Từ khi Việt Nam
bung ra nền kinh tế thị trường cũng là lúc các gallery nghệ thuật bắt đầu mọc
lên như nấm sau mưa, đua chen lấn lướt ra mặt đường bên cạnh các cửa hàng tơ
tằm, sơn mài, thổ cẩm, mỹ nghệ, thời trang cao cấp đủ loại… Các cửa hàng này
chủ yếu nhằm vào phục vụ khách du lịch ngoại quốc, cung cấp các loại hàng lưu
niệm, quà cáp mới lạ, dễ thương, hấp dẫn mang sắc thái bản địa, và cái chính
nữa là khá rẻ tiền. Còn đối với đại bộ phận dân chúng trong nước, những người
đang lo "cơm áo gạo tiền" hàng ngày, thì các mặt hàng trên có vẻ như
quá xa xỉ, chả mấy thiết thực không nằm trong nhu cầu thiết yếu của họ. Mà trong
số đó, tranh nghệ thuật dường như là thứ đồ xa xỉ nhất. Mấy ai dám bỏ một số
tiền lớn ra mua tranh về treo chơi? Những gia đình khá giả, thuộc loại trên
trung lưu và có văn hóa ở Hà Nội cũng không dám mơ làm việc này. Có biết bao
nhiêu việc con người phải lo toan, phấn đấu cho một cuộc sống, một gia đình mà
toàn những việc quan trọng, ví dụ: nâng cấp sửa chữa nhà cửa, cho con ra ở
riêng, hy vọng cho một đứa du học nước ngoài, dành tiền cho một chuyến du lịch
sau khi về hưu hoặc ít ra cũng có một ít tiền phòng khi tuổi già ốm đau phải
vào bệnh viện… Thậm chí có người còn tự lo trước đám tang của mình chỉ vì không
muốn dựa dẫm làm khổ đến con cháu sau này. Và còn biết bao nỗi lo khác của
người Việt Nam vốn quen khổ, quen lo từ ngàn đời ngàn kiếp. Người giàu cũng vẫn
lo kiểu người giàu. Cái sự giàu mới phất, giàu qua một vài năm, vài vụ làm ăn
kinh doanh bất chợt, giàu không có gì đảm bảo chắc chắn ổn định. Cái sự giàu ở
Việt Nam lại càng chẳng có gì liên quan
tới văn hóa nghệ thuật, vì vốn tiền tệ hầu như không đi đôi với vốn văn hóa.
Những người có nhiều tiền chắc gì thích hưởng thụ nghệ thuật. Nói như vậy,
gallery chắc chắn đến 90% dành cho người nước ngoài. Thực chất có gallery thuộc
loại "xịn" ở Hà Nội đã từ chối thẳng thừng không tiếp các loại khách
vãng lai Việt Nam vào xem tranh vì biết
rằng hạng người này chỉ xem chơi chứ không thể mua bán gì cả.
Các gallery
"xịn" thường có nội thất lung linh sang trọng, ngạo nghễ như một
khách sạn 5 sao, tất yếu máy lạnh và cửa ra vào tự động khép mở. Họ có nhiều
tranh to, treo vừa phải, thoáng đãng trong các khung cầu kỳ, diêm dúa, đắt
tiền. Tiền khung có thể lên tới 100 – 200 đô là chuyện bình thường. Tranh có sự
lựa chọn nhất định, phần lớn là của tên tuổi các hoạ sĩ đang "ăn
khách". Các cô bán hàng ở đây mặc áo dài đi lại như người mẫu, niềm nở tận
tình phục vụ khách. Các gallery bình dân thì treo tranh tùy tiện, lộn xộn hơn.
Có khi treo kín tường, từ mặt đất lên tới trần nhà. Tranh có đủ loại, từ sơn
dầu, sơn mài đến lụa, giấy dó, từ tranh to đến tranh nhỏ, từ tranh treo tường
đến tranh bưu thiếp cỡ bằng phong bì bàn tay. Cái gì có người mua khắc có người
bán. Ðó là chuyện cung cầu tự nhiên, nguyên lý đơn giản của nền kinh tế thị
trường. Chỉ có điều ở đây bên cung là các hoạ sĩ Việt Nam thông qua gallery,
bên cầu – 90% lại là khách nước ngoài. Muốn cho việc kinh doanh thuận lợi, bên
cung và bên cầu phải có được mặt hàng bên cầu ưa thích, phải chiều theo tâm lý
họ.
