Sách và máy điện toán, chiếc máy in và internet, một thư viện khổng lồ và một siêu văn bản trên chiếc CD bé xíu, người đọc hôm qua và người đọc hôm nay, vài câu thơ gói trọn thế gian và tờ New York Times Chủ nhật 500 trang ngồn ngộn... Mời các bạn xem bài giảng của học giả và nhà văn Ý Umberto Eco qua bản dịch của Vũ Ngọc Thăng.
Talawas
*
1.
Theo Plato (trong Phaedrus) khi Hermes – được cho là người phát minh ra chữ viết – giới thiệu phát minh của mình với Pharaoh Thamus ca ngợi kĩ thuật mới cho phép con người nhớ được những gì đã chìm vào quên lãng. Nhưng Pharaoh không thoả mãn: “Anh bạn Theut tài giỏi của tôi ơi! trí nhớ là một món quà vĩ đại, cần phải giữ nó sống động bằng cách luyện tập liên tục. Với phát minh của anh, thiên hạ sẽ không bị buộc phải luyện tập trí nhớ nữa. Họ sẽ nhớ sự việc không vì một cố gắng bên trong, mà vì tác dụng đơn thuần của một công cụ bên ngoài.”
Chúng ta có thể hiểu mối lo của Pharaoh. Chữ viết, cũng như bất cứ công cụ kĩ thuật mới nào khác, có thể làm trì độn năng lực con người nó thay thế và tăng cường – như xe hơi làm chúng ta bớt đi bộ. Chữ viết là một sự đe doạ vì nó giảm năng lực đầu óc bằng cách tặng con người một tâm hồn hoá đá, một biếm hoạ của lí trí, một trí nhớ khoáng chất.
Lẽ tự nhiên, văn bản của Plato có tính cách vui đùa pha chút châm biếm. Plato đang viết những luận cứ chống lại chữ viết. Nhưng ông ngụ ý rằng câu chuyện của ông được kể bởi Socrates, người không viết (vì Socrates không xuất bản, ông bỏ mạng trong cuộc chiến hàn lâm của ông).
Ngày nay, không ai chia sẻ nỗi lo ấy nữa, vì hai lí do rất giản dị. Thứ nhất, chúng ta biết rằng sách không phải là cái mà người khác suy nghĩ hộ chúng ta; ngược lại, nó là những cỗ máy kích động sự suy nghĩ. Chỉ sau khi có chữ viết mới có thể có một kiệt tác trên trí nhớ hồn nhiên như À la recherche du temps perdu (Tìm thời đã mất) của Proust. Thứ hai, nếu ngày xửa ngày xưa, thiên hạ cần luyện trí nhớ để nhớ những sự việc, thì khi có chữ viết họ cũng phải luyện trí nhớ để nhớ sách. Sách thách thức và làm trí nhớ tốt hơn; nó không gây mê trí nhớ.
Tuy nhiên, Pharaoh đang tức thời hoá một cái sợ muôn đời: cái sợ một thành tựu kĩ thuật mới có thể xoá bỏ hoặc huỷ diệt điều gì đó mà chúng ta xem là quí báu, hay đối với chúng ta, nó tượng trưng cho một giá trị tâm linh sâu sắc.
Pharaoh, như thể đã làm thế này, trước, chỉ tay lên những dòng chữ, sau đó, chỉ tay vào một hình ảnh lí tưởng của trí nhớ con người, và nói rằng: “Cái này sẽ giết cái kia.”
Hơn một ngàn năm sau, trong tác phẩm Notre Dame de Paris (Nhà thờ Ðức bà Pari), Victor Hugo giới thiệu cho người đọc một vị linh mục, Claude Frollo, trước, chỉ ngón tay vào một quyển sách, sau đó, vào cái tháp chuông và những hình ảnh trong ngôi Thánh đường yêu quí của ông, và nói rằng: “ceci tuera cela”, cái này sẽ giết cái kia. (Quyển sách sẽ giết cái Thánh đường, chữ cái sẽ giết hình ảnh).
Truyện Nhà thờ Ðức bà Pari xảy ra trong thế kỉ 15, trễ hơn phát minh về in ấn một chút. Trước đó, những văn bản chép tay được dành riêng cho những người biết-chữ. Vào thời đó phương tiện duy nhất để dạy quần chúng về những câu chuyện trong Kinh thánh, cuộc đời Chúa, các vị Thánh, các nguyên tắc đạo đức, những chiến công của lịch sử, quan niệm căn bản về địa lí, hoặc khoa học tự nhiên (đặc tính của các dân tộc xa lạ, phẩm chất của dược thảo hay đá quí) đều qua hình ảnh cuả Thánh đường. Một Thánh đường thời Trung cổ là một chương trình truyền hình không ngừng phát và không thay đổi, dùng để chỉ cho quần chúng tất cả những gì thiết yếu của đời sống hằng ngày cũng như cho việc cứu rỗi họ. Sách sẽ khiến họ lơ là trước những giá trị quan trọng nhất, khuyến khích những thông tin không cần thiết, sẽ tự do giải thích Kinh thánh, và gây tò mò không lành mạnh.
2.
Vào những năm sáu mươi, Marshall McLuhani viết The Gutenberg Galaxy (Thiên hà Gutenberg). Trong đó ông tuyên bố rằng cách suy tư tuyến tính do sự phát minh của nhà in đang trên đà bị thay thế bằng một cách cảm nhận và hiểu biết toàn diện hơn qua hình ảnh truyền hình hoặc các công cụ điện tử khác. Nếu không phải McLuhan, chắc chắn nhiều trong số những người đọc ông sẽ chỉ tay, trước, vào một thư viện điện tử ở Manhattan, sau đó, vào một quyển sách in và nói rằng “cái này sẽ giết cái kia.”
Phương tiện truyền thông cần một thời gian nhất định để chấp nhận ý niệm cho rằng nền văn minh của chúng ta đang trên đà trở thành một nền văn minh định hướng bởi hình ảnh – có thể sẽ mang đến sự xuống dốc của nền giáo dục biết-chữ (literacy). Ngày nay, điều ấy là một khẩu hiệu chung cho mọi thứ báo ảnh hàng tuần. Cái đáng chú ý là, ngay đúng vào giai đoạn phương tiện truyền thông bắt đầu ăn mừng sự xuống dốc của nền giáo dục biết-chữ và ngay vào giai đoạn hình ảnh đang tràn trề sức mạnh, thì trên vũ đài toàn cầu xuất hiện chiếc máy điện toán.
Chắc chắn rằng, máy điện toán là một công cụ qua đó người ta có thể sản xuất và xử lí hình ảnh nhưng trước hết là công cụ với một bộ chữ cái. Những chỉ dẫn sẽ được đáp ứng qua những biểu tượng (icons); Trên màn hình hàng hàng con chữ chạy nhảy, và để dùng máy điện toán bạn phải có khả năng đọc và viết. Thế hệ mới của những người dùng máy điện toán được huấn luyện để đọc với một vận tốc khó tin. Một vị giáo sư hoài cổ hôm nay không có khả năng đọc nhanh trên màn hình máy điện toán như một cô cậu choai choai. Những cô cậu ấy, nếu có cơ hội, phải lập trình trên máy điện toán của họ tại nhà. Họ phải biết những qui trình lô-gích và al-gô-rít, và phải nhấn phím với một tốc độ cao. Theo nghiã này, có thể nói chiếc máy điện toán đã đưa chúng ta trở lại thiên hà Gutenberg.
