Nguyên Nguyên
Phần III: Hai Trường Phái của các Thầy dạy quốc ngữ thuở ban đầu
Tiện dịp, xin thử khảo sát một vài điểm nới rộng như sau:
1.
Chữ Nôm với những phức tạp và thiếu thốn tính chuẩn định, điển chế của nó chắc chắn là một thứ chữ hoàn toàn không được phổ quát – trong dân gian. Tiền nhân nước Việt trước thời Hán thuộc chắc hẳn đã có loại chữ ‘nòng nọc’ giống như tiền thân của loại chữ Mường, chữ Lào sau này. Mặc dù những người sống trên nước Việt từ trước đến giờ vẫn nói tiếng Nôm, tức tiếng nước Nam, nhưng chữ viết Nôm đối với đa số người dân nước Việt vẫn là thứ chữ chỉ dành riêng cho giới sĩ phu, khoa bảng. Khó và phức tạp hơn cả tiếng Hán. Những dấu hỏi ngã, sắc nặng huyền cũng đều không có ký âm trên chữ Nôm – một thứ chữ có thể nói 80-90% dân số không biết đến. Ðiều này mang hàm ý gì? Theo thiển ý, hàm ý hiển nhiên nhất:
(i) Tiếng Việt trước khi có chữ quốc ngữ chắc
không có phân biệt rõ rệt các âm dấu: không sắc hỏi ngã nặng huyền. Ðặc biệt dấu hỏi dấu ngã.
Kiểm chứng: Lật quyển tự điển chữ Nôm ta sẽ thấy rất rõ. Thí dụ:
| – |
Ngá dùng giả tá(vay mượn) âm Nhạ / Ngã (ngã lòng) và Ngả (nằm ngả) đều giả tá âm và viết bằng Ngã (ngộ= tôi) |
| – |
Dở – viết theo Nôm, dấu hỏi= tâm+dữ (dấu ngã) |
| – |
Rủa= tâm+dũ / = khẩu+lỗ (rủa dấu hỏi dựa vào lỗ / dũ dấu ngã) |
| – |
Rủi= thủ+lỗi / hoẵng= khuyển+hoang (hoẵng ngã / khuyển hỏi) |
| – |
Nữa (còn Nữa)= giả tá chữ nôm Nửa (phân Nửa) – Nữa (ngã) dựa vào Nửa (hỏi) |
| – |
Nhẽo (nhẽo nhẹt)= mượn chữ và âm Miểu, dấu hỏi. |
| – |
Thi= âm Hán Việt vay và viết như Thí |
| – |
Rắp= Khẩu (miệng)+Lập (Âm sắc dựa âm dấu nặng) |
Cũng có thể kiểm chứng với các từ tương đương của dân tộc ít người:
| – |
Cổ (cái cổ): ko/ka (Môn), kao (M’nông), gơ (Lào), go (Thái) |
| – |
Ðỏ (màu đỏ): xo (Kháng), đợt (Laha) |
| – |
Củ (Củ Chi, củ khoai): Ku (Mường), Krau (M’nông) |
| – |
Chín (9): Chịn (Mường) |
(ii) Tiếng Nôm trước thời quốc ngữ cũng không phân biệt được các âm cuối như: an, ang, anh, ac với at, ao với au,. . . Kiểm chứng:
| – |
Lát (một lát)= âm giả tá vay mượn của lạC |
| – |
Mắc (mắc mỏ)= mượn chữ MắT |
| – |
Mắt= mục (chữ Hán của mắt)+mạt |
| – |
ngát (thơm ngát)= giả tá của ngạc (T dựa vào C) |
| – |
mànG (Năm canh mắt ngọc mơ màng – Kiều)= Khẩu+ MạN |
| – |
Man (man mác)= Âm vay của ManG / = Tâm+ManG (Man, không G dựa âm ManG) |
| – |
QuẩN (tính quẩn tính quanh)= Mục+QuanG |
| – |
Chàng= Nhân+Tràng, trong khi Chán= Nhật+TránG |
| – |
Buông (buông tha)= giả tá vay mượn BôN / Thủ+BôN / Khẩu+BôN / = Phóng+Bôn |
| – |
Rậc (chạy rậc rậc)= khẩu (miệng)+ LậT (rậc, cuối C dựa âm LậT, cuối bằng T) |
| – |
Cao (cao thấp)= Âm hán-việt Cao |
| – |
Cau (trầu cau)= Mượn chữ Cao / cũng viết: Mộc (cây)+Cao |
| – |
Sao (ngôi sao)= vay mượn Lao (lao động) |
| – |
Sau (sau này)= cũng vay âm Lao |
| – |
Lao (lao vào)= mượn chữ Hán Lao (lao động) |
| – |
Lau (lau mặt)= thủ (tay)+LaO |
| – |
Trao (trao cho)= thủ (tay)+ Lao |
| – |
Trau (trau dồi tiếng Việt)= mượn âm và chữ viết từ Trâu / mượn nguyên TraO |
Kiểm chứng với các ngôn ngữ ít người:
| – |
Ðất (đất đai): đây (Khasi), tâ (Mường), têh (Sakai) |
| – |
Ác (chim quạ): aK (Mường), aq (Danaw) |
| – |
Ong (con ong): ma-ôn (Danaw), on (Palaung), ong (Wa) |
Tiếng Nôm chắc cũng không phân biệt rõ rệt dấu nón (dấu ô) ^ : Bằng chứng Cộng Hoà còn viết Cọng Hoà trong thập niên 1955-1965 ở phía Nam. Âm Quan Thoại Gong (công lao) nằm ở giữa Công và Cong. Thêm vào đó, khi thì “cái nầy” khi “cái này”. Khi Bẩy (7), lúc Bảy. Dấu ô (^) cũng không phân biệt trong Chổng. Theo tự điển Vũ Văn Kính:
| – |
Chổng= Chỏng= Mượn âm Hán và viết như CHỦNG (chủng tộc). Thế nhưng |
| – |
Chõng (lều chõng)= dấu ngã -nhưng cũng vay mượn từ Chủng (dấu hỏi) như Chổng. |
(iii) Những thiếu thốn phân biệt về hỏi ngã và các âm cuối an-ang-anh, ac-at, ao-au, … xảy ra ngay tại miền đất nguyên thủy của nước Nam, tức ở Bắc Bộ ngày nay – trước khi chữ quốc ngữ tràn ngập vào khoảng cuối thế kỷ 18. Nói cách khác, đa số phát âm của người Nam Bộ ngày nay đã từng là lối phát âm của Bắc Hà, của đàng Trong lẫn đàng Ngoài – trước thế kỷ 18.
2.
