Phạm Công Huy
Tôi đọc bài viết “Ê, muốn vào phải mua vé” của nhà thơ Nguyễn Ðăng Thường quả là thấy nó hỗn độn quá! Và cũng thật uổng phí khi tranh luận về thơ, bất luận là Thơ Tự Do hay Tân Hình Thức với ông, khi ngay từ đầu ông đã tung chưởng một cách khó hiểu về những vấn đề của thơ: “Ðại khái chúng tôi không vũ trụ, không siêu hình, không ẩn dụ, không ngôn ngữ” (nhại lại ý “Giữa chúng ta không nghệ thuật, không đồng hiện, không cấu trúc, không khúc xạ” trong bài thơ “Giữa Chúng Ta” của Nguyễn Hữu Hồng Minh). Thưa ông, như vậy thì chúng ta tranh luận cái gì? Hay chỉ “Thực phẩm của Mi là bả / thức uống của Mi là giải / Bạn bè của Mi là những cặp mông?” trở về đúng cái triết lí “bồn cầu” theo nghĩa đen trong bài “Ðề cao hiện thực” mà ông khinh bỉ cho “là chẳng thơm tho tí nào”, dơ dáy và bẩn thỉu?
Ðiều dễ thấy trong bài viết của Nguyễn Ðăng Thường là ông quá nhiều chủ quan, sơ hở (ngay cả những lỗi kiến thức sơ đẳng nhất). Tôi muốn tranh luận với ông về các điểm ông đặt ra qua những bài thơ của Nguyễn Hữu Hồng Minh bằng các lập luận cụ thể.
Trong bài “Những Từ Lang Thang” khi trích dẫn câu “Thi sĩ với hạt giống thơ / Gặt hái mùa màng nhân loại“, ông Nguyễn Ðăng Thường đã khiêu khích (không rõ với động cơ gì?): “Ðã từng là giấc mơ của các nhà thơ cộng sản”. Tại sao cứ phải là nhà thơ Cộng sản? Một người làm nghệ thuật đích thực thì có quyền mơ gặt được những mùa màng mới cho riêng mình, hay theo ông chỉ có nhà văn Cộng sản mới mơ gặt được những mùa màng văn chương còn tất cả các nhà văn, nhà thơ thuộc các trường phái, trào lưu, các hệ tư tưởng khác không có ước mơ và khát khao chính đáng này? Hoặc ngay chính bản thân ông, nhà thơ Nguyễn Ðăng Thường, chẳng một lần mơ điều đó? Vậy thì ông làm thơ, làm nghệ thuật, hay bây giờ tranh luận về Tân Hình Thức hay Thơ Tự Do để làm gì? Hay (xin lỗi, vì tôi buộc phải trích lại những ý của ông) chỉ lỗ đít, cương cứng, bài tiết, ị, chơi gái, làm tình.
Ông cho rằng với các phát hiện của khoa học thì “Vũ trụ không còn là cõi vô hình, vô hạn của Phật giáo, của triết lý Thiền, mà đầy bụi bặm tinh thể, lỗ đen”. Ðiều đó đúng. Nhưng khoa học hiện nay cũng chưa thể lí giải hết cái chết, vòng luân hồi, ước mơ bất tử… và tôi cam đoan với ông rằng không thể nào lí giải hết sự bí ẩn nhiệm màu của thiên nhiên và đời sống. Chính vì thế mà tôn giáo vẫn phải tồn tại.Có bao nhiêu nhà làm khoa học thực sự chứ không phải tay mơ thơ thẩn như ông và chúng tôi nhưng vẫn phải đến nhà thờ vào cuối tuần. Con người và nỗi sợ hãi là sự ám ảnh thường trực. Ngay như trong “Sổ Ghi” của Albert Camus (nhật kí xuất bản sau khi ông mất) điều bận tâm lớn nhất của nhà văn trong những ngày tháng đó chính là Nỗi Sợ Hãi. Thậm chí ông còn viết khá siêu hình: “Vâng, tôi sẽ chết ngay lập tức nếu tôi không tin rằng ở bên kia có một nỗi khủng khiếp đang chờ tôi”. Câu thơ “Ta nhặt những từ lang thang trong vô biên / Ánh sáng của nó / tất nhiên / sẽ dựng nên bài thơ mù lòa” của Nguyễn Hữu Hồng Minh cũng siêu hình như vậy. Vâng có thể phủ nhận câu thơ này theo nghĩa “Tôi khó hiểu vì tôi cô đơn” của Mallamé để tìm xem các chương trình Star Trek, hay Star Wars “thú vị hơn”, bởi rối rắm, nhức đầu cũng là một cách chạy trốn dễ chịu vết loang của cái chết. Nhưng tôi thích thái độ đương đầu tìm kiếm của nhà thơ trẻ hơn. Không có những nỗ lực ấy chắc chắn là không thể tìm được thêm một địa hạt mới cho Thơ và vì Thơ.