Những ai thức cả đêm cho một cuộc chuyện trò như bất tận trên mạng internet, cơ bản là đang xử sự với chữ nghĩa. Nếu màn ảnh truyền hình có thể xem là một khung cửa sổ lí tưởng, qua đó người ta có thể nhìn toàn bộ thế giới dưới dạng hình ảnh, thì màn hình máy điện toán là một quyển sách lí tưởng, trong đó người ta có thể đọc những gì thuộc về thế giới dưới dạng chữ và hình.
Chiếc máy điện toán cổ điển cung ứng một loại thông tin tuyến tính bằng chữ viết. Màn ảnh trình ra những dòng chữ viết. Như thể một quyển sách-đọc-liền.
Nhưng giờ đây, người ta có siêu văn bản (hypertext). Với một quyển sách, một người phải đọc từ trái qua phải (hoặc từ phải qua trái, hay từ trên xuống dưới, tuỳ theo các nền văn hoá khác nhau) trong một cung cách tuyến tính. Ðương nhiên, người ta có thể nhảy cóc từ trang này đến trang khác và phải bỏ ra một công. Ngược lại, một siêu văn bản là một mạng đa chiều trong đó bất cứ một điểm hoặc một nút thắt nào có thể có tiềm năng liên lạc với bất cứ điểm hoặc nút thắt nào khác một cách dễ dàng.
Vậy chúng ta đã đến phần cuối câu chuyện cái này-sẽ-giết-cái kia của chúng ta. Càng ngày người ta càng cho rằng trong tương lai gần, siêu văn bản dạng CD-rom sẽ thay thế sách.
3.
Trước một đĩa siêu văn bản, những trang sách thông thường được cho là sẽ trở thành cổ lỗ sĩ. Nếu để ý, bạn sẽ thấy một siêu văn bản thông thường còn mang tính đa-truyền (multimedial), toàn bộ đĩa siêu văn bản trong tương lai sẽ thay thế không chỉ sách mà cả những băng vi-đê-ô và nhiều thứ khác kèm theo chúng.
Bây giờ chúng ta phải tự hỏi, nếu một viễn cảnh như thế là thực tế hay thuần tuý là một khoa học giả tưởng? – cũng như phải tự hỏi, nếu sự phân biệt giữa sách và siêu văn bản cũng giản dị như sự phân biệt giữa thông tin bằng hình ảnh và thông tin bằng chữ cái? Hãy để tôi kê ra một loạt những vấn đề và những viễn cảnh có thể có trong tương lai.
Ngay cả sau sự phát minh cuả in ấn, sách chưa bao giờ là một công cụ lưu giữ tin duy nhất. Ðã có hội hoạ, tranh dân gian, truyền miệng, v..v. Nhưng sách, dù sao, cũng vẫn là phương tiện quan trọng nhất để chuyển tải thông tin khoa học, gồm cả tin tức về những sự kiện lịch sử. Theo nghĩa này, sách là công cụ đứng đầu dùng trong nhà trường.
Với sự truyền bá của những phương tiện truyền thông đại chúng khác nhau, từ điện ảnh cho đến truyền hình, bắt buộc phải có những thay đổi. Nhiều năm trước đây, cách duy nhất để học một ngôn ngữ ngoại quốc (để ra ngoài chuyện đi du lịch nước ngoài) là học từ sách. Bây giờ, thường thì con cái chúng ta biết ngôn ngữ khác qua nghe đĩa, qua xem phim tiếng gốc, qua giải đoán những chỉ dẫn in trên lon nước ngọt. Ðối với những thông tin về địa lí sự thể cũng theo chiều hướng tương tự. Thời thơ ấu, tôi được những thông tin hấp dẫn nhất không từ những sách học, mà từ những tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm (Jules Verne, chẳng hạn). Những đứa con tôi, từ khi còn rất nhỏ đã biết nhiều hơn tôi, trên cùng một đề tài, thông qua truyền hình và phim ảnh. Một người có thể học rất có kết quả về chuyện đế quốc La-mã qua phim – giả dụ rằng những phim này đúng đắn về lịch sử. Cái dở của Hollywood là không thử thách phim của họ với những quyển sách của Tacitus hoặc của Gibbon, nhưng lại áp đặt một lối diễn giải tiểu thuyết và hoạt hình hổ lốn trên cả Tacitus lẫn Gibbon.
Một chương trình giáo dục truyền hình hay (chưa nói về CD-ROM) có thể giải thích di truyền học tốt hơn một quyển sách.
Hôm nay, khái niệm biết-chữ bao gồm nhiều phương tiện truyền thông. Một chính sách khai sáng về giáo dục biết-chữ phải quan tâm đến khả năng của tất cả những phương tiện truyền thông ấy. Chăm lo giáo dục phải mở rộng cho toàn thể bộ máy truyền thông. Trách nhiệm và phận sự phải được cân đo cẩn thận. Nếu để học ngôn ngữ, băng tốt hơn sách. Nếu một giới thiệu về Chopin, với những dẫn giải trên bìa đĩa nhạc giúp người nghe hiểu được nhạc sĩ, không nên quá lo nếu không có người mua bộ lịch sử âm nhạc 5 cuốn.
Nếu quả thực hôm nay thông tin nhìn lấn áp thông tin viết, thì cũng không nên đối nghịch thông tin viết với thông tin nhìn. Vấn đề là làm tốt cả hai. Trong thời Trung cổ thông tin nhìn với quần chúng quan trọng hơn thông tin viết. Nhưng Thánh đường Chartres về văn hoá không kém một Imago Mundi of Honorius of Autun (di tích nổi tiếng vùng đông nam Pháp). Thánh đường là máy truyền hình của thời đó, và sự khác nhau với máy truyền hình của thời chúng ta là ở chỗ những giám đốc truyền hình thời Trung cổ – đọc những sách hay, có nhiều tưởng tượng, và làm việc vì lợi ích của công chúng (hay ít nhất là những gì họ tin là có lợi cho công chúng).
Nhưng, thực ra vấn đề nằm ở chỗ khác. Thông tin nhìn phải cân đối với thông tin nói, và thông tin viết là quan trọng tính chính xác. Có lần, một nhà kí hiệu học, Sol Worth, viết một bài tham luận, “Hình ảnh không thể nói Chúng Không Là”. Tôi có thể thốt nên lời “con kì lân không hiện hữu” nhưng nếu tôi đưa ra hình ảnh con kì lân thì con kì lân ở tại đây. Hơn nữa, con kì lân mà tôi thấy là một con kì lân hay là con kì lân, có nghĩa là, hình ảnh là một con kì lân hay là con kì lân nói chung?