Chỉ trừ 2 thời đại ngắn ngủi Hồ Quý Ly (1400-1407) và Quang Trung Nguyễn Huệ (1788-1792), trong đó hai vị này cố gắng thúc đẩy việc chuẩn nhận chữ Nôm thành ngôn ngữ của nước nhà, chữ Nôm từ thế kỷ thứ 8 cho đến đầu thế kỷ 20, luôn mang số phận một phó thường dân. Ngôn ngữ chính thức của triều đình, của khoa bảng vẫn là chữ Hán – đọc theo khẩu vị người nước Nam – gọi bằng Hán Việt. Nền Hán học hoàn toàn ngự trị tại nước Nam cho đến 1918 khi triều đình, dưới áp lực của người Pháp, bãi bỏ các kỳ thi cử Hán học tại Trung Kỳ, sau Bắc Kỳ 3 năm. Năm 1917, Nha Tổng Giám Ðốc Học Chánh Ðông Dương ra lệnh một học qui mới, thay thế chương trình 1908, áp dụng cho toàn cõi Ðông Dương lấy tiếng Pháp làm chuyển ngữ – cũng như dạy thêm chữ quốc ngữ. Trên phương diện viết lách và in ấn, chữ quốc ngữ mặc dù đã được phát triển mãnh liệt ở Nam kỳ ở hậu bán thế kỷ 19 qua những Petrus Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của, Trương Minh Ký, v.v. lan rộng đến Bắc Kỳ vào đầu thế kỷ 20 nhờ ở Ðào Nguyên Phổ, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, v.v. nhưng chỉ được chấp nhận . . . từ từ trong giới triều đình[1], và giới sĩ phu xưa sau vài thế hệ. Trong khi chữ Nôm đã không được triều đình “điển chế” trong khoảng một ngàn năm, chữ quốc ngữ lại gặp sự chống đối mãnh liệt của giới Sĩ Phu. Ðiển hình, theo nhiều sách vở, nhiều điền chủ trong Nam thuê con cháu người làm hay tá điền học chữ quốc ngữ dùm con của họ. Ðiều này có nghĩa:
(i) Việc ký âm từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ hầu như hoàn toàn không có sự tham gia của giới sĩ phu trí thức nước Nam, từ đầu cho đến gần cuối. Có chăng đi nữa, sự hợp tác đó xuất phát từ những linh mục người Việt – đã từng là đồ đệ chữ quốc ngữ của những bậc Thầy
[2] Tây phương. Khi các tác giả không phải người Việt nhưng nói được tiếng Việt, và chưa chắc đã thông thạo
Chữ Nôm – một số có lẽ hãy còn lớ giọng – đã ký âm một ngôn ngữ Á Châu sang lối ký âm dựa theo A-B-C của ngôn ngữ Âu Châu, sự thay đổi ký âm với âm chữ Nôm nguyên thủy là một việc tất phải xảy ra. Biến chuyển đó, xin phép nhấn mạnh, dễ dàng xảy ra phần lớn do ở thiếu thốn hợp tác và kiểm chứng của những người bản địa rành chữ Nôm. Nhà Nho Nguyễn Quảng Tuân
[3] có ghi “
quyển từ điển Dictionnaire Annamite-Francais của J.F.M. Génibrel đã do một nhà nho ẩn danh giúp cho soạn thảo“. Theo thiển ý, nhà nho đó ẩn danh bởi (i) nhà Nho đó thẹn thò với trào lưu mới, hoặc (ii) nhà Nho không dám ra mặt vì sợ hãi sự chống đối của bạn bè thân thuộc.
(ii) Ðến khoảng giữa thế kỷ 18 trở về sau – nhất là từ thế kỷ 19, những người bản xứ tiên phong của chữ quốc ngữ lại vô tình bị rơi vào một tình trạng tréo cẳng ngỗng mới: Như những người Việt đi theo giúp các linh mục Âu Châu trong việc truyền giáo và giảng dạy chữ quốc ngữ. Những vị này có lẽ đã học tiếng Tây, chữ quốc ngữ, cùng một lúc hoặc trước khi học chữ Hán và chữ Nôm. Có khi cũng không có học chữ Hán hoặc chữ Nôm. Và học chữ quốc ngữ, có khi cả chữ Nôm chữ Hán, hoàn toàn từ các thầy Tây. Do đó phát âm quốc ngữ, một thứ ngôn ngữ mới xuất thân từ tiếng Nôm, sẽ có nhiều cơ hội biến chuyển và lấn át phát âm chữ Nôm và tiếng Hán Việt ‘thuần túy’ – và chắc chắn tùy thuộc lối phát âm của chính các Thầy.
(iii) Các thầy người Âu Châu gởi sang nước An-Nam để dạy chữ quốc ngữ cho việc giảng đạo, hoặc sau này cho nhà cầm quyền Pháp ở Ðông Dương, ở thế hệ thứ 2 trở đi, có thể được học qua tiếng Việt tại Pháp trước khi sang Ðông Dương. Tiếng Việt học tại Pháp, nhất là trong cách phát âm, chắc chắn khác xa tiếng Việt người bản xứ nói. Tuy nhiên họ đã điều chỉnh, biến đổi tiếng Nôm. Ðặt ra, định đoạt và hệ thống hoá cách đánh vần để giải toả rất nhiều lộn xộn của chữ Nôm.
(iv) Một hệ luận quan trọng của các điểm (i), (ii) và (iii) ở trên sẽ là: Các tác giả chữ quốc ngữ, đặc biệt các thầy các cô, ở các thế hệ thứ 2 trở về sau, cũng đã gặp một số khó khăn trong việc phát âm cho đúng như người bản xứ. Chung qui ở những âm mà tiếng Tây không có. Từ đó họ dạy người Việt tiếng Việt theo kiểu thích hợp với “gu”, với lối phát âm của họ. Nhưng đồng thời họ cũng rất uyên bác trong ngôn ngữ học. Kết quả là các bậc thầy này, nhất là các tôn sư ở phía Bắc, đã biến đổi, và ngay cả đặt ra, một số các mẹo luật chánh tả và cách phát âm tiếng nước Nam cho đúng tiêu chuẩn quốc tế hoặc của riêng họ, song song với công việc ký âm ra chữ quốc ngữ.
3.
Trong việc dạy dỗ người Việt tiếng Việt mới, qua hình thức chữ quốc ngữ, các vị Thầy Phú-Lang-Sa sẽ ép tiếng Việt theo như ‘khẩu vị’ của họ. Cũng y như tiền nhân Việt đã ép tiếng Hán thành tiếng Hán Việt để rốt cuộc chính người Tàu nghe cũng không hiểu là gì! Cách đánh vần từng từ một cũng là sáng chế 100% của các Thầy quốc ngữ, mặc dù trên nguyên tắc nó dựa trên phát âm -rất lộn xộn và thiếu thốn phân biệt – của chữ Nôm.
4.
Những biến chuyển quan trọng người Pháp đã áp chế lên tiếng Nôm – qua hình thức chữ quốc ngữ có thể được liệt kê như sau:
(i) Âm D hoàn toàn thay cho âm Y – bởi người ngôn ngữ Pháp không có âm Y. Ðối với âm Y như tiếng Anh Yes, You, Yesterday, v.v., tiếng Tây chỉ có vỏn vẹn mấy từ tân thời như Yoga, yaourt, . . . và yeux (đôi mắt người xưa – nhưng đọc gần như jziơ chứ không phải yơ);
(ii) Âm Dz thỉnh thoảng thay cho D, nhất là ở phía Bắc, theo giả thuyết bỏ túi của người viết
[4]: bởi nhiều ông thầy Tây không thể nhìn thấy chữ D (họ đọc là Ð) mà đọc ngay ra Y được. Cũng như lộn xộn trong cách phát âm chữ S như X – bởi tiếng Tây đọc S như X: Sans Famille / Sans đọc như Xăng.
