trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
30.4.2004
Jovica Acin
Tướng quân kỷ niệm cuộc bại trận
 
Jovica Acin là nhà văn và dịch giả người Nam Tư, hiện sống ở Belgrade. Ông đã xuất bản hơn mười tác phẩm khảo luận và biên dịch, trong đó có những bài nghiên cứu về hầu tước de Sade, về tương quan giữa lưu vong, trại giam tử thần và văn học. Ông cũng là tác giả một số tuyển tập truyện ngắn. Ðoản văn dưới đây dịch từ bản Anh ngữ nhan đề The General Celebrates the Defeat do David Albahari chuyển từ tiếng Serbia, đăng ở Quí san Descant, số 108, Mùa xuân 2000, chủ đề “Nhà Bảo tàng Chiến tranh”, (trang 156-57), do Hội đồng Nghệ thuật Canada bảo trợ, phát hành từ Toronto, Canada.

(Mô phỏng Kafka)

Nhìn qua cửa sổ và ngó xuống đường, ta thấy cô gái đã gặp một lần trong một cuộc đời nào đó. Ði sau ả là một ả khác. Rồi ả thứ ba, ả thứ tư, cả đoàn diễu qua dưới cửa sổ. Cửa sổ đóng, ta đứng cách mặt kính một quãng nên từ ngoài chẳng người nào trông thấy ta. Mặt chúng lộ vẻ mệt mỏi, tóc che kín; trên vài bộ mặt có thể thấy rõ hàng ria nhỏ và nhớp nháp. Chúng mang trên lưng những bọc nặng. Dù đứng từ đây ta vẫn nghe ra tiếng chúng than vãn. Chúng bước đi như những tên nô lệ. Ta quan sát chúng mà lòng buồn hiu hắt. Ðối với ta, trong hoàn cảnh này, rõ ràng chúng ta chẳng có cơ may nào với một đoàn nữ binh như thế. Bại trận là số phận của chúng ta. Ta ân hận vì đã đồng ý chỉ huy một quân đội dễ tan vỡ đến thế. Ta thà vui vẻ lui quân lúc này cho dẫu có bị tuyên bố là kẻ phản bội. Chỉ có sự ngoan cố bệnh hoạn của mình mới ngăn ta đừng làm như thế. Và rồi một ả tách khỏi đoàn. Ả bước tới bên cửa sổ, nhìn xuyên qua lớp kính. Rồi lại hiệp đoàn các bạn đồng hành, tiếp tục tuyệt vọng bước. Chẳng bao lâu sau, một ả khác bước tới bên cửa sổ và nhìn vào. Ta có thể thấy thật rõ bộ mặt của ả, ánh mắt trống rỗng của ả. Dường như ả sắp trào nước mắt. Nhưng ả bước lui và đi thẳng. Ban đầu sự tò mò ấy làm ta có phần nào khoan khoái, nhưng rồi ta bừng giận. Lại có thêm vài tên vô kỉ luật, gí mũi vào chuyện người khác; lúc ấy, ta len lén mở cửa sổ và nằm xuống chờ. Ta thao diễn vài lần động tác sắp thi thố, ta cào khoảng không với các ngón tay cong lại thành vuốt. Ðó, một nạn nhân của ta tách khỏi đoàn người và bước tới bên cửa sổ. Tay phải ta túm cuống họng ả, tay trái ta thộp ngực bên phải của ả, lôi tuột ả vào. Ta dựng ả lên, thô bạo đẩy ả vào một góc. Cái miệng rụt rè của ả run rẩy như cái mõm ẩm ướt của một loài gặm nhấm nhỏ bé. Các ngón tay của ta vẫn còn rêm từ lúc vồ lên ngực ả. Hai hàng mi ả mở hé và ta chỉ có thể nhìn thấy màu trắng trong mắt ả. Ta tát ả nhưng trên bộ mặt vô vọng ấy chẳng có chút biến đổi nào. Ta gằn gịong hỏi: Tại sao ngươi do thám ta? Có phải đây là một loại âm mưu nào đó? Ả không nói. Trong ta trào lên cơn thịnh nộ cực độ. Ta đánh ả. Ta hoá ra tàn bạo. Ta chưa bao giờ giống như thế này. Ta không biết trong ta có sự tàn bạo tới ngần ấy dù ta từng dự nhiều trận đánh, từng phá tan nhiều đồn bót, từng giết người không tí xót thương, từng cướp bóc, từng hãm hiếp. Ta lột bọc hành lý khỏi vai ả. Ta xé tan quần áo ả. Ả chống cự yếu ớt, thật ra chẳng chống cự chút nào, chỉ chúi người, vặn vẹo, day trở và hai tay ôm lấy thân, che mình trước cơn gió lạnh đang lùa qua khung cửa sổ mở. Suốt thời gian đó ta tiếp tục cật vấn: Những tên đang do thám ta kia là ai? Ta đét vào mông đít trần trụi của ả, những ngón tay ta hằn dấu thâm tím trên da ả. Cuối cùng ả rên rỉ: Không có ai khác. Ta la lớn: Ta biết rõ những gì ta thấy. Và ta lôi ả sền sệt trên sàn nhà. Ả thì thầm: Lúc nào cũng chỉ một mình tôi thôi. Ta rít lên, cộc cằn và khản giọng: Hãy trả lời ta, ngươi là ai? Ta kẹp cứng ả, vần tới vần lui trên sàn nhà dơ bẩn, và gần như ta giậm chân lên dạ dày ả bằng đôi giày nhà binh. Từ miệng ả, nước dãi nhỏ giọt, có màu sắc xanh non mùa xuân mà ta luôn luôn đặc biệt ưa thích. Ta ngừng lại, xem xét kỹ lưỡng cơ thể ả đang nằm trần truồng dưới chân ta. Dấu vết thâm tím của các ngón tay ta nay thành bầm tím. Ta hít vào một hơi thật sâu rồi hỏi thêm lần nữa: Ngươi là ai? Những tên kia là ai? Toàn bộ đoàn người đi đó! Ả trả lời, giọng rất yếu ớt, tới độ ta phải cúi xuống thật gần mới nghe ra: Không có đoàn người đi nào cả, chỉ một mình tôi thôi. Lúc này, mắt ả mở thao láo, nhìn ta chằm chặp. Ðôi con ngươi nở thật lớn tới độ ta có thể thấy mình phản chiếu trong chúng. Cái ta thấy không giống ta. Giọng nói của ả càng lúc càng thì thào và ta hầu như chẳng nghe ra. Ta mất thăng bằng, té sấp trên người ả. Ta tiếp tục thì thầm: Ngươi là ai? Không là ai cả và chẳng là gì cả, ả vừa trả lời thẳng vào miệng ta vừa bất thần túm chặt chiếc nút cuối trên áo sơ-mi ta và quặp hai chân quanh thân thể ta. Hai đùi của ả kẹp chặt hông ta với một sức mạnh không ngờ của kẻ không là ai cả và chẳng là gì cả. Con rắn kia, mày là ai? Ta lặp lại, hết hơi hết sức. Ả nói: Thần chết. Ngươi muốn gì nơi ta? Ta chỉ muốn kiểm tra xem ngươi có ở đây không.

© 2004 talawas

 
© talawas 2026