Vấn đề không phải những nhà luận lí và kí hiệu học thích viết hết trang giấy này sang trang giấy khác để nói lên sự khác biệt giữa những diễn đạt như: một đứa trẻ, đứa trẻ, đứa trẻ này, tất cả những đứa trẻ, tuổi thơ như một ý tưởng phổ quát. Những phân biệt như thế không dễ trình bày qua hình ảnh. Nelson Goodman trong Languages of Arts (Ngôn ngữ nghệ thuật), tự hỏi, một tấm ảnh đại diện một người đàn bà có phải là: một tấm ảnh đại diện một cách phổ quát những người Ðàn bà? Chân dung của một người đàn bà định sẵn? Một thí dụ về những đặc điểm phổ quát của một người đàn bà? cái tương đương của lời tuyên bố: có một người đàn bà đang nhìn tôi?
Có thể nói, trong một bích chương hay một sách hoạ hình, lời thuyết minh hoặc một dạng thức viết nào đó kèm theo là để giúp ta có thể hiểu thêm ý nghĩa của hình ảnh. Nhưng tôi muốn nhắc bạn về một phương tiện tu từ gọi là thí dụ. Aristotle đã dành vài trang thú vị về nó. Ðể thuyết phục một người nào đó về một đề tài cho sẵn, cách dễ nhất là dùng một chứng minh bằng phương pháp qui nạp. Trong quá trình qui nạp, tôi đưa ra nhiều trường hợp rồi suy luận trên chúng để từ đó có thể rút ra một qui luật chung. Chẳng hạn, tôi muốn chứng tỏ rằng những con chó là thân thiện và yêu chủ. Tôi sẽ đưa ra nhiều trường hợp trong đó một con chó đã tỏ sự thân thiện và có ích cho chủ, rồi gợi ý là phải có một qui luật chung theo đó mỗi con vật thuộc loài chó là thân thiện và yêu chủ.
Giả thử bây giờ tôi muốn thuyết phục bạn rằng những con chó là nguy hiểm. Tôi có thể làm điều này bằng cách cho bạn một thí dụ: “Có lần, một con chó cắn chết người chủ của nó…..” Như bạn có thể hiểu một cách dễ dàng, một trường hợp đơn lẻ chẳng chứng tỏ gì cả, nhưng nếu thí dụ đã gây sốc, và tôi, một cách khôn ngoan, gợi ý là những con chó có thể không thân thiện, khi bạn được thuyết phục là có khả năng xảy ra như thế, tôi có thể ngoại suy tỉnh khô một qui luật từ một trường hợp đơn lẻ và kết luận: “điều này có nghĩa là những con chó không thể tin được.” Qua sự sử dụng phương tiện tu từ thí dụ, tôi đã dời một chú chó sang tất cả những chú chó..
Nếu bạn có đầu óc phê phán, bạn có thể nhận ra rằng tôi đã dẫn dắt một diễn đạt nói (một con chó dữ), và biến nó thành một diễn đạt nói khác (tất cả các con chó đều dữ), không cùng nghĩa. Nhưng nếu thí dụ là hình ảnh thay vì lời nói, phản ứng phê phán sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Nếu tôi cho bạn thấy hình ảnh dữ dằn của một con chó nào đó đang cắn chủ nó, thì rất khó phân biệt giữa một câu phán đoán cho một trường hợp riêng lẻ và một câu phán đoán cho trường hợp chung. Rất dễ cho rằng con chó ấy là đại diện cho cả giống chó. Hình ảnh chuyên chở, để có một cách nói, một thứ quyền lực pla-tô-ních, nó đã chuyển những ý niệm cá biệt sang những ý niệm phổ quát.
Cho nên, qua thông tin và giáo dục thuần hình ảnh, người ta dễ dàng hơn trong việc thực thi những chiến lược thuyết phục, những chiến lược làm giảm năng lực phê phán của chúng ta. Nếu tôi đọc báo thấy một người đàn ông nói rằng: “chúng tôi muốn ông X làm tổng thống”, tôi ý thức rằng tôi nhận được ý kiến từ người đàn ông ấy. Nhưng nếu xem truyền hình thấy một người đàn ông hăng hái nói: “chúng tôi muốn ông X làm tổng thống”, người ta dễ lấy ý muốn cá nhân người ấy làm mẫu cho ý muốn chung.
4.
Tôi thường nghĩ, xã hội chúng ta trong một thời gian ngắn sẽ phân chia (hoặc đã phân chia rồi) thành hai giai cấp công dân: những người xem truyền hình, nhận những hình ảnh tiền chế và như thế có những định nghĩa tiền chế về thế giới mà không có chút khả năng nào để lựa chọn một cách có phê phán loại thông tin họ nhận được; và những người biết xử dụng máy điện toán, những người có khả năng chọn và xử lí thông tin. Ðiều này sẽ thiết lập lại hình thức phân công văn hoá như đã tồn tại vào thời của Claude Frollo, giữa những người có khả năng đọc những văn bản chép tay – và như thế họ có thể xử sự một cách có phê phán với những vấn đề tôn giáo, khoa học hoặc triết học; và những người chỉ được giáo dục bởi những hình ảnh của ngôi Thánh đường, đã được lựa chọn và sản xuất bởi những chủ nhân họ – một số ít người biết-chữ.
Một nhà văn khoa học giả tưởng có thể tỉ mỉ soạn thảo nhiều điều về một thế giới tương lai trong đó phần lớn những người vô sản chỉ nhận được thông tin nhìn, do một nhóm nhỏ đặc quyền những người biết-máy điện toán lên kế hoạch.
Có hai loại sách: loại để đọc và loại để tham khảo.
Về loại sách-để-đọc (có thể là một tiểu thuyết, một nghiên cứu triết học, hoặc một phân tích xã hội học…). Cách đọc thông thường, tôi gọi là cách đọc truyện trinh thám. Bạn bắt đầu từ trang 1, nơi tác giả cho biết một tội ác đã phạm phải, rồi tiếp tục lần theo mọi con đường điều tra, cuối cùng bạn khám phá rằng tội phạm là người quản gia. Chấm dứt sách và chấm dứt kinh nghiệm đọc của bạn. Hãy nhớ là, sự thể cũng diễn ra y như thế, ngay cả khi bạn đọc tác phẩm Discourse de la Methode (Diễn từ về Phương pháp) của Descartes. Tác giả muốn bạn mở sách từ đầu trang, đi tiếp một loạt những nghi vấn ông đề ra, rồi xem bằng cách nào ông đạt đến những kết luận nhất định sau cùng. Chắc chắn rằng, một học giả, đã biết tác phẩm này, có thể đọc lại nó bằng cách nhảy từ trang này sang trang khác, tìm cách rút ra những liên hệ có thể có giữa một phát biểu của chương đầu và một phát biểu của chương cuối….Một học giả cũng có thể quyết định rút ra, chẳng hạn, mỗi lần xuất hiện của chữ Jerusalem trong số mênh mông những tác phẩm của Thomas Aquinas, và mỗi lần như thế sẽ nhảy hàng ngàn trang để tập trung sự chú ý, của ông ta hoặc bà ta, chỉ trên những đoạn nói đến Jerusalem….Nhưng đấy là cách đọc mà một người bình thường có thể cho là không tự nhiên.