(iii) Âm chữ V thay một lượt cho W và B (hay By). Cho nó gọn bởi tiếng Tây không có W và cũng không có By. Vả lại có thể họ cũng chưa giải quyết được lộn xộn giữa B và W, như Yàng cho màu vàng và Vàng cho vàng bạc châu báu. Ðây chính ra cũng một thứ lớ giọng. Các Thầy phía Bắc gặp vần V sẽ đọc tuốt hết ra như V-tiếng Tây. Trong khi các Thầy phía Nam xài luôn V cho các âm B và W nhưng đọc tất cả bằng B hay By, và họ đã truyền lại cho các người Thầy ở các thế hệ nối tiếp.
(iv) Phân biệt rõ rệt âm cuối như: an, anh, ang, ac, at, ao, au. . . cho giống tiếng Tây. Ðây là đóng góp tối quan trọng cho tiếng Việt mới của các thầy từ phương Tây. Trước đó chữ Nôm không có, hoặc nếu có cũng rất rất ít, sự phân biệt âm cuối an, anh, ang, ac, at, ao-au, . . .
Thí dụ: Nếu viết theo tiếng Nôm,
Gan= Thủ+CaN – trong khi:
GanG (gang-thép)= Kim+CaN, tức chữ Nôm không có phân biệt âm cuối;
Ðác (lác đác)= ÐạT+dấu nháy / ÐáT (bi đát)= mượn âm ÐạT;
HaN (hỏi han)= Khẩu+HươnG / HanG= Thổ+Hương;
LanG (lang sói)= viết vay mượn từ LaN (hoa Lan / Tân Tây Lan)
CáC (các anh các chị)= Thủ+Các (khách) / CáT= âm vay CáC
Chính (chính yếu)= vay mượn âm Chín (9) – không có H cuối
Chỉnh (chỉnh tề)= vay chữ Chẩn
mànG (Năm canh mắt ngọc mơ màng – Kiều)= Khẩu+ MạN
MáT (COOL)= Băng+MạC (mộc mạc)
QuẩN (tính quẩn tính quanh)= Mục+QuanG
ChaO (lao chao)= viết vay mượn ở Hán-Việt Châu (dấu nón ^ và cuối bằng U)
ChaU (chau mày)= cũng vay từ Châu, y như ChaO.
(v) Các Thầy phía Bắc cũng đã nghiên cứu với tiếng Hán để phân biệt và đặt ra mẹo luật Hỏi Ngã, sắc huyền nặng mà trước đó tiếng Nôm không đặt chú tâm. Thí dụ:
Chữ Nôm Rổ = Trúc+ Lỗ (để ý Rổ dấu hỏi trong khi thành tố Lỗ dấu ngã)
Rảnh (rảnh rỗi)= vay mượn âm và chữ Lãnh (dấu ngã).
Rủi= thủ+lỗi (rủi hỏi, lỗi ngã)
Họa (hiểm hoạ)= Kì(kì cục)+Qua (cái giáo)/ Nhân+Hoà (Họa, dấu nặng dựa Hoà)
Trời= Thiên (trời chữ Hán)+Lệ (dấu huyền dựa dấu nặng) / vay ở: Lợi, dấu nặng
Hoẵng= khuyển+hoang (hoẵng ngã / khuyển hỏi)
Nữa (còn Nữa)= giả tá chữ nôm Nửa (phân Nửa)
Nhẽo (nhẽo nhẹt)= mượn chữ và âm Miểu, dấu hỏi.
Vỉ (cái vỉ) và Vĩ (vĩ đại) đều hài thanh từ Vĩ (mang nghĩa “đuôi”, quan thoại Wei)
Xin ghi nhận 2 điểm quan trọng như sau:
| – |
Chữ quốc ngữ chỉ là một trong hàng trăm hàng ngàn lối ký âm khác nhau mà các tác giả Âu Châu có thể ‘sáng chế’ ra để thay thế chữ Nôm phức tạp. Nó có thể đã không có dấu như Hiragana hay romanji của Nhật, hay như tiếng In-đônê-xia / Mã Lai. Tuy nhiên một khi đã có dấu, các người học trò bắt buộc phải thay đổi cách đọc và phân biệt dấu nếu các Thầy các Cô dạy như vậy. Tất nhiên một số học trò sẽ giữ nguyên đa số lối phát âm cũ nếu các Thầy vẫn giữ lối phát âm bản địa. Phân biệt dấu hỏi ngã và các âm cuối, theo lí luận của bài này, phần lớn là phó sản của các vị tôn sư chữ quốc ngữ, chứ không phải là phát âm phương ngữ sẵn có của người Việt ở phía Bắc.
|
| – |
Chữ Nôm, tức tiếng Việt trước thế kỷ 18, có phân biệt dấu hỏi dấu ngã và các âm cuối hay không? Có lẽ không. Nếu có cũng rất ít, ít như trong lối phát âm Nam Bộ. Thế tại sao có những áng thơ văn tuyệt tác như Kim Vân Kiều – Chinh Phụ Ngâm? Theo thiển ý, những áng thi văn tuyệt tác đó trở nên trác tuyệt hơn nhờ ở âm điệu rõ ràng và trầm bổng hơn của quốc ngữ. Phía dưới chúng ta sẽ thấy một vài điểm chứng tỏ Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều theo lối phát âm phía Bắc cổ, tức của Nam Bộ sau này! Thêm vào đó, kiến thức thông thường cho thấy sự phân biệt dấu hỏi ngã và âm cuối không phải là yếu tố quyết định sức thu hút của thi ca. Thí dụ, người Nam Bộ vẫn ưa ngâm nga Lục Vân Tiên, trong phát âm thiếu phân biệt rõ rệt về dấu hỏi ngã và các âm cuối. |
(vi) Ðặc biệt, sự áp chế quốc ngữ trên tiếng Nôm cũng đã hoàn toàn hủy bỏ một số âm L như
Blời biến thành
Tlời rồi
Trời.
Lừng biến thành
rừng (Rừng= sơn+lăng / = khuyển+lăng). Lăng biến ra
răng.
Âm R là âm hoàn toàn không có trong tiếng Việt xưa. Giống như âm V.
Lật một tự điển tiếng Quảng ở liệt kê R ta thấy họ ghi: Tiếng Quảng không
có âm R[5]. Lật từ điển chữ NÔM, ở phân khu những từ bắt đầu bằng R ta thấy chữ
Nôm luôn luôn ghép các từ Hán Việt khác bắt đầu bằng L! Thí dụ:
Trái= âm xưa: Blái= Ba+Lại
Treo= âm xưa, kleo / Kleo= Cụ+Liêu
Trời= xưa Blời= âm vay mượn Lợi / = Cha+Lệ (e lệ)
RA= LA+ Xuất
Ruột= Luật + Nhục
Rủi= Lỗi + Bất + Hạnh
Rượu= Khẩu+Lựu hoặc Tửu+Lựu
Rổ = Trúc+ Lỗ (Rổ, hỏi – Lỗ, dấu ngã).
