trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
13.5.2004
Nguyễn Thục Nhi
Vài suy nghĩ quanh một định đề
 

Mới đây, GS Tương Lai – một trong những nhà khoa học hiếm hoi ở ta thường có ý kiến sắc sảo – đã viết trên một tờ báo của TP Hồ Chí Minh rằng chúng ta phải làm sao để “Người được làm việc, làm việc được. Người làm việc được, được làm việc“. Hoàn toàn có thể coi đây là một định đề chứ không chỉ đơn thuần là một nguyên tắc trong sử dụng người. Khi coi câu trên là một định đề có nghĩa là chúng ta thừa nhận tính đúng đắn hiển nhiên của nó và có thể sử dụng như là xuất phát điểm trong hệ thống lý luận về sử dụng nguồn nhân lực. Ðây là một định đề đơn giản, đẹp và quan trọng hơn cả: nó có tính khái quát cao. Từ định đề có tính khái quát này chúng ta có thể diễn dịch cho các trường hợp cụ thể (điều này GS Tương Lai cũng đã có đề cập sơ lược) mà chỉ cần thay hai chữ “làm việc” bằng nhiều động từ chỉ hoạt động ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể lấy vài ví dụ minh họa.

  • Người được dạy, dạy được. Người dạy được, được dạy.
  • Người được nghiên cứu, nghiên cứu được. Người nghiên cứu được, được nghiên cứu
  • Người được viết báo, viết báo được. Người viết báo được, được viết báo.
  • Người được làm đạo diễn, đạo diễn được. Người đạo diễn được, được làm đạo diễn
  • Người được lãnh đạo, lãnh đạo được. Người lãnh đạo được, được lãnh đạo.
  • Người được hoạch định chính sách, hoạch định được. Người hoạch định được chính sách, được hoạch định.
  • Người được phát biểu, phát biểu được. Người phát biểu được, được phát biểu.
  • Người có quyền chất vấn, chất vấn được. Người chất vấn được, được chất vấn.

Một lần nữa xin khẳng định rằng tính khái quát của định đề này thật đáng nể. Nó trùm phủ rất rộng, có thể đi vào nhiều ngõ ngách của các hoạt động có tính cộng đồng của con người trong xã hội. Vậy chúng ta có thể rút ra được những gì từ định đề này ngoài cái việc diễn dịch nó như đã làm ở trên? Mặc dù đơn giản, đẹp và có tính khái quát cao nhưng định đề này chỉ có tính lịch sử và nó cần phải có tính lịch sử. Có nghĩa là định đề này chỉ nên áp dụng làm cơ sở lý luận cho việc sử dụng nguồn nhân lực trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Vì sao vậy? Ðây là một định đề đẹp có tính đối xứng, tuy nhiên nó cũng chỉ phản ánh nhận thức của con người trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Vế thứ nhất của định đề này không thể mãi là chân lý (thực ra nói chân lý thì có vẻ to tát quá). Nói cho cạn nhẽ, nó chỉ là cái đúng – đúng một cách tương đối, trong một hoàn cảnh cụ thể của lịch sử, thể hiện chính sách cán bộ trong sử dụng nguồn nhân lực ở giai đoạn chúng ta đã và đang sống. Ðó là vấn đề có tính lịch sử. Có điều con số tổng cộng “Người được làm việc” quá lớn, trong đó số “Người được làm việc” thực sự do hoàn cảnh lịch sử và xứng đáng “được làm việc” lại không thật nhiều bởi chiến tranh lùi xa đã gần ba mươi năm, số công nhân viên chức vốn từng trực tiếp hay gián tiếp tham gia chiến tranh giải phóng dân tộc nay đâu có còn nhiều như trước. Ðây là điều rất đáng để chúng ta suy nghĩ. Vậy số “Người được làm việc” vì những lý do không thuyết phục – chiếm tỷ lệ lớn hơn – thì là do đâu ? Trong một xã hội mà sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chiếm vị trí độc tôn trong một thời gian dài như ở nước ta thì việc hình thành một nếp nghĩ kiểu CCCP – của công cứ phá (dị bản : các chú cứ phá) – thì cũng chẳng có gì lạ. Công bằng mà nói, nếu cho đó là nếp nghĩ của cả một cộng đồng thì sẽ là hồ đồ nhưng một bộ phận không nhỏ trong xã hội ta trước đây đã từng có nếp nghĩ như thế. Thế còn số đông? Số đông này dĩ nhiên là không tệ như thế nhưng có thể nói rằng tuy họ không hành động như bộ phận kể ở trên nhưng tính trách nhiệm với của công thì cũng rất đáng bàn. Ðây là sự thật – một sự thật đau lòng mà chúng ta ít khi dám thừa nhận. Nếu như trước năm 1975 ý chí giành độc lập dân tộc lấn át, không có điều kiện cho sự bàng quan, thờ ơ, vô trách nhiệm với của công lộ diện để trở thành phổ biến thì sau năm 1975 mầm mống của những điều tệ hại vừa kể có cơ hội nảy mầm và lan tràn như cỏ dại với sức công phá kinh khủng. Ðiều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên vì rằng tính chất sở hữu quyết định tinh thần trách nhiệm. Không khác được. Chính vì vậy cái cách tiếp nhận, sử dụng người của các cơ quan nhà nước là rất tùy tiện, không dựa trên một tiêu chí có sức thuyết phục nào. Người ta nhận người vào không dựa theo yêu cầu công việc của cơ quan, không căn cứ vào khả năng làm việc, không cần biết chuyên môn của nhân viên sắp nhận vào là chuyên ngành gì, không cần biết là vào rồi có làm được không… Hậu quả là như ta đã thấy: số lượng “Người được làm việc” lớn kinh khủng. Ðây quả là điều quái gở, thế nhưng điều đáng nói là cả một thời gian dài ai cũng thấy bình thường, không ai đặt câu hỏi là như thế mãi liệu có ổn không. Nguy hại là ở chỗ này. Tiếc là chuyện này kéo dài quá lâu, đến bây giờ vẫn còn. Ðiều phi lý này không thể cứ mãi tồn tại? Có nghĩa là vế thứ nhất của định đề này phải bị khai tử. Nhưng là bao giờ?