Về loại sách-để-tham khảo, như loại sách cẩm nang chỉ dẫn và những tự điển bách khoa. Ðôi khi sách cẩm nang chỉ dẫn phải được đọc từ đầu đến cuối; nhưng một người đã biết vấn đề, có thể chỉ tham khảo những đoạn hoặc chương nhất định. Hồi học trung học, tôi phải đọc một cách tuyến tính toàn bộ cuốn cẩm nang chỉ dẫn toán học; bây giờ, nếu cần một định nghĩa chính xác về lô-ga-rít, tôi chỉ tham khảo. Tôi giữ cuốn cẩm nang chỉ dẫn ấy trên ngăn tủ, không để đọc đi đọc lại mỗi ngày, nhưng để ôn lại nó 10 năm một lần và để tìm cái tôi cần tham khảo.
Những bộ bách khoa được soạn ra chỉ để tham khảo, không để đọc từ trang đầu đến trang cuối. Thông thường, người ta lấy một quyển trong bộ bách khoa ra để biết hay để nhớ khi nào Napoleon chết, hoặc để biết công thức nào là của acid sulfuric. Những nhà nghiên cứu xử dụng bộ bách khoa một cách tinh vi hơn. Chẳng hạn, nếu tôi muốn biết có thể nào Napoleon gặp Kant hay không, tôi phải lấy quyển mang mẫu tự K và quyển mang mẫu tự N của bộ bách khoa của tôi: rồi thấy là Napoleon sinh năm 1769 và chết năm 1821, Kant sinh năm 1724 và chết năm 1804, lúc Napoleon đã lên ngôi hoàng đế. Thế thì, không phải không thể xẩy ra chuyện hai người gặp nhau. Ðại loại, tôi phải tham khảo một cuốn tiểu sử về Kant, hoặc về Napoleon – nhưng ở một cuốn tiểu sử ngắn về Napoleon, người đã gặp không biết bao nhiêu người trong cuộc đời, khả năng gặp Kant có thể được gạt đi, trong lúc trong một cuốn tiểu sử về Kant, một cuộc gặp gỡ với Napoleon chắc chắn sẽ được ghi lại. Ngắn gọn, tôi phải lật xuyên suốt nhiều quyển sách trong nhiều ngăn tủ trong thư viện của tôi, tôi phải ghi chú để sau đó so sánh tất cả những dữ kiện thu thập được. Như thế, tất cả đòi hỏi một lao động thể chất cực nhọc.
Với một siêu văn bản, ngược lại, tôi có thể thăm dò toàn bộ bộ bách khoa. Tôi có thể liên hệ một sự kiện ghi ở phần đầu với một loạt những sự kiện tương tự rải dọc theo văn bản, so sánh phần đầu với phần cuối, rút ra một danh sách của tất cả những chữ bắt đầu bằng A, rút ra tất cả những trường hợp tên của Napoleon dính dáng đến tên của Kant, so sánh ngày sinh và ngày mất của họ – ngắn gọn, tôi có thể làm cái việc mất nhiều công sức kia chỉ trong vài giây hoặc vài phút.
Siêu văn bản chắc chắn sẽ làm những bộ bách khoa và sách cẩm nang chỉ dẫn lỗi thời. Với một vài CD-ROM người ta có thể để nhiều thông tin hơn bộ bách khoa Britannica, với lợi điểm là có thể tham khảo và rút tỉa thông tin một cách chồng chéo và không tuyến tính. Toàn bộ những đĩa com-pắc, cộng với hệ thống máy điện toán chỉ chiếm khoảng 1/5 chỗ của bộ Britannica. Những bộ bách khoa không dễ di chuyển như những CD-ROM, chúng cũng không thể cập nhật hoá một cách dễ dàng. Những ngăn tủ đầy ắp hôm nay, ở nhà tôi cũng như ở các thư viện, bởi hàng thước những bộ tự điển bách khoa, trong tương lai sẽ được giải thể, và không có lí do gì phải phản đối sự biến mất của chúng.
Có thể nào siêu văn bản thay thế sách-để-đọc? Câu hỏi này, thật ra, ngầm chứa hai vấn đề khác nhau và có thể sắp xếp lại thành hai câu hỏi khác nhau:
1) Câu thứ nhất có tính thực hành: có phương tiện điện tử nào đó có thể thay thế sách-để-đọc được không?
2) Câu thứ hai có tính lí thuyết và thẩm mĩ: có thể nào siêu văn bản và CD-Rom multimedial làm biến đổi về bản chất sách-để-đọc, chẳng hạn như một tiểu thuyết hoặc một tập thơ không?
Cho phép tôi trả lời câu hỏi thứ nhất trước.
Sách sẽ luôn luôn thiết yếu không chỉ cho văn học, mà cho cả bất cứ trường hợp nào một người cần đọc cẩn trọng, không chỉ để nhận thông tin mà cả để phán đoán và suy nghĩ về nó. Ðọc trên màn hình máy điện toán không giống như đọc một quyển sách. Hãy nghĩ về quá trình học lập một trình ứng dụng. Thông thường, một trình ứng dụng có khả năng trình bày trên màn hình tất cả những chỉ dẫn cần thiết. Thông thường, những người dùng muốn học nó thì hoặc là in những chỉ dẫn và đọc như dạng một cuốn sách, hoặc mua cuốn cẩm nang chỉ dẫn về nó (xin phép cho tôi đánh giá thấp sự việc là hiện thời tất cả những chỉ dẫn giúp đỡ trong máy, rõ ràng là được viết bởi những tay ngốc nghếch vô trách nhiệm và yêu sự thừa thãi, trong lúc những cuốn cẩm nang chỉ dẫn bán ở ngoài được viết bởi những người khôn khéo hơn). Người ta có thể thực hiện một lập trình-điện toán dựa trên hình ảnh nhằm giải thích rất rõ là làm thế nào để in xếp một quyển sách, nhưng để có những chỉ dẫn là làm thế nào để viết (hoặc để dùng) một lập trình-điện toán, cần phải có một quyển sách cẩm nang chỉ dẫn.
Sau khi ngồi sử dụng không quá 12 giờ trước một trạm máy điện toán, đôi mắt của tôi như hai quả banh tennis. Tôi thấy cần thoải mái ngồi xuống cái ghế bành và đọc một tờ báo hoặc một bài thơ hay. Tôi cho rằng máy điện toán đang truyền bá một hình thái biết-chữ mới nhưng không có khả năng thoả mãn tất cả những nhu cầu tri thức chúng đang khơi lên.
Trong những thời khắc lạc quan, tôi mơ đến một thế hệ dùng máy điện toán, vì bị buộc phải đọc trên màn hình, và làm quen với cách đọc này. Nhưng đến lúc nào đó cảm thấy không thoả mãn, tôi sẽ đi tìm một hình thái đọc khác, thư dãn hơn, và gắn bó theo kiểu khác.
