Trần Văn Tích
Hiểu một cách thực tổng quát, tự do là không bị câu thúc, ràng buộc. Hiểu như thế, tự do có lợi ích, có hứng vị của nó. Từ bỏ các công việc hằng ngày khiến cuộc đời bớt gò bó, thêm hấp dẫn; trí tưởng tượng có điều kiện bay cao và xa hơn; tâm tư thoải mái vui vẻ hơn. Tạm ngưng hay ngưng hẳn “vinh quang" (ví dụ về hưu) tạo không khí thung dung nhàn hạ để có thể vào Internet kỹ hơn lâu hơn, xem truyền hình nhiều hơn, theo dõi giải túc cầu châu Âu thoải mái hơn. Khi không còn phải lo lắng về những câu thúc nghi lễ chặt chẽ, con người xử sự thành thật hơn, thân tình hơn. Khi rũ bỏ được sự chi phối của kẻ khác, con người nâng cao nhân phẩm và bảo vệ tự lập.
Nhưng tự do cũng có những hạn chế. Có bị câu thúc mới thấy có giá trị của tự do. Nhưng tự do hoàn toàn dễ trở thành nhàm chán. Vì tự do để làm gì đây? Để đi tìm cứu cánh của tự do, nhưng mọi cứu cánh đều là câu thúc, không nhiều thì ít. Đọc La Nausée của Sartre ta thấy rõ cảm tưởng nhờm tởm, buồn nôn của tình trạng hoàn toàn tùy tiện tùy ý. Ivan trong Bratja Karamazovy của Dostojevski, Caligula [1] trong kịch bản cùng tên của Camus đều cùng cảm thấy nỗi thống khổ khi nghĩ đến điều “mọi sự đều được cho phép". Để cho tự do khỏi trở thành phóng túng, cá nhân trong xã hội phải tự giác nhận thức trách nhiệm. Cho nên Abbaye de Thélème, cơ cấu tôn giáo hư cấu của Rabelais trong Gargantua, qui tụ một tập thể sống không gò bó nhưng là một tập thể thượng lưu tinh hoa [2] . Chủ nghĩa nhân bản tin vào con người, lấy hình ảnh con người tiến lên tự do làm trung tâm, đề cao sức sáng tạo coi như vô biên của con người, yêu con người và cuộc sống trần gian, hướng con người đến mục đích mưu cầu hạnh phúc vật chất và tinh thần mà không xúc phạm nhân phẩm.
Cuộc sống của con người trong xã hội bao gồm nhiều mối liên hệ chằng chịt lẫn nhau giữa người và người trong phạm vi cá nhân, gia đình và cộng đồng. Qui tắc giao tế trong cuộc sống công cộng của con người đòi hỏi phải có những tiêu chuẩn cư xử nhất định để giữ gìn trật tự chung. Những tiêu chuẩn này một phần được ghi thành văn bản, đó là pháp luật; còn phần lớn chỉ hình thành do qui ước và ràng buộc tự nhiên, nhiều khi rất khắt khe, của dư luận, đó là đạo đức. Các điều kiện hành xử tự do công cộng (tự do tư tưởng, tự do hội họp, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do lao động) luôn luôn bị hạn chế 1) vì luật pháp nhằm bảo vệ xã hội, 2) vì tự do của tha nhân, 3) vì nhu cầu tránh lạm dụng khả dĩ đưa đến phóng túng, hỗn loạn. Thực hành tự do phải bảo đảm cho trật tự xã hội được duy trì. Trong phạm vi văn học nghệ thuật, tự do quá đà trở thành nguy hiểm vì có thể rơi vào tình trạng quái gở, dị hình, dung tục, sơ lậu và nhất là không được công chúng tiếp thu, chấp nhận (vì công chúng không hiểu, vì công chúng dị ứng).
Trong thực tế sáng tạo, nghệ sĩ, văn sĩ, thi sĩ không bao giờ tự do thực sự. Làm thơ phải chịu sự ước thúc của một loạt qui tắc bố trí ngôn ngữ: phân dòng, ngắt nhịp, số tiếng, số câu, đối ngẫu, gieo vần, bằng trắc, niêm luật v.v… Huống chi ngôn ngữ tự bản thân vốn đã là một hình thức bị gò bó khi sáng tác vì làm thơ viết văn đương nhiên là phải chọn chữ lựa lời. Mallarmé bảo người ta không làm thơ bằng ý mà làm thơ bằng chữ (Ce n’est pas avec des idées que l’on fait des vers, c’est avec des mots). Tất nhiên Mallarmé cũng hơi… quá khích. Nhiều trường phái, nhiều tác giả cổ xúy các qui ước khắt khe khi sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật, thậm chí có trường phái, có tác giả còn tự cưỡng chế mình phải theo thực sát đúng các luật lệ thi ca. Trong văn chương tiếng Pháp có nhóm Thất tinh, Malherbe, Mallarmé, Valéry, Oulipo [3] . Ngay người làm thơ tự do – Verslibriste theo Pháp ngữ – vẫn có một hiến pháp thi nghệ.
