống như không ai lại đi hát bản Chiếc lá cuối cùng của Tuấn Khanh sau khi đã được nghe Lệ Thu hát xuất thần. Tương tự, chẳng có dịch giả nào có can đảm ngồi dịch lại Chiến tranh và hòa bình của Tolstoi sau khi Nguyễn Hiến Lê đã dịch. Và cũng theo tác giả Nguyễn Văn Lục trong bài viết đã dẫn, [12] với 1543 cuốn sách được dịch trước 1975 ở miền Nam, chúng ta chỉ thấy có hai trường hợp một quyển sách được dịch hai lần, đó là quyển Buồn ơi chào mi của F. Sagan do Nguyễn Vỹ dịch, sau Lê Huy Oanh dịch lại với tựa Buồn ơi, xin chào. Quyển thứ hai, Doctor Zhivago của Boris Leonidovich Pasternak (1890-1960), do Nguyễn Hữu Hiệu dịch với tựa Vĩnh biệt tình em, bản dịch thứ hai lấy tên nguyên tác là Bác sĩ Zhivago do Văn Tự và Mậu Hải dịch. Hai cuốn trong số 1543 cuốn, với một tỉ lệ 2/1543 quả là quá bé nhỏ.
Có điều này cũng xin ghi nhận ra đây để trình cùng chư vị cao minh là người có bằng cấp cao thì bảo đảm kiến thức họ học được, nhưng trong lãnh vực văn chương học thuật, người có bằng cấp cao chưa chắc đã dịch sách hay hơn người biết khá về một ngoại ngữ nào đó và có tâm hồn. Trong bản dịch cuốn Lược sử Phật Giáo Nhật Bản của Shinsho Hanayama do Ðại Ðức Thích Minh Thành dịch, nhà xuất bản Thành phố HCM phát hành, [13] không biết có phải để gây cho người đọc thêm tin tưởng bản dịch này là đúng nhất, giá trị nhất không mà dịch giả lại ghi thêm ngoài bìa pháp danh và bằng cấp của mình: “Tiến sĩ Thích Minh Thành.” Ngoài ra, trong lời giới thiệu bản dịch, một vị Hòa Thượng lại còn ghi thêm bằng tiến sĩ sau mấy lời giới thiệu cho bản dịch: “HT Tiến Sĩ Thích Trí Quảng.” Là Phật tử, chúng tôi luôn luôn kính ngưỡng các bậc cao tăng, các hàng giáo phẩm nhưng không khỏi áy náy và lo nếu Phan Khôi còn sống chắc tiên sinh sẽ phải viết lại bài cách gọi tên cho trúng các văn nhân, dịch giả. [14]
Văn dịch thời nào cũng cần. Nó góp phần nuôi dưỡng tâm trí con người. Nhiều bậc cao minh thường than rằng Việt Nam mình còn thiếu sách dịch nhiều lắm. Chúng tôi là người đọc không thấu đáo nhiều nên cũng nghe theo như vậy và hằng ước mong có nhiều bậc cao minh dâng tặng cho đời thêm nhiều sách dịch giá trị. Nhưng đôi lúc chúng tôi thấy số người đọc sách dịch ngày càng hiếm hoi; mà nói gì sách dịch, ngay như các tác phẩm sáng tác bằng tiếng Việt ngày càng tìm ra người đọc cũng đâu có dễ. Gặp bất cứ ông bạn già nào tôi hay đặt câu hỏi: “Ở nhà, thường thường anh thích đọc loại sách nào?” Dường như hầu hết các câu trả lời chung một mẫu in sẵn: “Tui đọc báo, thời buổi này đâu có thì giờ đọc sách.” Bây giờ người ta không đọc sách, mà nếu có đọc thì chỉ đọc báo biếu thôi, thành ra thắp đuốc tìm trong xóm vài ba người còn đọc sách tiếng Việt mừng như gặp bạn lâu ngày! Cuối cùng chẳng biết trách ai? Trách tác giả hay dịch giả? Trách người hay ta lại trách ta?
Tháng 10. 2004
© 2004 talawas
[1]Trích quyển
Tâm hồn cao thượng, trang 22, tựa
Học đường, tái bản lần thứ 11. Bản tôi đang có rất tiếc không có ghi tên nhà in, nhà xuất bản, tên tác giả và dịch giả, năm tái bản mà chỉ ghi vỏn vẹn “Sách Giáo Dục Mới”, quả là một việc làm của các người in và phát hành sách quá vô trách nhiệm. Vì thế, theo trí nhớ, khi đọc đoạn văn trên, chúng thấy hơi ngờ ngợ. Kính mong quý vị cao minh có bản gốc chỉ cho. Xin chân thành đa tạ.
[2]Sđd, trang 61.
[3]Nhà văn hiện đại, Tập 1, của Vũ Ngọc Phan, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội (Hà Nội) tái bản, năm 1989.
[4]Trích lời tựa của Phan Huy Ích trong
Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc do Nguyễn Văn Xuân sưu tầm và biên soạn, nhà Lá Bối xuất bản, Sài Gòn, năm 1972.
[5]Trích
Ðường Thi của Trường Xuân Phạm Liễu, trang 101, nhà Sống Mới (Hoa Kỳ) tái bản.
[6]Thành-ngữ điển-tích danh-nhân từ-điển, tập 2, của giáo sư Trịnh Vân Thanh, nhà xuất bản Hồn Thiêng (Sài Gòn), năm 1966, nhà Ðại Nam(Hoa Kỳ) tái bản, trang 986.
[7]Sđd, trang 988.
[8]Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ do Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch, Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản.
[9]The Complaints of an Odalisque, bản dịch
Cung Oán Ngâm Khúc của dịch giả Văn Hà Vũ Trung Lập, Việt Tiến (Sài Gòn) xuất bản tháng 7 năm 1967. Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản.
[10]Bài „Lựa lại nội dung“ của Trần Hoài Thư, talawas, ngày 29-2004.
[11]Người Trung Quốc Xấu Xa của Bá Dương, do Nữ Lang Trung dịch đã đăng nhiều kỳ trên talawas từ ngày 5 tháng 01-2003.
[12]Bài của Nguyễn Văn Lục trên talawas ngày 30-2004 đã dẫn.
[13]Lược sử Phật Giáo Nhật Bản của Shinsho Hanayama do Tiến sĩ Thích Minh Thành dịch, nhà xuất bản Thành phố HCM (2001).
[14]Xem bài “Ðính chánh lại cách xưng tên của người Việt Nam” của Phan Khôi trong bộ
13 năm tranh luận văn học, tập II, trang 518, của Giáo sư Thanh Lãng, do Văn Học xuất bản, 1995.