5.
Trong một cuộc hội thảo về tương lai của sách tại đại học San Marino (những tham luận đã được nhà Brepols xuất bản), Regis Debray đưa ra một quan sát cho rằng, sự kiện nền văn minh Hebrew là một nền văn minh dựa trên một Quyển Sách là không độc lập với sự kiện nó là một nền văn minh du mục. Tôi nghĩ rằng lưu ý này rất quan trọng. Những người Ai-cập đã khắc những dữ liệu của họ trên những cái Rốn-trụ đá (Obelisk)ii, Moses không thể làm như vậy. Nếu bạn muốn băng ngang Biển Ðỏ, một quyển sách-cuộn (scroll) là một công cụ thực tế hơn để lưu trữ trí khôn. Cũng để nhắc, một nền văn minh du mục khác, nền văn minh Á-rập, đã dựa trên một quyển sách, và ưu tiên chữ viết hơn hình ảnh.
Nhưng sách cũng có một lợi điểm hơn so với máy điện toán. Dù hiện nay chỉ giữ sách được khoảng 70 năm iii do phải in trên loại giấy có acid thì sách cũng sống lâu hơn các đĩa từ. Hơn nữa, sách không sợ bị thiếu hoặc cúp điện, và bền hơn trước những cú sốc. Cho tới nay, sách vẫn tượng trưng cho sự tiết kiệm, dễ thích ứng, tiện lợi cho sự di chuyển thông tin với giá thành thấp.
Thông tin bằng máy điện toán đi trước bạn còn sách đi cùng bạn với vận tốc của bạn. Nếu bạn bị chìm tàu, trôi dạt vào một hải đảo trống vắng, lúc không có chỗ nào để cắm một máy điện toán, một quyển sách có thể cần hơn. Cho dù máy điện toán của bạn chạy bằng năng lượng mặt trời, bạn cũng không dễ đọc khi phải ngồi trên một cái võng hoặc một cái ghế bố.
Cho mục đích nghiên cứu, một quyển sách có thể biến thành một CD-ROM siêu văn bản. Một nhà nghiên cứu có thể cần biết, chẳng hạn như, bao nhiêu lần chữ thiện (good) xuất hiện trong Paradise Lost (Thiên đàng đánh mất).
Tuy nhiên, ngày nay người ta thấy siêu văn bản định có thể định ra một số thi pháp mới. Việc này dẫn đến một quyển sách, một bài thơ, cũng có thể biến thành một siêu văn bản. Tới đây, chúng ta bước vào câu hỏi thứ hai, vì vấn đề không chỉ còn ở phạm vi thực hành nữa: nó đụng đến thực chất quá trình đọc.
Qua cách hình dung dạng siêu văn bản, ngay cả một truyện trinh thám cũng có thể có một cấu trúc mở, bản thân người đọc có thể lựa một lộ trình-đọc cho sẵn, có nghĩa là, họ có thể dựng lên một câu chuyện của riêng mình – dù để quyết định là kẻ tội đồ hay là tay thám tử thay vì người quản gia.
Ý tưởng ấy không phải là mới. Trước sự phát minh ra máy điện toán, những nhà thơ và những người kể truyện đã mơ về một văn bản hoàn toàn mở trong đó người đọc có thể viết lại vô số lần bằng những cách khác nhau. Ðấy là ý tưởng về Le Livre (Quyển Sách), như được tán dương bởi Mallarmé; Joyce nghĩ về tác phẩm Finnegans Wake của ông như một văn bản có thể được đọc bởi một người đọc lí tưởng nhiễm một căn bệnh mất ngủ lí tưởng. Trong những năm 60, Max Saporta viết và xuất bản một cuốn tiểu thuyết mà những trang của nó có thể dời đổi để soạn thành những câu chuyện khác nhau. Nanni Balestrini dùng một danh sách những câu thơ rời rạc như dữ liệu cho một máy điện toán ở thời kì đầu, để trong những cách thức xử lí khác nhau, máy soạn ra những bài thơ khác nhau; Raymond Queneau phát minh ra một phương pháp al-gô-rít hỗn hợp qua đó có thể soạn, từ một nhóm nhất định những câu thơ, ra hàng tỉ bài thơ. Nhiều nhà soạn nhạc đương đại đã sản xuất ra những nhạc bản dời đổi được, và như thế tuỳ theo cách xử lí chúng người ta có thể soạn ra những diễn tấu khác nhau. Như bạn có thể hình dung, ngay cả ở đây người ta phải đối diện với hai vấn đề khác nhau.
– Ðiều đầu tiên là ý tưởng về một văn bản có thể dời đổi được một cách vật lí. Một văn bản kiểu ấy có thể cho ấn tượng về một sự tự do tuyệt đối phía người đọc; nhưng đây chỉ là một ấn tượng, một ảo tưởng về tự do. Bộ máy duy nhất cho phép người ta sản xuất ra vô số văn bản đã từng hiện hữu từ cả thiên niên kỉ nay, đấy là bộ chữ cái. Với một ít chữ, người ta thực sự có thể sản xuất hàng tỉ văn bản, đây là điều, một cách chính xác, đã được làm từ Homer cho đến nay. Một văn bản-kích gợi (stimulus-text) – trong đó không cung cấp cho chúng ta những chữ hoặc những từ nhưng cung cấp những chuỗi từ tiền-ấn định hoặc những trang – không đem đến cho chúng ta những điều kiện tự do để sáng tác những gì chúng ta muốn. Chúng ta chỉ có tự do dời đổi, trong một số có hạn, những cách thức tiền-ấn định hiểm hóc về văn bản.
Phần tôi, với tư cách người đọc, có được sự tự do – như được gợi ý ở trên – ngay cả khi tôi đọc một truyện trinh thám cổ truyền. Không ai cấm tôi có quyền tưởng tượng một kết cục khác. Hãy lấy một tiểu thuyết trong đó cả hai người tình đều từ giã cõi đời, tôi, người đọc, có thể hoặc khóc về số phận của họ, hoặc tìm cách tưởng tượng một kết cục khác: họ sống sót và chung sống hạnh phúc suốt đời. Về mặt nào đó, tôi, người đọc, cảm thấy tự do với một văn bản có định (finite text) một cách vật lí, tôi có thể suy tưởng về nó hằng năm và như thế thú vị hơn là với một văn bản dời đổi với vài xử lí được cho phép.
– Khả năng này đưa chúng ta đến vấn đề thứ hai liên quan đến một văn bản có định (finite) và có hạn (limited) một cách vật lí, nhưng có thể diễn giải bằng vô số cách, hoặc ít nhất bằng nhiều cách. Ðây thực tế là mục tiêu của mỗi nhà thơ hoặc người kể truyện. Nhưng chính một văn bản mà có thể gợi nhiều diễn giải không phải là một văn bản có thể gợi bất cứ một diễn giải nào đó.