Cưỡng chế luôn luôn là hệ luận của nghệ thuật. Nghĩ rằng nghệ thuật càng vươn lên cao khi càng có tự do cũng giống như nghĩ rằng con diều giấy bị sợi dây níu lại, chẳng được tung hoành trong bầu trời. Con chim cưu của Kant, khi ngỡ rằng mình sẽ bay thanh thản hơn nếu không có không khí làm vướng bận đôi cánh đã không ý thức được rằng nó chẳng thể đập cánh tung mình nơi chân không. Nghệ thuật muốn đi lên phải có đối kháng để nương tựa. Khốn quẫn về tài chánh – tức là kinh tế bó buộc, thiếu tự do hưởng thụ – thì dễ làm thơ hay. "Thi cùng nhi hậu công", thơ phải khốn cùng sau đó mới hay, Âu Dương Tu nói vậy từ lâu, lâu lắm rồi. Vào những thời điểm lịch sử nhiễu nhương, khi cuộc sống không theo kịp thời thế, khi con người không dự liệu nổi thời cơ – nghĩa là khi nhân loại mất tự do, ít nhất theo nghĩa triết học – thì những thi loại ước thúc thường được ưa chuộng, thì hào quang thường dễ chói loà trên thi tài. Thể thơ Sonnet của thờ Phục hưng phồn thịnh với Shakespeare, Ronsard, Pétrarque, cả Michel-Ange nữa. Dante và Pétrarque với thi loại Terza Rima. Beethoven với tấc nôi khắc khoải đi tìm cưỡng chế trong các tẩu khúc (fugue) cuối đời nhạc sĩ. Thể từ với luật thép từng là thi loại đại biểu của cả một triều đại văn học Hán ngữ huy hoàng v.v… Hãy nhìn lại thời và thế của những Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều. Cái lớn của Nguyễn Khuyến, cái đau của Tú Xương nằm ở chỗ nào nếu không là ở chỗ mất tự do công dân? Valéry xem thi luật ước thúc là những "điều khó chịu dễ chịu", gênes exquises. Câu thúc kích thích mỹ học. Chướng ngại có tác dụng bàn nhún để nhảy. Kiến trúc mà không có kẻ thù truyền kiếp là trọng lượng thì đã không là kiến trúc. Gide kể rằng theo truyền tụng, vì thiếu nguyên liệu cẩm thạch nên Michel-Ange phải tạc tượng Moise trong tư thế thu hình. Vì chỉ có thể sử dụng một số giọng nghệ nhân sân khấu hạn chế nên Eschyle bị ép phải sáng tạo ra nỗi niềm câm nín của Prométhée bị trói trên đỉnh Caucase. Nước Hy Lạp xưa phóng trục kẻ nào thêm một dây vào đàn thất huyền. Kết luận, Gide bảo rằng nghệ thuật khởi sinh từ cuỡng chế, tồn tại qua đấu tranh và tử vong vì tự do: L’art nait de contrainte, vit de lutte, meurt de liberté.
Cho nên không phải thật tự do mới có tác phẩm lớn hay nói cách khác, không phải thiếu tự do thì thiếu tác phẩm lớn. Trái lại Anne Frank viết Het Achterhuis, được xuất bản sau khi nữ tác giả chết trong trại tập trung của phát xít Đức ở Bergen-Belsen năm 16 tuổi. Boris Pasternak cho ấn loát ở Ý tác phẩm Bác sĩ Zhivago mà không có sự chấp thuận của các quan cách mạng Xôviết và năm 1958 bị bắt ép phải từ chối giải Nobel văn chương. Alexandre Soljenitsyne, ở tù từ 1945 đến 1953, bị tước quốc tịch, bị trục xuất khỏi Hội Nhà văn Liên xô, phải sống lưu đày ở Hoa Kỳ, nhưng chẳng phải vì thế mà không viết được Odin den Ivana Denisovitsha, Rokovyi Korpus và nhất là Goulag Archipelago với giải Nobel 1970. Hán Vũ Đế giao Tư Mã Thiên cho quần thần luận tội để kết vào tội nhục nhất thời đó là cung hình (bị thiến), tuy vậy nhà văn lớn vẫn nhẫn nhục gắng sống để hoàn thành Sử ký, lưu danh lại đời sau. Văn Thiên Tường, Tô Thức, Lý Dục đều từng lâm vòng lao lý, có người ngồi trong ngục cho đến chết. Bị giặc bắt và hết sức mua chuộc, Văn Thiên Tường kiên quyết không hàng và làm bài thơ nổi tiếng "Quá Linh đinh dương" với hai câu bất hủ "Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh" (Người đời xưa nay ai không chết, Để lại lòng son sáng sử xanh). Tiền và Hậu Xích bích phú được viết sau khi Tô Đông Pha bị giam trong ngục ở kinh đô. Những bài từ đặc sắc nhất của Lý Hậu Chủ là những bài ký thác nỗi bi ai vì tưởng nhớ nước xưa và cảm thương thân thế trong thời gian bị an trí ở Khai phong. Khuất Nguyên, Bạch Cư Dị, Lý Bạch, Đỗ Phủ tuy không bị tù nhưng bị áp bức, ngược đãi, biếm trích. Đặng Dung, Nguyễn Phi Khanh, Hồ Nguyên Trừng, Lê Cảnh Tuân, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Đinh Nhật Thận, Cao Bá Nhạ, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Xuân Ôn đều từng sống cảnh một ngày bằng thiên thu tại ngoại để rồi đi vào văn học thiên thu.