5.
Những biến chuyển về ngôn ngữ nước Nam đó xảy ra một cách êm đềm, không mấy ai để ý – mặc dù rất đẫm máu trong quá trình dạy dỗ chữ quốc ngữ theo với chủ đích truyền giáo, nhất là trong thời byua Minh Mạng. Việc thờ ơ và quên lãng các biến đổi rất lớn trong ‘chuyển ngữ’ từ Nôm sang quốc ngữ cũng đã xảy ra trong giới khoa bảng cựu lẫn tân học. Trong suốt 300 năm. Ðặc biệt cùng lắm người ta chỉ để ý đến Trời thế cho Blời, Trái cho Blái, Trọn cho Klọn, Trăng cho Blăng. Có lẽ những từ này viết như vậy trong quyển từ điển tiếng nước Nam đầu tiên của Alexandre de Rhodes: Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (từ điển An-Nam-Bồ Ðào Nha-Latinh) xuất bản năm 1651. Tuyệt đại đa số, qua nhiều thế hệ, đã chấp nhận không mảy may thắc mắc, và không mấy để ý đến:
| – |
V đã thay cho W và B (hay By) – cùng một lúc! |
| – |
R nhảy vào thay cho L: Rừng thay cho Lừng |
| – |
TR thay cho BL và KL: Trời thay cho Blời / Trọn thay Klọn. |
| – |
D chiếm chỗ của Y theo như tiếng Anh, tiếng Tàu pinyin, tiếng Nhật romanji, v.v. Xong rồi ở phía Bắc, Dz thay cho D – do ở lớ giọng của các vị Thầy Tây Phương quen đọc D như Ð theo thói quen tiếng mẹ đẻ của họ (xem “Thử tìm hiểu âm chữ D”). |
| – |
Lộn xộn giữa âm S với âm X – nhất là trong cách phát âm phía Bắc (bởi lý do giống như âm D: Trong tiếng Tây, tiếng Anh – S đọc như X. Thí dụ như câu tiếng Anh:
She sells sea-shells at the sea-shore.
(She đọc SHI / Sells đọc Xeo-lz / Sea như Xi / shells như Sheo-lz /shore như Sho-r).
Trong khi ở tiếng nước Nam, theo ký âm của các tác giả – S đọc như SH của tiếng Anh, tiếng quan thoại (âm S đọc SH thường cũng không có trong tiếng Tây, trừ khi vay mượn). Tóm tắt, có hai lý do khiến S ưa lẫn lộn thành X.
Lý do thứ nhất: một số âm S chưa được giải quyết rõ rệt so với âm tiếng Hoa: sắc tiếng Hoa đọc Xớ, xa (xa hoa) tiếng Hoa (quan thoại) đọc Shơ. Sở dĩ – Hoa đọc Xuo Yị. Suy nhược có âm tương tự Shuai ruo. Trong khi đó tiếng Tàu quảng đông không có âm S hay Sh. Quảng Ðông chỉ có âm X.
Thêm nữa, so với chữ Nôm:
Sướng= giả tá của Xướng / Suy= vay mượn từ tiếng Hán: Xuy / Suất= Xuất.
Lý do thứ hai, do ở thói quen, các Thầy hãy còn lúng túng khi thấy S bị bắt phải đọc SH nên nhiều khi họ quay về X, theo tiếng mẹ đẻ tiếng Tây của họ: Sans= đọc Xăng.
Người học trò phía Bắc thỉnh thoảng theo thầy đọc Bổ Xung thay vì Bổ Sung. Hy vọng sẽ trở lại vấn đề này vào dịp khác.
|
6.
Những thầy Tây dạy Việt ngữ cho người Việt ở phía Bắc hoàn toàn là một nhóm thầy khác với các thầy ở phía Nam. Chỉ chừng vài mươi năm với tính hiếu học dễ dãi, và óc phán xét không mấy khắt khe, những người học chữ quốc ngữ ở phía Bắc đã chấp nhận sự dạy dỗ tiếng Việt của nhóm Thầy phía Bắc. “Trường phái” này đã biến đổi tiếng Việt nguyên thủy như sau:
ÐIỂM THIẾU HOÀN CHỈNH: Chính yếu phải liệt kê:
(i) V hoàn toàn thay đứt cho W lẫn By – byiết đọc thành viết, và viết là viết, con woi vẫn gọi hơi khác nhưng thay W: con voi, Byiệt Nam đọc và viết thành Việt Nam. Tức chữ V ở phía Bắc được đọc theo kiểu quốc tế. Phát âm V theo quốc tế đã chôn sâu phân nửa các từ bắt đầu bằng V nhưng đáng lẽ phải đọc theo B hoặc By, như người Mường và Nam Bộ hãy còn giữ. Tương tự các thầy ở phía Nam đã dạy học trò giữ vững âm B (hay By) cho tất cả chữ V, và cũng chôn sâu các từ đáng lẽ đọc bằng W (hay V) như con voi, con ve, đi về.
(ii) D đa số bị đọc lớ thành Dz (Xin xem “Thử tìm hiểu chữ D”), bởi cách đọc quốc tế của D là Ð. Chỗ của D đáng lẽ phải dành cho Y như trong tiếng Anh, tiếng Tàu, tiếng Nhật.
(iii) S bị đọc lớ thành X: bổ xung thay vì bổ sung
(iv) TR như trong trường có khuynh hướng đọc như tchong tchường.
(v) CH như chan chưá đọc y như tiếng Anh Chhan Chhưá khác với giọng Nam Bộ (hay Nôm nguyên thủy?) do ở phát âm lớ của các Thầy từ CH tiếng Tây (như le chat / charité) với tiếng Nôm.
ÐIỂM CẢI TIẾN TỐT ÐẸP CHO CHỮ QUỐC NGỮ:
(i) Các Thầy ở phía Bắc cũng đã điều nghiên, sáng chế và phân xếp cách đánh vần để phân biệt các
âm cuối: an, anh, ang, ac, at, ao-au, . . . mà chữ Nôm KHÔNG có: “
AnH ơi nếu mộng khônG thÀNH thì saO. NoN caO đấT rộnG biếT đâu mà tìm“
[6].
(ii) Việc phân biệt âm cuối này cùng với phân biệt dấu hỏi dấu ngã – mà tiếng Nôm không chú trọng mấy – là đóng góp đáng kể nhất của các vị Thầy quốc ngữ tại Bắc Hà. Theo thiển ý, phân biệt các âm cuối và hỏi ngã trong lối phát âm phía Bắc hoàn toàn nhờ công ở các vị Thầy người Âu Châu. Người Việt trước thế kỷ 18 trên toàn cõi nước Nam – theo lí luận của bài này – có phát âm như tiếng Nôm, và giống như người Nam Bộ. Ða số các âm Nam Bộ được giữ nguyên như hồi các tiền nhân chưa di dân về phía Nam. Chỉ mỗi một ngoại lệ: Người Việt ở Nam Bộ đã chôn vùi phân nửa âm chữ V ngày nay phát âm như W, trong con voi, vẽ tranh, đi về, . . . theo như lời giáo huấn của các Thầy ở phía Nam.