Tôi nghĩ rằng chúng ta đối diện với ba ý niệm khác nhau về siêu văn bản. Trước nhất, chúng ta cần một sự phân biệt cẩn thận giữa hệ thống và văn bản. Một hệ thống (chẳng hạn một hệ thống ngữ học) là toàn thể những khả năng trình bày từ một ngôn ngữ tự nhiên có sẵn. Bất cứ một phương tiện ngữ học nào cũng có thể diễn giải trong khuôn khổ những phương tiện ngữ học hoặc kí hiệu học khác, một từ bởi một định nghĩa, một sự việc bởi một thí dụ, một hiện tượng tự nhiên bởi một hình ảnh, v.v…và..v.v… Hệ thống có thể có định nhưng vô hạn (unlimited). Như một vận động vòng xoắn vô tận. Trong nghĩa này, chắc chắn tất cả những quyển sách có thể hình dung là được nén lại bởi và trong phạm vi một cuốn tự điển tốt và một hệ ngữ pháp tốt. Nếu bạn có khả năng dùng tự điển Webster, bạn có thể viết cả Paradise lost và Ulysses.
Dĩ nhiên, nếu quan niệm như thế, một siêu văn bản có thể biến mỗi người đọc thành một nhà văn. Thử đưa cùng một hệ thống siêu văn bản cho Shakespeare và một cậu học trò, thì cả hai đều có cái thách thức ngang nhau để sản xuất ra Romeo and Juliet.
Tuy nhiên một văn bản không phải là một hệ thống ngữ học hoặc một hệ thống bách khoa. Một văn bản có sẵn giảm những khả năng vô định và vô hạn của một hệ thống để làm nên một vũ trụ đóng. Finnegans Wake chắc chắn mở ra cho nhiều diễn giải, nhưng chắc nó sẽ không bao giờ cho bạn một chứng minh về định đề của Fermativ, hoặc một thư mục đầy đủ về Woody Allen. Ðiều này có vẻ nhỏ nhặt, nhưng cái sai lầm triệt để của những người giải-cấu trúc (deconstructionists) vô trách nhiệm là tin rằng người ta có thể làm bất cứ điều gì mình muốn với một văn bản. Ðây là một sự giả tạo hiển nhiên. Một siêu văn bản là có định và có hạn, dù rằng nó mở ra rất nhiều tìm tòi không đếm nổi và mới lạ.
Siêu văn bản có thể làm việc rất tốt với hệ thống, siêu văn bản không thể làm việc với văn bản. Hệ thống là có hạn nhưng vô định. Văn bản là có hạn và có định, dù nó có thể cho phép một số lượng lớn những diễn giải có thể có (nhưng nó không biện hộ cho tất cả những diễn giải có thể có).
Tuy nhiên, có một khả năng thứ ba. Chúng ta có thể hình dung những siêu văn bản vô hạn và vô định. Mỗi một người dùng máy có thể thêm vào điều gì đó, và bạn có thể thể hiện vào máy một câu chuyện không có đoạn kết kiểu nhạc jazz. Ðến điểm này, khái niệm cổ truyền tác gia chắc chắn biến mất, và chúng ta có một cách mới để thể hiện vào máy sự sáng tạo tự do. Là tác giả của Open Work (Tác phẩm mở) tôi không thể không chào đón khả năng ấy. Tuy nhiên, có một khác biệt giữa sự thể hiện vào máy hoạt động sản xuất văn bản và sự tồn tại của những văn bản đã được sản xuất. Chúng ta sẽ có một nền văn hoá mới trong đó sẽ có sự khác nhau giữa sản xuất văn bản vô định và diễn giải văn bản chính xác và có định. Ðó là điều xảy ra trong văn hoá hiện nay, trong đó chúng ta đánh giá một cách khác nhau mỗi lần nghe một diễn tấu thâu lại giao hưởng số 5 của Beethoven và mỗi lần nghe một buổi tụ họp chơi ngẫu hứng của những nhạc sĩ New Orleans (New Orleans Jam Session).
6.
Chúng ta đang diễn hành về một xã hội được giải phóng hơn trong đó sáng tạo tự do sẽ chung sống với diễn giải văn bản. Tôi thích điều này. Nhưng chúng ta phải không nói rằng chúng ta đã thay một điều cũ bằng một điều khác. Chúng ta có cả hai, cảm ơn Trời. Ðiều khiển theo ý muốn hình ảnh truyền hình là loại hoạt động chẳng dính dáng gì đến xem phim. Một công cụ siêu văn bản tạo điều kiện cho sự sáng tạo những văn bản mới không dính dáng gì đến tài năng diễn giải của chúng ta trước những văn bản đã có.
Vẫn có một lẫn lộn giữa và về hai câu hỏi: a) liệu máy điện toán sẽ làm sách trở nên lỗi thời? và b) liệu máy điện toán sẽ làm những dữ liệu viết và in lỗi thời?
Thử giả dụ rằng máy điện toán sẽ khiến sách biến mất. Ðiều này không có nghĩa là những dữ liệu in sẽ biến mất.
Máy điện toán tạo ra những phương thức sản xuất và truyền bá những dữ liệu in. Ðể đọc và sửa lại một văn bản, nếu không giản dị là một lá thư ngắn, người ta cần phải in ra, rồi đọc lại, rồi sửa tại máy và in lại lần nữa. Tôi không tin rằng người ta có thể viết và sửa một văn bản một trăm trang mà không in ra ít nhất một lần.
Người ta hi vọng máy điện toán, và đặc biệt là những trình xử lí chữ (word processors), có thể cứu vãn cây cối. Ai cũng thấy cơ may ấy chỉ ở dạng ước nguyện. Máy điện toán khuyến khích dữ liệu in. Chúng ta thử tưởng tượng về một nền văn hoá trong đó không có sách, và người ta đi đây đi đó với hàng tấn những trang giấy chưa đóng bìa. Ðiều này quả là khó khăn, và đặt một vấn đề mới cho những thư viện.
Con người mong muốn trao đổi thông tin với nhau. Trong những cộng đồng cổ xưa, họ thông tin qua lời nói; trong một xã hội phức tạp hơn, họ tìm cách làm điều đó bằng cách in ấn. Hầu hết những quyển sách trưng bày trong những hiệu sách có thể được định nghĩa là những sản phẩm của Vanity Presses [sách báo thời thượng], ngay cả nếu chúng được in bởi các nhà in đại học. Nhưng với kĩ thuật máy điện toán chúng ta đang bước vào một kỉ nguyên Samizdatv [tự xuất bản] mới. Con người có thể liên lạc trực tiếp không cần phải qua trung gian những nhà xuất bản. Nhiều người không muốn xuất bản, một cách giản dị, họ muốn thông tin với nhau. Hôm nay họ làm điều ấy bằng thư điện tử qua liên mạng, kết quả sẽ tạo ra một ưu thế lớn cho sách, cho nền văn minh sách và cho thị trường sách. Hãy nhìn vào một hiệu sách. Có quá nhiều sách. Hàng tuần tôi cũng vậy, nhận quá nhiều sách. Nếu mạng máy điện toán thành công trong việc giảm số lượng sách xuất bản, thì đấy là một sự cải thiện hàng đầu về văn hoá.