Sự xuất hiện ồ ạt
của các gallery thời mở cửa không thể không khiến cho những người quan tâm tới
nghệ thuật nhận thấy rằng trong vòng 15 năm đổi mới tới nay, Việt Nam đã nhanh
chóng trở thành nơi sản xuất và "xuất khẩu" mỹ thuật ra nước ngoài
(lời của hoạ sĩ – nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Quân). Và đáng buồn hơn là loại
tranh "gallery" có mặt nhan nhản, áp đảo trên thị trường đã và đang
tầm thường hóa một phần không nhỏ mỹ thuật Việt Nam xuống thành hàng mỹ nghệ.
Tôi dùng chữ
tranh "gallery" là để chỉ những
tranh người ta chuyên bày bán dửng dưng ở các gallery. Người gửi cũng
như người bán không mảy may xót xa thương tiếc, không lưu luyến chút tình, mà
ngược lại, chỉ mong như càng bán được nhanh càng tốt, càng li dị sớm càng hay.
Loại tranh này hầu như không vẽ cho mình mà vẽ cho người, vẽ để bán là chính.
Người vẽ quay vòng thử nghiệm, thay đổi mẫu mã, sản xuất rất nhanh, ít có sự
đầu tư tình cảm và chiều sâu tư duy trong đó.
Tranh
"gallery" có đủ loại: tranh làng mạc, đồng dao, ngây thơ, hoài cổ,
tâm linh, tín ngưỡng, trừu tượng, nhục cảm… thứ gì cũng có, những hình ảnh ly
kỳ lạ mắt của phương Ðông mà có thể gây tò mò thích thú ở các vị khách phương
Tây khoa học công nghiệp. Ngay cả nếu cần bổ sung vài chữ Trung Quốc cho thêm
phần ly kỳ Á Ðông, người ta cũng sẵn sàng vẽ phỏng lên tranh thứ chữ đó, mặc dù
cả người vẽ lẫn người mua chắc gì đã đọc được loại chữ này. Và còn rất nhiều ví
dụ tương tự khác về tranh "gallery". Các biểu tượng, mô típ, ký hiệu
có vẻ đặc trưng của dân tộc như: trâu bò, thôn nữ, yếm đào, nón áo tứ thân, hoa
sen, lá chuối, tay phật, cờ phướn, quạt nan, đèn dầu, sư sãi, lồng chim, tiền
cổ, đồ cổ tứ tung… cứ thế quay cuồng mệt mỏi, đảo chiều ngang dọc, lặp đi lặp
lại, xoay xoả ngược xuôi trong bố cục cũ cũ mới mới, mới mà vẫn cũ. Tất cả lẫn
lộn, chiết trung về mô típ, bút pháp và kiểu cách, nhưng hầu như không nằm
ngoài khu vực thẩm mỹ tạm được khoanh vùng mờ mịt là có thể bán được.