Bây giờ bàn sang vế thứ hai của định đề này. Ðây thực sự là một đòi hỏi bức bách của xã hội, đòi hỏi sự công bằng trong chuyện tìm công ăn việc làm, không những thế, còn là sự công bằng trong việc phấn đấu giành một chỗ đứng trong xã hội. Và đây cũng là xu thế tất yếu của một xã hội văn minh, đồng thời chính nó cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nhưng làm bằng cách nào? Rất đơn giản! Các nước dân chủ đã làm bao nhiêu năm nay: thi tuyển công khai, nghiêm túc, minh bạch. Ở ta lâu nay thi thoảng chỗ nọ chỗ kia cũng đã làm nhưng cũng chỉ làm nửa vời, không triệt để vì chỉ mới dừng lại ở mức độ thi tuyển nhân viên, tuyệt nhiên chưa thấy thi tuyển lãnh đạo các cơ quan đơn vị, dẫu chỉ là trong phạm vi nội bộ công ty, đơn vị, địa phương… thậm chí chỉ giới hạn trong chi bộ, đảng bộ cũng chưa có… Sở dĩ phải nói điều này là vì chắc sẽ có người nhắc tôi rằng công việc tổ chức nhân sự là của đảng, vâng thế thì tại sao đảng không thựïc hiện dân chủ triệt để bằng cách tạo cơ hội cho những ai trong đảng tự thấy mình lãnh đạo được, được lãnh đạo như định đề của giáo sư Tương Lai. Hãy đặt lợi ích của cơ quan đơn vị, địa phương, ngành, dân tộc lên trên tất cả. Chúng ta không thể cứ mãi hy sinh cho quyền lợi của một giai cấp, của một bộ phận nhỏ trong xã hội. Chúng ta không thể cứ mãi để cho lợi ích của cơ quan đơn vị, địa phương, ngành, quốc gia bị chà đạp. Cứ thử nhìn quảng cáo tuyển người của các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài, chúng ta sẽ thấy được rằng cánh cửa rộng mở cho mọi người, đến với nhiều vị trí có thể, dĩ nhiên trừ vị trí ông chủ. Thực ra thì điều này có lợi trước hết cho chính các ông chủ của các công ty, hãng, tập đoàn mà thôi. Nhưng muốn nói gì thì nói ở đây người lao động đã được đánh giá qua cái mà họ có thể làm được. Ðây là điều hợp quy luật – That’s the way it goes! – Ðó là tất yếu, nó cần phải được diễn ra như thế, không thể khác được. Chính chúng ta mới phải làm khác cái cách mà chúng ta đã, đang làm.

Và như thế định đề của giáo sư Tương Lai phải có chỗ đứng của nó trong hệ thống lý luận về sử dụng nguồn nhân lực, rồi khi đó hãy nói tới chuyện cất cánh, chuyện là rồng hay là hổ trong khu vực.

© 2004 talawas

 
© talawas 2026