Khi Neil Armstrong đặt chân lên cung hằng thì thế giới tuổi thơ của tôi cũng vừa lùi về quá khứ. Ngày lịch sử đó mang dấu ấn hình ảnh của một phi hành gia Mỹ trong y phục không gian cồng kềnh mà lại có thể bay nhảy hết sức nhẹ nhàng ở một không gian xa xôi – cách quả đất có đến 300 nghìn cây số như thày cô đã dạy – và gửi về những tín hiệu rè rè, rồi có lời dịch lại: “Một bước nhỏ của một con người, nhưng là một bước nhảy vĩ đại cho nhân loại.” Hình ảnh đó đan xen trên màn hình ti-vi đen trắng với cảnh ở Huế nơi có người thiếu phụ đang khóc lóc thảm thương bên xác chồng, mất tích từ Tết Mậu Thân, nay mới được tìm thấy, hòa trong điệu nhạc “Exodus” ai oán.
Ít lâu sau những bước chân của Neil Armstrong, tôi có dịp tận mắt xem hòn đá mặt trăng, trông như một nắm cát biển lấm tấm kim tuyến đặt trong một hình cầu lớn bằng thủy tinh. Phòng triển lãm được thiết kế thành khung cảnh lạnh mát – giữa Sài Gòn oi bức – của vùng Biển Trầm Lặng trên mặt trăng, nơi Neil Armstrong và Edwin “Buzz” Aldrin đã đặt chân xuống lần đầu. Dòng người vào xem, trước khi thấy hòn đá, được dẫn vòng vòng lên cung trăng cô tịch, để được cùng với Armstrong bay nhảy và nhìn về trái đất, cũng tròn sáng và treo lơ lửng trong không gian tối đen. Một điều hết sức nghịch lý đối với kiến thức non nớt của tôi.
Tôi xếp hàng vào xem đi xem lại mấy lần để cho chắc chắn là mình đã nghe được những lời dẫn giải một cách rõ ràng: “từ mặt trăng, nhìn lên bạn sẽ thấy trái đất lơ lửng trước mắt.” Không thể là trái đất được, đó phải là mặt trăng, nơi tôi từng mơ tưởng ở đó có chú Cuội bám gốc cây đa, có chị Hằng và Thỏ Ngọc. Nếu là trái đất, với cả tỉ con người – một con số to thật là to mà tôi không hề hình dung ra khi nghe thày cô dạy – sẽ có vô số người bị rớt ra.
Tuy lớn lên, nhưng thế giới tuổi thơ của tôi vẫn còn đóng khung mãi, như là một tấm hình kỷ niệm về tuổi nhỏ hồn nhiên ở một vùng đất xa xôi.
Thuở còn bé tôi cũng chơi khăng, chơi cù, thả diều, chọi nắp phéng, bắn bi, bắt cá, gẩy hình, tạt lon. Nhưng tôi và một đứa hàng xóm, thằng Bi, còn thích chế ra những trò chơi khác.
Muốn cho hai võ sĩ đấm bốc đánh nhau, bọn tôi tìm một chiếc hộp có kích thước dài chừng 20 phân, rộng 15 phân, cao 10 phân và dán dưới đáy hộp một tờ giấy trắng. Ðặt chiếc hộp đứng lên theo chiều dài rồi bỏ hai võ sĩ bằng cao su vào giữa hộp, cầm đèn pin chiếu vào, di chuyển đèn qua trái, qua phải thì sẽ thấy trên nền giấy trắng hai tay võ sĩ đánh nhau nghiêng ngả. Chuyển động của chiếc đèn pin chầm chậm là lúc hai võ sĩ vờn nhau, chuyển động nhanh thì hai võ sĩ xối xả tấn công qua lại, nghiêng bên nọ, xọ bên kia. Trò chơi này hào hứng hơn khi mặt trời đã tắt hẳn, không gian đen tối làm bóng dáng hai võ sĩ nổi bật trên đáy hộp. Ðám trẻ hàng xóm xúm lại nằm dài ra sân trước nhà, chia phe, vừa xem đấu vừa hò hét từng chập làm như đang có mặt tại võ đài. Chúng tôi thay đổi võ sĩ cao su, nhưng cũng chia nhau phần thắng thua đồng đều, để ngày mai còn gặp nhau chơi tiếp, với những hình tượng cao su mới.