Các đặc điểm cải tiến hoặc thiếu hoàn chỉnh ở trên đã nhanh chóng trở thành phương ngữ của phía Bắc. Nhờ ở tính quốc tế, tính cách khoa học của ngôn ngữ (trừ việc lớ Dz và S-X), các đặc tính của trường phái phía Bắc đã và đang xứng đáng được chấp nhận rộng rãi để biến dần thành. . . quốc ngữ, ngôn ngữ chính thức của cả nước.
PHẦN IV: Wương Thuý Kiều
Bây giờ ta thử kiểm chứng xem quyển Truyện Kiều của văn hào Nguyễn Du (1765-1820) có phải đã được viết theo cách phát âm chữ Nôm theo kiểu . . . Nam Bộ hay không.
Xin nhắc lại, thời đại Nguyễn Du chính là thời đại biến chuyển rầm rầm, giữa lúc tiếng Nôm đang nhường bước cho quốc ngữ. Khảo sát đặc trưng của âm cổ trong truyện Kiều tức kiểm chứng những hiện tượng sau đây, trong khuôn khổ ngắn ngủi của bài viết:
| – |
Chữ nào bắt đầu bằng V đã được Tiên Ðiền viết như âm B, và chữ nào theo âm W. |
| – |
Chữ Nôm truyện Kiều có cho thấy sự thiếu phân biệt âm cuối hoặc hỏi ngã chăng. |
| – |
TR có phải đã viết như TL và R đã viết theo L hay không. |
Do ở giới hạn của bài viết và thì giờ, cũng như thiếu thốn tài liệu chữ Nôm của các bản Kiều, xin phép trích lại một vài câu trong hai trang Kiều viết bằng chữ Nôm có phóng ảnh đăng trong quyển sách dày cộm của Lê Hữu Mục – Phạm Thị Nhung – Ðặng Quốc Cơ: Truyên Kiều và tuồi trẻ. Nxb làng văn 1998. Một trang theo bản của Duy Minh Thị[7] (bản năm 1872) từ câu 1061 đến 1078. Một trang của Kiều Thị Oánh Mậu (1902), từ câu 2939 đến 2960. Ngoài ra cũng sưu tầm những lối viết chữ Nôm của truyện Kiều từ những tài liệu viện dẫn trong bài.
Một điểm quan trọng, gần như một định đề ở toán học, xin được minh định như sau:
Nếu một từ nào bắt đầu bằng V trong các bản quốc ngữ – tìm được trong các tài liệu chữ Nôm có lối viết ở chữ Nôm với âm B ta phải nhìn nhận Tiên Ðiền đã đọc từ đó bắt đầu bằng âm B như người Nam Bộ ngày nay. Thí dụ: Nếu quốc ngữ ghi VÀO, và tương đương ở chữ Nôm là BAO+NHẬP ta bắt buộc phải nhận Nguyễn Du hay soạn giả bản chữ Nôm đó đã đọc VÀO bằng Byào hay Bào như người Nam Bộ. Tương tự đối với từ VỰC, nếu bản Kiều chữ Nôm ghi Vực= Thủy+Hoặc= Thổ+Hoặc – ta phải nhìn nhận Vực phải đọc theo giọng Bắc mới gần đúng với ngày xưa (thật ra: Wực).
Trước hết, hãy xem:
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao
Hay:
Một vung như thấy cây quỳnh cành dao
Ðể ý đến chữ Vùng hay Vung: Theo dẫn chứng của Lê Hữu Mục trong Truyện Kiều và Tuổi Trẻ, trong bản của Chu Mạnh Trinh, Vùng viết chữ Nôm bằng Thủy (nước)+Bông[8]. Có Bông âm B nên ngày trước Vùng đọc Bùng hay Byùng. Bản của Taberd viết:
Vung= Thổ (đất) +Bông
Vung có âm Bông, tức B, nên khi đó, Vung đọc ra Bung – hay Byung.
Bây giờ thử chép lại vài câu quốc ngữ trong bản khảo chính của Lê Hữu Mục, tương đương với trang Nôm của Duy Minh Thị:
Nghĩ rằng cũng mạch thư hương,
Hỏi ra mới biết rằng chàng Sở Khanh
Bóng nga thấp thoáng dưới mành,
Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai:
“Than ôi sắc nước hương trời!
Tiếc cho đâu bỗng lạc loài đến đây!
Giá đành trong nguyệt trên mây,
Hoa sao hoa khéo đoạ đày bấy hoa!
Tức gan riêng hận trời già,
Lòng này, ai tỏ cho ta, hỡi lòng?
Thuyền quyên ví biết anh hùng,
Ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi!”
Song thu đã khép cành ngoài,
Tai còn đồng vọng mấy lời sắt đanh.
Nghĩ người thôi lại nghĩ mình,
Cảm lòng chua xót, lạt tình bơ vơ.
Những là lần-lữa nắng mưa
Kiếp phong trần, biết bao giờ mới thôi
Xin điểm qua các từ chọn lựa từ câu đầu đến câu cuối.
* Viết theo chữ Nôm trong bản Kiều cổ nhất, của Kiều Oánh Mậu:
Rằng= mượn chữ Lãng (lãng du) – L bị chuyển sang R Không phân biệt dấu: Rắng= Mịch (sợi tơ)+ Lãng / Rặng= Sơn (núi)+Lãng
Cũng= thủ (tay)+cộng – Không phân biệt dấu: củng (củng cố)= cộng+thủ / cúng= lễ+cộng / cùng= mượn Cộng củn (cũn cỡn, ngắn cũn)= khẩu (miệng)+ CủnG: Không phân biệt âm cuối.
Hỏi= khẩu (miệng)+phần chính của Hải (biển) Không phân biệt dấu: Hãi (sợ)= 1 dạng mượn ở Hải (dấu ngã như dấu hỏi)
Ra= La (la liệt)+Xuất (Âm L bị thay thế bằng R)
Biết= mượn giả tá từ Biệt (Hán Việt: giả biệt)
Sở= mượn từ Sở của nước Sở. Cũng có lối viết Sở như Sở dĩ và Sàm sỡ (dấu ngã) viết bằng sỡ= tâm+sở (hỏi)
Trông= Lung (lung lạc)+Vọng / để ý “Trông” viết theo chữ Nôm không tùy vào âm Ô (^) Ngoài ra, Trong= Lung+Xa (xe) – Trong không dấu Ô cũng dựa vào âm Lung.
Sắc (sắc đẹp)= Mượn âm Hán Việt của Sắc (màu sắc).
SắT= chất sắt, viết bằng Kim (kim loại)+ Sắc
Bỗng= Mượn âm và cách viết của “Bổng” (bổng lộc) – dấu hỏi.