Nhưng buồn hơn
nữa là các loại tranh công khai bắt chước, theo vết những hoạ sĩ thắng lợi trên
thị trường. Có rất nhiều tranh phỏng theo Thanh Sơn, Phạm Luận, Ðào Hải
Phong…với những tên ký hoàn toàn mới lạ, nhưng cách vẽ còn ngây ngô vụng về,
kém xa sự nhuẫn nhuyễn tinh tế về bút pháp và màu sắc. Những tranh chiết trung
mơ màng giữa Hồng Việt Dũng với Nguyễn Thanh Bình, một chút hoài cổ kiểu Bùi
Hữu Hùng, một chút dân tộc – cổ điển kiểu Ðỗ Quang Em, những trích đoạn vô tội
vạ từ Lê Thiết Cương, Thành Chương cho tới Ðặng Xuân Hoà, Ðinh Ý Nhi, Minh
Thành…có đủ cả và nhiều vô kể. Kết quả của sự chắp vá luyên thuyên này thường
tạo ra những bức tranh vu vơ, vô nghĩa, giả tạo về tình cảm và hời hợt về hình
thức. Ðó là các nét chính của loại tranh "gallery". Ðấy là chưa kể
đến chuyện thị trường còn thao túng người ta chép tranh, làm tranh giả, tất cả
đều vì đồng tiền. Nạn bê bối tranh giả đã và đang làm cho công chúng yêu nghệ
thuật cảm thấy đau buồn thất vọng, nếu không muốn nói là ê chề nhục nhã, và làm
cho mỹ thuật Việt Nam đang đứng trước nguy cơ mất đi uy tín quốc tế. Trên thị
trường đã có tranh giả của các danh họa từ thế hệ đầu như Bùi Xuân Phái, Nguyễn
Tư Nghiêm cho đến tranh giả của các hoạ sĩ trẻ hiện nay như Thanh Sơn, Phạm
Luận, Hồng Việt Dũng… Nghe nói tranh của Lê Quảng Hà, Phạm Viết Hồng Lam.. cũng
từng có lúc bị bắt chước. Sự ngờ vực thì rất nhiều. Hiện tượng làm tranh giả và
bắt chước này lan tràn trong Nam lẫn ngoài Bắc, không biết nơi nào nhiều hơn
nơi nào, không có cách nào để ngăn chặn lại ngoài việc kêu gọi, thức tỉnh lương
tâm con người. Các hoạ sĩ bị làm tranh giả đều buồn phẫn uất. Vài người tìm
cách tự bảo vệ bằng các kiểu đánh dấu tranh riêng cho mình. Những người khác bó
tay bất lực. Hồng Việt Dũng, Phạm Luận thì lâu nay đã từ chối bày tranh ở
gallery.
Tệ hại hơn, một
số gallery vì sự cạnh tranh và kiếm lợi nhuận còn âm thầm nuôi dưỡng hoặc thuê
hoạ sĩ trẻ bắt chước lối vẽ của các hoạ sĩ "ăn khách", chỉ đạo họ
theo phong cách nọ kia để phá vỡ sự độc quyền về hoạ sĩ của các gallery khác.
Mỗi lần đi dạo
gallery đều thấy có thêm nhiều tên tuổi mới vẽ loại tranh "gallery".
Những người vẽ trẻ này chưa từng triển lãm, chưa từng vẽ tranh cho mình mà đã
vào cuộc với gallery. Một số người bán hàng thật thà kể chuyện: "Các tác
giả này trẻ lắm, toàn mới ra trường, có người còn đang là sinh viên…" Vì
mục đích kiếm sống, những người này đã "khôn hơn ngoan", quan sát thị
trường, tìm hiểu kỹ cung cầu, rồi liều thân sản xuất những mặt hàng thời thượng,
theo mốt, hy vọng bán được tiền. Họ không ngờ rằng đã đánh mất mình ngay từ khi
mới bước vào nghề, đánh mất niềm vui sáng tạo lẫn hạnh phúc có thể trở thành
một họa sĩ thực thụ, đánh mất nhân cách để mãi mãi chỉ là thợ vẽ hạng tầm tầm,
ăn theo, vẽ leo không tên tuổi.
Công bằng mà nói,
trong số tranh gửi ở các gallery cũng có những tranh vẽ nghiêm túc, chân thành,
vì mình hơn là vì khách, vì nghệ thuật hơn là vì thương mại. Nhưng con số này
không nhiều, có khi là quá ít nên bị lấn át trong số hàng gallery tạp nham kể
trên. Còn những người quản lý gallery đa phần không biết phân biệt tranh đích
thực hay tầm phào, đẹp hay dở, mà đối với họ quan trọng chỉ là việc dễ bán hay
khó bán.
Cuối cùng cần
phải nói thêm cả về những bức tranh "ăn khách" của những hoạ sĩ số
một của gallery. Những hoạ sĩ này có công đi đầu trong một số phong cách, bút
pháp cá nhân, may mắn được thị trường ưa chuộng. Nhưng sau một thời gian dài
làm việc với sự thúc bách của thị trường, sự trói buộc bằng hợp đồng với
gallery, rất ít người có đủ bản lĩnh và tiềm năng đặc biệt để duy trì được năng
lực sáng tạo, mà phần lớn trở nên mệt mỏi, quay vòng lặp lại chính mình. Tình
cảm bị bào mòn. Tranh của họ không còn mới lạ, bất ngờ, không còn vẻ hứng khởi
ban đầu của sáng tạo, có cái gì đó trở nên sáo rỗng, tẻ nhạt hơn đằng sau những
mô típ quen thuộc, những lớp màu vẫn hài hoà bắt mắt và một sự thạo tay tinh tế
của nghề nghiệp. Một số họa sĩ dường như chững lại rơi vào bế tắc tạm thời. Có
ngưòi sa sút và phá sản hoàn toàn sự nghiệp sáng tác, chấp nhận thôi thì vẽ tranh
"gallery", vẽ ẩu để kiếm ăn.