Một trong những ý kiến phản bác thường thấy để chống lại sự biết chữ giả tạo do máy điện toán tạo ra là việc nêu ra sự kiện những người trẻ càng ngày càng quen cách nói chuyện qua những dạng thức mật mã ngắn: dir, help, diskcopy, error 67, v..v. Một trong những dạng thức dùng để đóng mạng được dùng là cul8r. Ðây vẫn còn là biết-chữ?
Tôi là một người sưu tầm sách hiếm, và thấy vui thích khi đọc những tựa sách của thế kỉ 17, chiếm cả trang và có khi hơn nữa. Chúng giống như những tựa phim của nữ đạo diễn Lina Wertmullervi. Lời giới thiệu dài vài trang. Chúng bắt đầu với công thức được soạn thảo một cách nhã nhặn ca tụng người được đề tặng, thường thường là một vị Hoàng đế hoặc là một vị Giáo hoàng, và kéo dài trang này sang trang khác giải thích trong một phong thái hoa mĩ ba-rốc những mục đích và phẩm chất của văn bản để theo dõi sau đó.
Nếu những nhà văn thời ba-rốc đọc những sách nghiên cứu kinh viện của chúng ta có lẽ họ sẽ hãi vô cùng. Giới thiệu dài một trang, ngắn gọn tóm tắt nội dung chủ đề, cám ơn vài cơ quan quốc gia và quốc tế về món tiền trợ cấp hào phóng, giải thích vắn gọn rằng quyển sách có thể hoàn thành được là nhờ tình yêu và sự thông cảm hết lòng của một đấng phu nhân hoặc phu quân, cùng với các con, và ghi nhận công lao của người thư kí đã kiên nhẫn đánh bản thảo. Chúng ta hoàn toàn thông cảm toàn bộ sự thử thách cam go về con người và về phương diện học thuật bày tỏ qua những hàng chữ ấy, hàng trăm đêm dành để gạch đít những bản sao, một số lượng không đếm nổi những miếng hăm-bơ-gơ đông lạnh tiêu thụ một cách vội vã….
Nhưng hãy để tôi đoán: trong tương lai gần, chúng ta sẽ có vài ba dòng chữ nói rằng: “W/c, Smith, Rockefeller,” (được đọc là: tôi cám ơn vợ và con tôi; quyển sách này đã được kiên nhẫn xem lại bởi giáo sư Smith, và hoàn thành được là nhờ Quĩ Rockefeller.”)
Thế là cũng hùng hồn như một dẫn nhập Ba-rốc. Ðây là vấn đề của tu từ và của việc quen thuộc với một lối tu từ có sẵn. Tôi nghĩ trong tương lai những thông điệp tình yêu say đắm sẽ đuợc gửi dưới một loại chỉ dẫn ngắn, viết bởi một thứ ngôn ngữ kiểu ngôn ngữ lập trình Basic, dưới dạng thức “If…then”, hay nói cách khác, dạng thức ấy sẽ được dùng như một dữ liệu nhập (input) – để đạt được những thông điệp đại loại kiểu “Em yêu anh, nhưng em không thể chung sống với anh,” [I love you, therefore I cannot live with you] (một câu thơ hay của Emily Dickinson).
Cạnh đó, trong ngôn ngữ của dòng văn học làm dáng Anh – nếu trí nhớ tôi không lầm – đã có những cách dùng tiêu biểu đại loại như: “2B OR/NOT 2B” (to be or not to be); cách dùng đã được đưa vào danh sách những lối diễn tả cuả một vài loại ngôn ngữ lập trình.
Có một ý kiến đáng tò mò theo đó bạn càng dùng ngôn ngữ nói nhiều, bạn càng sâu sắc và càng nhạy cảm thụ hơn. Mallarmé nói với chúng ta rằng chỉ cần đánh vần lên “une fleur” (một đoá hoa) để khơi dậy cả một vũ trụ hương sắc, hình thể, và ý tưởng. Thường thường đối với thơ, càng ít chữ, càng nhiều sự việc. Ba câu thơ của Pascal nói nhiều hơn 300 trang của một luận thuyết đạo đức và siêu hình học dài và nhàm chán. Sự tìm tòi một nền giáo dục biết-chữ mới và sống động không phải là sự tìm tòi về một số lượng tiền-tin học. Ðối thủ của nền giáo dục biết-chữ là ở nơi khác.
Cho tới đây, tôi đã cố gắng trình bày rằng sự ra đời của những công cụ kĩ thuật mới không nhất thiết biến công cụ trước đó lỗi thời. Xe hơi chạy nhanh hơn xe đạp, nhưng xe hơi không làm xe đạp lỗi thời và không một cải tiến kĩ thuật nào có thể làm một chiếc xe đạp hơn như nó có. Ý kiến cho rằng một kĩ thuật mới xoá bỏ vai trò của kĩ thuật trước đó là quá giản lược. Sau sự phát minh của Daguerre [ảnh chụp], những họa sĩ không cảm thấy cần phải phục vụ như một nghệ nhân bắt buộc phải tái sản xuất lại hiện thực như chúng ta tin là chúng ta nhìn thấy. Nhưng không có nghĩa là sự phát minh của Daguerre chỉ khuyến khích hội hoạ trừu tượng. Có cả một truyền thống hội hoạ hiện đại đã không thể hiện hữu nếu không có ảnh chụp người mẫu, thử nghĩ về thí dụ của trường phái siêu-tả thực (hyper-realism) – hiện thực được nhìn dưới mắt người hoạ sĩ qua mắt máy chụp ảnh.
Chắc chắn sự xuất hiện của điện ảnh hoặc của những gánh hát đã khiến văn học nhẹ gánh được một số công việc liên quan đến việc kể truyện mà theo truyền thống nó phải làm. Nhưng nếu có một thứ gì đó như văn học hậu-hiện đại, thì nó hiện hữu bởi vì ảnh hưởng lớn lao của những gánh hát hoặc của điện ảnh. Cũng cùng lí do ấy mà hôm nay tôi không cần một bức chân dung mang vẻ trang trọng do một nghệ sĩ hiện đại vẽ. Tôi có thể gửi cho người yêu thắm thiết của tôi một tấm ảnh chụp trung thực và láng bóng. Nhưng sự thay đổi ấy trong chức năng xã hội của hội hoạ không làm hội hoạ lỗi thời, ngoại trừ sự thể là ngày hôm nay tranh chân dung không đảm nhận cùng một chức năng tiện lợi trong việc tạo ra chân dung một người (điều mà một bức ảnh chụp có thể làm tốt hơn và lại rẻ hơn), mà lại đảm nhận một chức năng để tán dương những nhân vật quan trọng và do đó việc đặt vẽ, việc thu mua, việc triển lãm những bức chân dung ấy mang những ý nghĩa trưởng giả.