Lạc (lạc loài)= Thủy(nước)+Thảo (cỏ) + Các (khách) – Trong khi “Lạt” (mặn lạt) cũng viết y như Lạc
Trên= Liên (sen)+Thượng [Dựa vào âm Liên, L, ngày trước TRên đọc như TLên
Gan= viết theo âm Hán: Can / Chữ Nôm không phân biệt âm cuối GanG= Kim+Can
Lữa= Lữ (lữ hành). Trong khi Lửa (lửa cháy)= Hoả+Lữ (không phân biệt hỏi ngã) Tương tự, Lứa (lứa đôi)= Mượn âm Hán Việt của Lữ
* Ðặc biệt các âm chữ V- ngày nay:
Ví: Thuyền quyên ví biết anh hùng. “Ví” trong bản chữ Nôm viết rất tháo và theo kiểu cổ. Nó dựa vào âm của chữ Thi hay VI (theo lối đánh vần bằng V sai lệch của quốc ngữ), mang nghĩa “Cũng như”. Quan thoại và quảng đông đều đọc YI (tránh dấu pinyin để khỏi lộn xộn). “Thi” đọc theo vài địa phương âm gió gần Yi hơn Wi. Ngoài ra tự điển cũng ghi Ví có dạng khác là vay mượn của Tỉ (tỉ số) – quan thoại đọc bị tức bì. Một dạng khác nữa của Nôm ghi Ví= Bí+Bao. Thành ra Ví theo Nguyễn Du, viết theo Thi hay Yi. Hỗ trợ với Ví= Bí+Bao, VÍ đã được viết cho âm Bí. Như Byí Dụ= Thí dụ.
Vọng= Tai còn đồng vọng mấy lời sắt đanh. Trong bản chữ Nôm: Vọng viết như chữ Hán: Vọng (Wang), nghĩa hy vọng, nhìn về xa xa. Chắc chắn Nguyễn Du đọc VỌNG như kiểu Bắc Hà hay đúng hơn Wọng chứ không phải Byọng theo kiểu Nam Bộ.
Bơ Vơ= Cảm lòng chua xót, lạt tình bơ vơ. Theo bản chữ Nôm: Vơ= mượn âm chữ Hán: VI – Vi trong kiểu viết này chính là Vì (bởi vì) – quan thoại xưa nay đọc Wei. Vơ do đó xưa đọc 100%: Wơ, Bơ Wơ. Vơ này phải đọc kiểu Bắc ngày nay mới đúng.
Tiện dịp xin xem qua các chữ bắt đầu bằng V ngày nay trong trang Nôm theo bản của Kiều Oánh Mậu:
Rắp mong treo ấn từ quan,
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha
Giấn mình trong áng can qua,
Vào sinh ra tử hoạ là thấy nhau
Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,
Bóng chim tăm cá, biết đâu mà nhìn!
Những là nấn-ná đợi tin,
Nắng mưa biết đã mấy phen đổi dời?
Năm mây bỗng thấy chiếu trời,
Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành
Kim thì cải nhậm Nam bình,
Chàng Vương cũng cải nhậm thành châu Dương.
Sắm sanh xe ngựa vội vàng,
Hai nhà cùng thuận một đường phó quan
Xảy nghe thế giặc đã tan,
Sóng êm Phúc kiến, lửa tàn Chiết giang
Ðược tin, Kim mới rủ Vương,
Tiện đường cùng lại tìm nàng sau xưa
Hàng châu đến đó bây giờ,
Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành.
Trước hết động từ VÀO, Nguyễn Du viết theo chữ Nôm:
Vào= Bao+Nhập / Vào trong thời Nguyễn Du hãy còn phát âm Bào hay Byào
Còn những từ V khác:
Vực= Thổ (đất)+Hoặc (quan thoại: Huo) – Vực theo âm của Hoặc xưa đọc ra Wực. Vực phải đọc Vực theo giọng Bắc mới đúng giọng xưa. Như vậy Vực gần phát âm Quảng Ðông ling Wig, hơn quan thoại ling yu.
Vương= theo âm Wương Hán Việt – tức Wang như Wang Yu: Vương Yũ. Vương đọc theo V-Bắc, thời Nguyễn Du đọc Wương.
Vội-vàng. VỘI= mượn âm Bội (bội bạc) Vàng= Nhân+Bàng – Thời xưa đọc Vàng thiên về âm B, tức Bàng. Trong khi đó theo tự điển Nôm của Vũ Văn Kính có đến 10 cách đánh vần Nôm chữ Vàng. Ða số theo âm W như Wàng để chỉ vàng bạc. Trong Kiều, VỘI VÀNG phải được đọc theo nguyên ý tác giả: Bội Bàng.
Cũng xét chữ RỦ:
Rủ= âm Lũ (hỏi dựa ngã)
Rũ= Lũ
Rú= Mộc+Lũ – (rừng rú)
Rù= Khẩu (miệng)+Lũ – (rù rì)
Tóm tắt nhận xét từ hai trang chữ Nôm mẫu của truyện Kiều:
-
Từ bắt đầu bằng chữ V gồm có tất cả 8 từ: Ví, vọng, bơ-vơ, vào, vực, Vương, vội-vàng.
Âm ngày xưa viết theo B (tức By hay Y): Ví, vào, vội, vàng (4)
Âm ngày xưa đọc và viết theo W (tức V): Vọng, vơ, vực, Vương (4)
Tức 4 từ mỗi phía. Hay với tỷ số 50:50. Chính văn hào Nguyễn Du cũng đã viết 50 phần trăm âm V ngày nay như B, và 50% kia theo W hay V.
- Một số từ bắt đầu bằng TR ngày nay chính ra trong Kiều hãy còn viết TL.
- Từ bắt đầu bằng R như Rủ ngày xưa bắt đầu bằng L.
- Nhiều từ chọn lựa từ 2 trang mẫu cho thấy trong bản chữ Nôm, không có sự phân biệt rõ ràng các dấu hỏi ngã và các âm cuối.
PHẦN V: Một vài câu hỏi
Như đã trình bày, số phần trăm chia nhau giữa hai trường phái quốc ngữ đối với hiện tượng chữ V là 50:50. Nếu giọng đọc chữ V theo kiểu phía Bắc (W) chiếm đại đa số, ta có thể suy diễn các tác giả chữ quốc ngữ đã bày ra V thay cho W và B, và chọn V cho cả V (W) lẫn B cho nó gọn và hợp với đa số.
Nhưng thật ra cách gọi phía Nam – B cho V – cũng chiếm đến 50% hoặc hơn, trong tổng số các chữ V. Do đó người ta có thể đặt giải thuyết khác chú tâm vào việc thiếu thốn liên lạc giữa các Thầy dạy tiếng Việt thuở ban đầu giữa hai phiá Nam và Bắc. Bởi lúc đó chưa có điện thoại cầm tay, điện thoại viễn liên, internet và i-meo.