Năm học lớp Nhì, tôi và thằng Bi chế máy chiếu phim. Dụng cụ gồm một chiếc thùng giấy cạt-tông to, một bóng đèn 6 vôn, mấy cục pin hiệu Con Ó, giấy bóng kính trong, bút lá tre, mực, băng keo, hai lõi cuộn chỉ, một khúc dây kẽm và cái kéo. Sau nhiều ngày hì hục làm việc với nhau sau giờ học, chiếc máy chiếu phim của chúng tôi ra đời. Ðó là chiếc thùng không nắp, được ngăn ra, khoảng một phần tư làm “phòng chiếu phim,” đơn giản là một ống vuông bịt kín chỉ chừa mặt trước và ba đường cắt trên ba cạnh để cho phim chạy qua trước bóng đèn. Hai bên rãnh phim là hai khúc kẽm thẳng đứng để ráp cuộn phim. Ðối diện phòng chiếu trong hộp là màn ảnh bằng giấy trắng. Thằng Bi khéo tay, dùng đinh, kéo mà cắt, đục lỗ để hoàn thành phòng chiếu. Phần tôi lo cắt, dán giấy bóng kính vào với nhau và được chừng hai thước phim, khổ 5 phân, rồi dùng bút lá tre và mực đen đậm để can lên đó những hình ảnh bọn tôi ưa thích: Tin Tin, Cao Bồi hay Tặc-Dzăng từ những truyện bằng tranh hay từ những tấm hình mà bọn trẻ chúng tôi thường ăn thua với nhau mỗi ngày trong trò chơi “gẩy hình.” Những thước phim được dán chắc và cuốn vào hai lõi chỉ, xỏ vào hai khúc kẽm, cho phim qua rãnh. Thế là xuất chiếu bắt đầu.
Tối tối hai đứa bọn tôi đem máy đi chiếu cho trẻ con hàng xóm xem. Khi chiếu phim, thằng Bi lo ấn dây điện vào mấy cục pin cho đèn sáng, còn tôi lo quay lõi cuộn chỉ. Chúng tôi thật thích thú khi thấy những Cao Bồi, Tin-Tin hay Tặc-Dzăng hiện to trên màn ảnh và từ từ di chuyển theo nhịp tay quay của tôi. Phim được chiếu lên, cả đám lao nhao thi nhau mở trí nhớ và giảng giải xem hình ảnh đó đã thấy trong tập truyện tranh nào hay trong bộ hình nào. Phim chỉ dài chừng vài ba phút nhưng đã đem đến cho đám trẻ chúng tôi những niềm vui bất tận.
Nhưng có một thứ đồ chơi trung thu mà tôi và thằng Bi ao ước tự chế một cái mà chưa làm được. Ðó là chiếc đèn kéo quân. Ông bác của tôi làm lồng đèn này rất đẹp với tiên bay trên cao, có quân tướng sĩ, xe pháo mã chạy đuổi ở dưới. Hai đứa thắc mắc về sự chuyển động bên trong lồng đèn. Làm sao chỉ với nến cháy, không pin, không dây điện, không mô-tơ mà những tiên nữ, hình tượng, xe cộ bằng giấy dán trên những sợi chỉ trong lồng đèn cứ chạy vòng vòng mãi mà không ngừng. Bọn tôi có hỏi, nhưng ông bác chỉ trả lời: “nến cháy là quân chạy.” Cho đến khi giã từ tuổi thơ chúng tôi cũng chưa thực hiện được niềm ao ước và những thắc mắc vẫn chưa tìm ra câu trả lời.
Ðặt chân đến Mỹ, đi học và được xem phim “Power of 10” thì tôi mới hiểu rõ được tại sao quả đất cũng lơ lửng trong không gian, khi nhìn từ một hành tinh khác, trong Giải Ngân Hà.
Rồi có dịp đi chơi ở trung tâm giải trí Great America, thấy nhiều người, lớn có, bé có xếp hàng chờ leo lên mấy trò chơi nhào lộn ở vận tốc cao, tôi cũng thử. Sau chuyến đi Tidal Wave dài chừng hai phút, nhưng đã cho tôi cảm tưởng như thời gian được kéo dài ra đến bất tận. Khi trở về mặt đất, tôi ở trong trạng thái quay cuồng, chao đảo, nhưng còn nghĩ được một điều, là nhờ những trò chơi này mà nước Mỹ mới có Neil Armstrong.