Trong thế giới hiện thực muôn màu muôn vẻ, nhà văn nhà báo quan tâm đến số phận con người, đến các tính cách và liên hệ của con người. Tất nhiên nhà văn nhà báo có lương tri luôn luôn tự nhủ là phải tôn trọng sự thật, thông qua sự thật mà thuyết phục độc giả. Nhưng không phải sự thật nào cũng giống sự thật nào. Tiểu thuyết, truyện ngắn, ký sự, bản tin, bình luận v.v… là nơi ký thác sự đánh giá của chính nhà văn nhà báo đối với cuộc sống, là tấm gương phản chiếu sự suy gẫm của ngòi bút về số phần dân tộc. Và như thế qua phương thức cấu trúc hình tượng, qua cung cách bộc lộ quan điểm, văn sĩ, ký giả không thể chạy trốn; tác gia, phóng viên phải chọn lựa thế đứng. Nhà văn nhà báo không thể đòi tự do hoàn toàn và cũng chẳng thể có vị thế vô tư cao độ vì "la suprême impartialité est une chose antihumaine et un roman (hoặc un reportage, TVT) doit être humain avant tout" [tính vô tư tuyệt đối là một điều phi nhân và một cuốn tiểu thuyết (hoặc môn thiên phóng sự, TVT) trước hết phải có nhân tính (George Sand, thư gửi Flaubert ngày 12.01.1876)]. Văn sĩ, phóng viên dù có ý thức độc lập đến đâu, dù có phấn đấu tự do sáng tác bao nhiêu, dù có thiên tài và bản lĩnh thế nào đi nữa, cũng không thể đứng bên trên xã hội như một siêu nhân, tách ra ngoài cộng đồng trong một splendid isolation. Mà chẳng phải chỉ có văn học, ngay cả khoa học cũng vậy. Pasteur bảo nếu khoa học vốn không có quê hương thì nhà khoa học phải có. Hoạt động khoa học và/hoặc môi trường đại học không thể phi chính trị. Ai đòi vừa cầm bút trên trang giấy vừa cầm còi trên sân cỏ, người đó tỏ ra thiếu ý thức hay vô ý thức. Một ca sĩ thuộc chế độ Hitler không thể rời thế giới Quốc xã để đến biểu diễn trên sân khấu cộng đồng Do Thái với lập luận “em không làm chính trị, em chỉ muốn kiếm tiền"! Và em-xi nào tán trợ lập luận đó thì chỉ là một kẻ thông minh dưới mức trung bình rất, rất xa. Trong những mối tương quan giữa các hình thái ý thức xã hội thì mối tương quan giữa văn nghệ và chính trị là trực tiếp nhất và mật thiết nhất. Xưa nay chưa có một thứ văn nghệ nào đứng ngoài chính trị cả, kể cả văn nghệ của Mai An Tiêm, của Từ Thức, của Robinson Crusoe.
Tượng Nữ thần Tự do ở Nữu Ước phải đứng trên bục cao, Nữ thần Tự do không thể tự do lội xuống biển sâu. Chẳng thể có thứ tự do vô tổ chức, thứ tự do vô nguyên tắc, thứ tự do vô chính phủ, thứ tự do vô trách nhiệm, thứ tự do vô kỷ cương.
Westpreußenstr., 02.09.2007
© 2007 talawas
[1]Trong vở kịch bốn màn Caligula, Camus biểu hiện khuynh hướng nổi loạn cá nhân. Nhân vật chính trước khi gục ngã vì kẻ thù bách hại đã nói: “Je n’ai pas pris la voie qu’il fallait, je n’ai abouti à rien. Ma liberté n’est pas la bonne.” (Tôi đã không đi con đường đáng đi, tôi đã chẳng đạt được gì cả. Tự do của tôi không phải là tự do lương hảo).
[2]Những thanh niên nam nữ sống trong tu viện Thélème (Thélémites) là những con người thung dung tự tại, xuất thân thế phiệt, học vấn thông thái (gens libères, bien nés, bien instruits); châm ngôn hành động của họ là “Fais ce que voudras” (Muốn làm gì thì làm).
[3]Oulipo là viết tắt Ouvroir de littérature potentielle (Công trường văn học tiềm thế), một hình thức công xưởng văn chương thực nghiệm do Raymond Queneau và Francois le Lionnais sáng lập năm 1960. Mục tiêu của Oulipo (cũng có khi viết Ou.Li.Po) là nghiên cứu thể loại và cấu trúc văn học trong chiều hướng cách tân và phát minh, chủ yếu dựa vào toán học và tin học.