Hiện tượng V chỉ là một trong những đặc tính của tổng thể trường phái phía Bắc bao gồm, ngoài hiện tượng V:
| – |
hiện tượng Dz thay cho D |
| – |
hiện tượng phân biệt các âm cuối an, ang, anh, at, ac, ao, au, . . . |
| – |
phân biệt rõ rệt dấu hỏi – dấu ngã |
| – |
âm S hoà với X |
Những đặc tính của trường phái Bắc có thể cho thấy:
| – |
các Thầy ở phía Bắc đa số là các Thầy Tây – bởi những âm Dz / S & X / chữ V thay cho W và B – cho thấy đó là những kết quã của giọng lớ của người Tây phương. |
| – |
Phân biệt âm cuối, và dấu hỏi ngã là phân biệt do chính tác giả phiá Bắc đặt ra theo với các nguyên tắc ngữ học Tây Phương. Không phải phân biệt sẵn có của người bản địa. Tuyệt nhiên, trước khi quốc ngữ đến nước Nam, không có sự phân biệt rõ rệt này trong tiếng Nôm, nói và viết. Giải thuyết này hoàn toàn trái ngược với giả thuyết của Lê Ngọc Trụ trong “Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị” và hiểu biết thông thường.
|
So với chữ Nôm, phát âm chữ quốc ngữ ở phía Nam gần giống với phát âm nguyên thủy ở phía Bắc trước thế kỷ 18-19. Chỉ trừ 50% chữ V thay thế cho W – đã hoàn toàn bị quên lãng. Bởi phiá Nam đọc V như B, tuốt luôn cho W và B.
Câu hỏi mấu chốt nhất để kết thúc bài này là: Nguyên nhân nào đã tạo ra hai trường phái, đặc biệt hiện tượng V, và nó được hình thành trong khoảng thời gian nào?
Tiếc rằng bài đã khá dài, vượt ra ngoài khuôn khổ dự định ban đầu (10 trang cho chữ V thôi), tài liệu và thì giờ lại hạn hẹp, cũng như sức người…có hạn. Xin được phép trốn tránh giải đáp hay giải thuyết cho câu hỏi khá hóc buá này.
Chỉ xin mạn phép ghi lại những điểm sau:
-
Sự hình thành hai trường phái đã diễn ra trước hay sau khi Pháp thiết lập đô hộ xứ An Nam? Phải chăng, bắt đầu vào thời đại Nguyễn Du hay Nguyễn Công Trứ (trong khoảng vua Thánh Tổ Minh Mạng – 1820-1840) và phát triển nhanh chóng trong suốt thời Pháp thuộc, với sự đồng tình của nhà nước bảo hộ?
- Nghiên cứu tổng thể dựa trên chữ Nôm chắc phải tập trung vào các lối đánh vần chữ Nôm trong các tác phẩm điển hình xuyên qua các thời đại như của Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Ðình Chiểu (Ðồ Chiểu), cho suốt đến những vị làm thơ chữ Nôm trong thế kỷ 20 như Phan Sào Nam. Ta sẽ có dịp xem chữ V nó biến dạng từ W hoặc B sang V ra sao. Nhưng phải để ý thường thường biến đổi nhà Nho theo trào lưu mới chậm hơn dân gian cũng năm mười năm. Thí dụ có thể ở phía Bắc người ta nói Byào như Vào – một vài năm rồi nhà Nho mới bắt đầu đổi cách viết chữ Nôm thay âm B bằng âm V.
- Trong khoảng thời gian trước đô hộ Pháp, theo thiển ý, những sự kiện quan trọng sau đây đáng được để ý:
(i) Những giáo sĩ thuở ban đầu sắp xếp ký âm theo mẫu tự Latinh để chuyển ngữ tiếng Nôm ra quốc ngữ, đa số là người Bồ Ðào Nha, chứ không phải Pháp. Sau đó, các giáo sĩ Pháp mới hoàn hảo và biến đổi thêm theo “khẩu vị” và tiếng mẹ đẻ của họ mà thôi. Tiếp đó là buổi giao thời đô hộ, sự phát triển quốc ngữ có “cộng tác” của những học giả uyên bác của Pháp. Rồi có tiếp tay của trí thức Việt Nam – kể cả những thầy và linh mục – theo Nho và tân học.
(ii) Quyển sử của Trần Trọng Kim có ghi các giáo sĩ Bồ Ðào Nha bắt đầu đến nước Nam vào cuối đời Hậu Lê. Họ đặt ra chữ quốc ngữ để dễ liên lạc với dân bản địa.
| – |
Vào năm 1596 dưới thời chúa Nguyễn Hoàng có giáo sĩ người Tây Ban Nha
Diego Adverte vào Ðàng Trong giảng đạo. |
| – |
Năm 1615 dưới thời Chúa Sãi, có giáo sĩ P. Busomi |
| – |
Năm 1624 có Jean Rhodes tức Alexandre de Rhodes sang giảng đạo và lập giáo đường ở Phú Xuân. Mấy năm sau Jean Rhodes có ra Ðàng Ngoài và gặp Chú Trịnh, tặng Chúa Trịnh một chiếc đồng hồ quả lắc. Sau đó Chúa có cho phép giảng đạo ngoài đó. Sau khi Alexandre de Rhodes trở về nước, ông viết quyển tự điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (từ điển An-Nam-Bồ Ðào Nha-Latinh) xuất bản năm 1651. Ðể ý quyển tự điển này không phải tự điển quốc ngữ An-Nam sang tiếng Pháp – mà sang tiếng Bồ Ðào Nha. Ðó có thể cũng một trong những lý do ít người nghiên cứu kỹ những gì có trong tự điển này. |
| – |
Giáo sĩ Girolamo Majorica – người Bồ Ðào Nha – đến Aùo Môn năm 1623 rồi vào Ðàng Trong. Majorica học chữ quốc ngữ, Nôm và Hán. Năm 1629, bị chuá Nguyễn trục xuất rồi bị cầm tù ở Chiêm Thành. Sau quân được Bồ Ðào Nha cứu – rồi ra Ðàng Ngoài làm Bề Trên của dòng Tên. Majorica là tác giả của 48 tác phẩm chữ Nôm. |
| – |
Giám mục Pierre Pigneaux de Béhaine tức Bá Ða Lộc, người giúp chuá Nguyễn liên lạc với nước Pháp để xin cầu viện cũng là một học giả chữ Nôm và có cho ra đời một quyển tự điển An-Nam & Pháp. |
| – |
Có hai vị linh mục người Việt, Hồ Văn Nghi và Phan Văn Minh, đã đóng vai chủ chốt trong việc soạn hai quyển tự điển mang tên của Pigneaux de Béhaine và Taberd26. |
| – |
Trong buổi “tân trào” Pháp thuộc, có bác sĩ Abel des Michels (1833-1910) đến Việt Nam. Ông này chán nghề thầy thuốc, bỏ thì giờ học tiếng Việt, Hán và Nôm. Ông trở thành giáo sư tại trường sinh ngữ Ðông Phương từ 1872-1892, và dịch các quyển Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên ra tiếng Tây, cũng như xuất bản quyển tự điển An-Nam: Dictionnaire Annamite năm 1877[9]. |
(iii) Vào năm 1611, ranh giới nước An-Nam chỉ mới đến Tuy Hoà. Chưa có nam Trung Bộ và Nam Bộ. Hà-Tiên và Cà Mau chỉ hoàn toàn thuộc về nước Nam vào năm 1789 tức khoảng cuối thế kỷ 18.