Dư luận nói rằng
người vẽ ở Việt Nam bây giờ giỏi lắm, có thể vẽ nhiều loại tranh: tranh để bán,
tranh treo theo đề tài triển lãm – dự thi, tranh để dành riêng cho mình. Nếu
đúng vậy thì ở mỗi loại tranh có bao nhiêu phần trăm sự chân thành của tác giả?
Và nếu thiếu độ chân thành thì đâu là nghệ thuật? Bởi vậy, làm sao có thể làm
xiếc nhiều trong nghệ thuật đến vậy. Nghệ thuật nào nửa vời chỉ có thể qua mắt
thiên hạ một lần hay vài lần, chỉ có thể thành công nhỏ nhoi, tạm bợ với những
giá trị tức thời, chứ không thể đi xa và tồn tại mãi mãi trong lòng nhân loại
và lịch sử. Thời gian và lịch sử có sự sàng lọc riêng tinh tường và chính xác
của nó. Nghệ thuật đích thực cần ở người nghệ sĩ không chỉ tài năng, trí tuệ mà
cả sự hi sinh đến cùng về nghề nghiệp và một cuộc sống đôi khi là nghiệt ngã,
bi kịch để vì nó mà nghệ sĩ thăng hoa trong nghệ thuật. Mọi sự phù phiếm nửa
vời đều chẳng đi tới đâu, chẳng làm nên tích sự gì.
Trong nền kinh tế
thị trường, ai cũng biết hoạt động của gallery là rất cần thiết nhằm giúp hoạ
sĩ triển lãm, giao lưu, quảng bá nghệ thuật của mình. Gallery còn là trung gian
về kinh tế giúp họa sĩ yên tâm sáng tác. Song sự hữu ích này chỉ có được ở các
gallery hoạt động đúng cách, đúng hướng, đúng lương tâm và thực sự tâm huyết
với nghệ thuật. Ðáng tiếc, số gallery đó ở Việt Nam rất ít. Trong khi đại bộ
phận các gallery khác hoạt động tùy tiện, lộn xộn, phức tạp, thiếu chuyên
nghiệp. Về phía nhà nước còn chưa ban hành luật pháp chế tài cụ thể và một hành
lang pháp lý riêng cho lĩnh vực quản lý kinh doanh nghệ thuật, nên đã để xảy ra
những hiện tượng tiêu cực kể trên. Gallery hiện nay đang là một thách thức lớn
đối với nhiều hoạ sĩ trẻ Việt Nam. Nếu không cảnh giác, biết giữ gìn khoảng
cách và tỉnh táo khi tiếp xúc với nó thì rất dễ sa ngã. Ngược lại, gallery cũng
sẽ không có lỗi gì cả nếu không có sự thoả hiệp, toan tính vụ lợi của các hoạ
sĩ.
Con đường nghệ
thuật là con đường gian truân, khổ ải, không dành cho số đông. Trên con đường
này không thể đi ngang về tắt, đốt cháy giai đoạn, càng không thể ăn sổi ở thì.
Người ta chỉ có thể thành công ở tài năng, ý chí và một nhu cầu lao động nghệ
thuật say sưa, tự nhiên, không vụ lợi. Ðiều này bắt đầu giản dị ở sự vẽ ở mình,
vì mình, nương tựa nơi chính mình.
Nghệ thuật Việt
Nam sẽ lớn hay nhỏ, hay mãi mãi là thứ mỹ nghệ vặt vãnh? Ðó vẫn là câu hỏi day
dứt để mở đối với tất cả chúng ta hôm nay,
những người quan tâm và tự nguyện gắn bó đời mình với nghệ thuật.
© 2003 talawas