Ðiều này có nghĩa là, khi một nền văn hoá đã được lịch sử cưu mang, chưa bao giờ xảy ra chuyện cái gì đó giết cái kia một cách giản dị. Chỉ có chuyện cái gì đó đã thay đổi cái kia một cách sâu sắc.
Tôi đã trích dẫn McLuhan, theo đó Thiên hà thấy được (Visual Galaxy) đã thay thế Thiên hà Gutenberg (sách). Như chúng ta đã thấy, một ít thập niên sau điều này không còn là sự thật. McLuhan từng tuyên bố chúng ta đang sống trong một Ngôi làng điện tử toàn cầu mới. Thật ra chúng ta đang sống trong một cộng đồng điện tử mới, đủ là toàn cầu, nhưng không phải là một ngôi làng – nếu nhìn làng có nghĩa như một nơi định cư trong đó con người có thể trực tiếp quan hệ qua lại với nhau.
Những vấn đề thực sự của một cộng đồng điện tử là như sau: (1) Cô đơn. Người công dân mới của cái cộng đồng mới này tha hồ tự do để phát minh ra những văn bản mới, tha hồ tự do để xoá những phân chia cổ truyền giữa tác gia và người đọc, nhưng sự nguy hiểm là ở chỗ – vì sự liên lạc với toàn thể thế giới qua phương tiện của một mạng toàn cầu – người ta cảm thấy cô độc. (2) Dư thừa thông tin và không đủ khả năng để lựa chọn và phân biệt thông tin. Tôi đã từng nói, tờ News York Times Chủ nhật chắc chắn là tờ báo nơi bạn có thể moi ra đủ mọi thứ để in. Bề dày 500 trang nói với bạn đủ mọi chuyện bạn cần biết về những sự kiện của tuần qua và những ý tưởng cho tuần tới. Tuy nhiên, một tuần lễ không thể đủ thời gian để đọc toàn bộ tờ báo số chủ nhật này. Có sự khác biệt nào không giữa một tờ báo nói đủ mọi chuyện mà chúng ta không thể đọc hết, và một tờ báo chẳng nói gì cả, có gì khác nhau giữa tờ News York Times và tờ Pravda?
Tuy nhiên nếu chịu khó bỏ qua chuyện ấy, người đọc News York Times có thể phân biệt ra được mục điểm sách, những trang dành cho chương trình truyền hình, phụ trang bất động sản..v..v. Người dùng internet không có cùng khả năng ấy. Chúng ta hôm nay không có khả năng phân biệt, ít nhất trong những lần thăm dò đầu, giữa một nguồn thông tin tin tưởng được và một nguồn thông tin vớ vẩn. Chúng ta cần một hình thái mới về khả năng phê phán, như một nghệ thuật chưa biết về sự chọn lựa và rút tỉa thông tin, ngắn gọn: một trí khôn mới, một môn học thực hành mới.
Xin phép cho tôi nói rằng trong viễn cảnh này, sách sẽ có một chức năng đứng đầu. Bởi vì khi bạn cần một cuốn cẩm nang chỉ dẫn để thăm dò internet, thì chúng tôi cũng cần một cuốn cẩm nang chỉ dẫn để xử lí một cách phê phán liên mạng-toàn cầu.
Hãy để tôi kết luận với một lời ngợi ca về cái thế giới có định và có hạn mà sách cung cấp cho chúng ta. Giả dụ bạn đang đọc Chiến tranh và Hoà bình của Tolstoj: bạn đang mong ước một cách tuyệt vọng rằng Natasha sẽ không nhận sự săn đón ngỏ lời của một anh chàng du thủ du thực khốn khổ là Anatolij; bạn mong ước một cách tuyệt vọng rằng chàng trai tuyệt vời là hoàng tử Andrej sẽ không từ giã cõi đời, rồi chàng và Natasha có thể sống hạnh phúc muôn đời bên nhau. Nếu bạn có Chiến tranh và Hoà bình trên một CD-ROM siêu văn bản và xử lí tuơng tác (interactive), bạn có thể viết lại câu chuyện của chính bạn, theo mong ước của bạn; bạn có thể sáng chế ra vô số Chiến tranh và Hoà bình, trong đó Pierre Besuchov thành công trong việc hạ sát Napoleon hoặc là, theo khuynh hướng của mình, bạn để Napoleon đánh bại hoàn toàn tướng Kutusov.
Than ôi, với một quyển sách bạn không thể làm được chuyện đó. Bạn buộc phải chấp nhận qui luật của Ðịnh Mệnh, và nhận ra rằng bạn không thể thay đổi Số Phận. Một tiểu thuyết siêu văn bản và xử lí tương tác cho phép chúng ta thực hành sự tự do và sự sáng tạo, và tôi hi vọng loại hoạt động sáng tạo như thế được áp dụng vào nhà trường trong tương lai. Nhưng tác phẩm chữ viết Chiến tranh và Hoà bình không đối kháng chúng ta với khả năng vô hạn của sự Tự do, mà với qui luật nghiêm khắc của sự Tất Yếu. Ðể là người tự do, chúng ta cũng cần phải học bài học này về sự Sống và cái Chết. Chỉ có sách là vẫn có thể cung ứng cho chúng ta một trí khôn như thế.
* Johannes Gutenberg (sinh, thập niên cuối thế kỉ 14 – mất, 1468?), nguời phát minh ra phương pháp in bằng bản kim khí tháo gỡ được ở phuơng Tây, đưa sự hiệu quả in ấn lên một trình độ mới. Cho đến thế kỉ 20, phuơng pháp này không thay đổi gì nhiều.
[1] Marshall McLuhan (1911 – 1980), lí thuyết gia truyền thông nguời Gia-nã-đại.
[2] Cột đá, thuờng đuợc dựng từng cặp trước các ngôi đền cổ Ai-cập với những trạm trổ và ghi chú có tính chất tôn giáo và tuởng nhớ các vị Hoàng đế.
[3] Hiện nay, ở duới một số loại sách có ghi chú rõ là đuợc in bằng giấy không có chất acid, có thể giữ lâu hơn.
[4] Pierre Fermat (1601 – 1665), nhà toán học Pháp, nguời đuợc cho là nhà sáng lập ra lí thuyết về số. Cùng với Descartes, ông là một trong hai nhà toán học đứng đầu cuả nửa đầu thế kỉ 17. Ðịnh đề toán học hóc buá nổi tiếng cuả ông gần đây mới được chứng minh.
[5] Samizdat, từ tiếng Nga, Sam, “tự mình”, và, izdatelstvo, “xuất bản”.
[6] Lina Wertmuller (1928 – ), nhà điện ảnh nữ nguời Ý nổi tiếng, bà vừa là người viết kịch bản vừa là đạo diễn những phim hài dựa trên đề tài muôn đời về sự tranh chấp tính dục nam-nữ trộn lẫn với những vấn đề chính trị, xã hội. Những phim cuả bà thường có những tựa đề dài và khó có thể nhầm lẫn, chẳng hạn như: Mimi metalurgico ferito nell’onore (1972) [Mimi nguời thợ luyện kim bị tổn thuơng trong danh dự].
<