(iv) Năm 1698 chúa Nguyễn chiêu mộ dân từ Quảng Bình trở vào di dân về miền Nam, lập thôn xã và khai khẩn ruộng đất, tại những vùng đất mới ở Trấn Biên (Biên Hoà) và Phan Trấn (Gia Ðịnh).
(v) Chỉ trừ thời đại Tây Sơn (1788-1802) và Gia Long (1802-1819) việc cấm đạo hơi lơ là bởi nội / ngoại chiến diễn ra khốc liệt, và do ở Gia Long mang ơn Pháp viện trong công cuộc thống nhất núi-sông. Từ hồi Ðàng Trong-Ðàng Ngoài Trịnh Nguyễn phân tranh, cho đến các thời Minh Mạng tới Tự Ðức việc cấm chỉ và truy diệt giảng đạo gần như là một . . . quốc sách. Việc dạy chữ quốc ngữ trở nên rất khẩn trương dưới sức ép khủng bố của quân lính triều đình. Các cuộc giảng đạo, dạy học nhiều khi phải được thực hiện ở dưới các hầm hố, ở trong rừng sâu. Chữ quốc ngữ được giảng dạy do đó mang tính cách…cấp tốc, nhất là ở các khu đông dân như Bắc Hà và phần đất của Ðàng Trong chung quanh Phú Xuân. Trong tình trạng dạy học cấp bách, chắc các Thầy không có thì giờ để điều chỉnh lại lớ giọng – nhất là các âm V, Dz và S hay X – cho giống phát âm của người bản xứ.
(vi) Ðến thời Pháp sắp sửa tấn công 3 tỉnh Biên Hoà, Gia Ðịnh và Ðịnh Tường, quyển Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim ghi lại rằng có đề nghị Pháp nên đánh Bắc Kỳ trước bởi ở đó có trên 400000 người đã theo đạo Ki-Tô – có thể làm hậu thuẫn cho cuộc xâm lăng.
(vii) Cũng để ý hơi vui vui, như trong ghi chú 11 về tên của Hồ Văn Vui – nhạc phụ của vua Minh Mạng. Có chỗ ghi là Hồ Văn Bôi. Vui và Bôi có nhiều cách viết giống nhau trong chữ Nôm. Ðối với một đại thần như Hồ Văn Vui, tên ông ấy chưa được đọc theo quấc ngữ nên có lẫn lộn khi chuyển ngữ sau này, giữa Bôi và Vui. (Bôi và Bui – âm chính của Vui – đọc như nhau trong tiếng Nôm, như Tui và Tôi).
4.
Trong khoảng thời gian sau khi người Pháp thiết lập nền đô hộ ở Việt Nam, để ý:
(i) Phát triển chữ quốc ngữ được sự hợp tác của rất nhiều học giả Việt tinh thông Hán học lẫn quốc ngữ và tiếng Tây. Ðáng kể nhất, Petrus Trương Vĩnh Ký và Phạm Quỳnh. Bởi hai ông này, kẻ Nam người Bắc đều có dịp chu du từ Nam ra Bắc, và từ Bắc vô Nam. Và cả hai đều viết hồi ký về các chuyến du hành đó.
Ðọc kỹ các hai quyển hồi ký đó ta có thể tìm ra một hai nhận xét về cách phát âm của hai trường phái hay không? Tiếc chưa được dịp đọc hồi ký Petrus Ký. Riêng trong hồi ký Phạm Quỳnh[10] viết năm 1917, có thể để ý: thứ nhất, giọng văn còn nhiều đặc ngữ Nam Bộ (tức Bắc cổ) và chưa ‘thiệt’ xa mấy với lối văn Nam Bộ của Sơn Nam hay Vương Hồng Sển sau này, và thứ hai, tác giả nhận xét ngay tại giữa miệt vườn phía Nam đàn bà con gái thường biết đọc biết viết (chữ quốc ngữ) cả. … Lại lạ nhất là tuy giọng Nam giọng Bắc có hơi khác một đôi chút mà nghe ít lâu thật không lấy gì làm khó cả, các cụ nói gì tôi cũng hiểu mà tôi nói gì các cụ cũng nghe được, dù nói những sự cao xa cũng vậy (trang 155). Cũng đáng để ý Phạm Quỳnh dùng nhiều từ ngày nay đã thay đổi hoàn toàn: sất-phu thay vì thất phu / yêm bác (tiếng Tàu yan bo) thay vì uyên bác.
(ii) Cũng trong thời buổi giao thời đó, rất nhiều truyện Tàu như Tam Quốc Chí, Tiết Ðinh San, Tây Du Ký, . . đều có các bản dịch của hai phiá. Ðem những bản đó ra so sánh ta có thể theo dõi được ít nhiều về hình thành của 2 trường phái.
(iii) Ngoài ra việc thu thập tên họ của tất cả các vị ân sư quốc ngữ từ thời thế kỷ 17, thời của các Cố đạo từ Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha đến các linh mục bề trên từ Pháp – luôn cho đến các nhà học giả uyên bác Tây Phương và các nhà trí thức Việt ở buổi giao thời đến đầu thế kỉ 20. Cùng những địa điểm họ có công tác, cho đến những trứ tác của họ. Chắc chắn một bản danh sách như vậy theo tiến trình thời gian sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong việc tìm hiểu nguyên ủy của hai trường phái quốc ngữ kể trên.
Bài đã quá dài, xin phép dừng bút.
Lễ Phục Sinh 2003
© 2003 talawas
[1]Vua đầu tiên học chữ quốc ngữ đàng hoàng có lẽ là vua Ðồng Khánh. Ông thầy là Petrus Ký.
[2]“Thầy” bao gồm Thầy Nam lẫn Thầy Nữ. Ông Thầy lẫn Bà Thầy (hay Cô)
[3]Nguyễn Quảng Tuân (2001) Một vài nhận xét về sách Hán Nôm ở nước ngoài . Tạp Chí Văn Học, số 180, 4/2001, tr 23.
[4]NN (2003) “Thử tìm hiểu chữ D”
[5]Cách đây khoảng 20-30 năm nếu gặp một sinh viên người Quảng Ðông, Hongkong hoặc Mã Lai, nghe họ nói Fried Rice (Cơm Chiên) cũng giống như Fly Lice (con rận bay)
[6]Bản nhạc “Duyên Kiếp” của nhạc sĩ Lam Phương
[7]Theo sự đánh giá của Hoàng Xuân Hãn trong ghi chú số 16 phía trên, bản Duy Minh Thị đáng được nhận như bản gần bản gốc nhất của Nguyễn Du. Bản này là bản duy nhất được chọn trong quyển Kiều Tầm Nguyên của cố học giả họ Hoàng.
[8]Ðể ý ngày xưa phía Bắc cũng gọi Bông cho Hoa. Bông là tiếng thuần Nôm, Mường và Mã Lai gọi Bunga.
[9] Nguyễn Quảng Tuân (2001) Một vài nhận xét về sách Hán Nôm ở nước ngoài. Tạp Chí Văn Học, số 180, 4/2001, tr 23.
[10]Phạm Quỳnh (1997) Hành Trình Nhật Ký. Nxb Ý Việt – France.