trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
1.3.2004
Trần Lai Khê
Vài ý kiến về so sánh triết học Kant với Phật giáo
 

Chị Thái Kim Lan đã trình bày nét tương đồng giữa Kant và Phật khi liên hệ đến khái niệm Khai sáng. Nay tôi xin trình bày nét dị biệt giữa hai triết gia vì những dị biệt này rất quan trọng. Tôi xin nói ngay tuy có thể thừa là tôi mong đợi lời phê bình của mọi người, nhất là cuả chị Thái Kim Lan.

Điều khác biệt đầu tiên là trong khi Khai sáng là phong trào bắt đầu từ giới trí thức ở khắp các nước Âu Châu đòi hỏi quyền tự do tư tưởng chống lại uy quyền của giáo hội và giai cấp thống trị, nghĩa là đòi hỏi mở rộng dân chủ, Phật không mấy quan tâm đến chính trị. Nếu Thái tử Tất Đạt Đa coi trọng chính trị ngài đã không bỏ nhà xuất gia.

Điều thứ hai, mặc dù Kant và Phật cùng chủ trương độc lập nương tựa vào chính mình, hai bên tin vào những sức mạnh khác nhau. Kant tin vào trí năng, Phật tin vào thiền định; thiền định chỉ có thể xuất hiện với bất động cuả trí năng. Giác ngộ là kinh nghiệm tan biến ý thức cá nhân, hòa tan cái tôi bé nhỏ vào vũ trụ vô cùng. Kant trái lại nhấn mạnh đến giới hạn của trí năng và chỉ ra những tuyên bố sai lầm của siêu hình học. Kant chỉ ra trí năng con người chỉ nhận thức được thế giới tương đối từ kinh nghiệm do giác quan mang lại. Theo Kant con người không có khả năng biết được thế giới tuyệt đối, nghĩa là thế giới tâm linh theo Phật giáo.

Điều thứ ba, trong khi Phật giáo chủ trương hòa nhập vào tự nhiên Kant chủ trương thống trị tự nhiên vì lợi ích của con người bằng con đường phát triển trí năng. Nhóm trí thức Phật giáo như Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, thuộc viện Đại học Vạn Hạnh ở miền Nam trước năm 1975, đã ca tụng hai triết gia Đức Nietzsche và Heidegger lên chín từng mây vì hai ông này kịch liệt chống trí năng rất phù hợp với lập trường Phật giáo.

Trong việc xây dựng lại một nền đạo đức mới cho dân Việt, tôi nghĩ quan niệm ” Phật tính có sẵn trong mỗi người” là thuận lợi cho việc giáo dục nguyên tắc bình đẳng. Tuy nhiên quan điểm chống trí năng lại là một trở ngại.

Kant thú nhận cảm hứng cho công trình suy tư của ông bắt nguồn từ ý thức về vũ trụ bên ngoài qui luật đạo đức bên trong. Ông viết trong phần cuối tác phẩm “Phê Bình Trí Năng Thực Tiễn” (Critique of Practical Reason, 1788) “Có hai hiện tượng mà càng suy nghĩ chúng ta càng cảm thấy thán phục và khiếp sợ: bầu trời đầy sao trên đầu và qui luật đạo đức trong lòng.” [1]

Kant để lại cho chúng ta quan niệm đạo đức nhấn mạnh vào vai trò động lực thúc đẩy hành vi đạo đức trong việc phán xét đúng sai, qui luật đạo đức và quan trọng nhất là lời nhắn nhủ KHÔNG BAO GIỜ ĐỐI XỬ NGƯỜI KHÁC NHƯ LÀ PHƯƠNG TIỆN.

Trong truyện Tây Du Ký bốn nhân vật chính tượng trưng cho bốn thành tố của một con người toàn hảo: Tôn Ngộ Không tượng trưng lý trí, Trư Bát Giới tương trưng bản năng, Sa Tăng tượng trưng tình cảm, Tam Tạng tượng trưng lý tưởng và đạo đức. Nếu sắp xếp toàn thể dân Việt theo bốn tiêu chuẩn đạo đức, lý trí, bản năng và tình cảm thì có lẽ hiện nay những người theo Tam Tạng là ít nhất. Nếu phải đưa ra mẫu người lý tưởng cho thế hệ trẻ tôi đề nghị con người hợp nhất của Tam Tạng và Tôn Ngộ Không. Con người đạo đức của Tam Tạng sẽ không làm được gì nếu thiếu trí năng của Tôn Ngô Không. Bi kịch giáo dục của nước ta hiện nay là chỉ chú trọng đến đào tạo ra những Tôn Ngộ Không mà quên đi vai trò quan trọng của Tam Tạng, vì chỉ có Tam Tạng mới cho ta giá trị của kiếp người.



© 2004 talawas


[1]Chú thích của talawas: Nguyên văn tiếng Đức: “Zwei Dinge erfüllen das Gemüt mit immer neuer und zunehmender Bewunderung und Erfurcht, je öfter und anhaltender sich das Nachdenken damit beschäftigt: der bestirnte Himmel über mir und das moralische Gesetzt in mir…” (Kritik der praktischen Vernunft, in: Immanuel Kants Werke, hg. von Ernst Cassirer, Berlin 1912, S. 174)

 
© talawas 2026