Khi đọc bài trả lời phỏng vấn Talawas của Nguyễn Hữu Hồng Minh, tôi ngạc nhiên khi biết anh đã quan tâm nhiều đến Thơ Siêu Hình và những vấn đề về Siêu Hình. Lần đầu tiên có một nhà thơ trẻ Việt Nam nói về cuộc tìm kiếm Thơ của mình xung quanh địa hạt này. Trong nền thơ bùn lầy tuyên truyền “Hoan hô Stalin / Ðời đời cây đại thọ” (Tố Hữu) và ruộng đất, bổ bả “Bàn tay ta làm nên tất cả / Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” (Hoàng Trung Thông) điều này đáng trân trọng. Thật vô lí khi Nguyễn Ðăng Thường lại chối bỏ và hằn học về điều này.
Về vấn đề ngôn ngữ, Nguyễn Hữu Hồng Minh có trả lời Talawas: “Có một sự thật: Từ trước đến nay các nhà thơ Việt chỉ sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện chuyển tải chứ chưa xem nó như một đối tượng sáng tạo“. Anh có nói thêm rằng anh phát hiện điều này khi tiếp xúc với các tác phẩm bàn về ngôn ngữ của nhà triết học Trần Ðức Thảo. Tôi rất muốn Nguyễn Hữu Hồng Minh và tất cả những nhà thơ trẻ bàn thêm về vấn đề này bởi theo tôi nghĩ đặt lại vai trò mới của ngôn ngữ và xác định, mở rộng thêm những địa hạt mới của Thơ (siêu hình chẳng hạn) là hai bước sẽ mang lại một tinh thần mới cho Thơ Trẻ Việt Nam. Bài “Những Từ Lang Thang“ là một ví dụ sinh động. Khi phê bình bài này, rất tiếc một lần nữa ông Nguyễn Ðăng Thường không nhất quán trong các quan điểm của mình để nói về câu “Ngày tháng mài vẹt ta như một Từ bị mài mòn” để cuối cùng “Em tìm thấy ta theo một nghĩa đã chết – Một từ loại”. Xoay quanh vấn đề từ Chết, Nguyễn Ðăng Thường viết: “Chúng tôi nghĩ rằng ngôn ngữ do con người chứ không phải do Thượng đế (lời của Thánh Kinh?) sáng tạo và luôn luôn thay đổi (xin lưu ý, “luôn luôn thay đổi” có nghĩa là đã có hiện tượng Từ mòn, Từ chết – người viết) ngày càng giản dị, ngắn gọn, trực tiếp hơn. Như ngôn ngữ nhạc Ráp, ngôn ngữ Email, ngôn ngữ của các “text messages” trên máy điện thoại di dộng. Các tân ngữ có sức sống mạnh thường là những tiếng lóng( slang) của một thiểu số, rồi trở thành của đám đông, để cuối cùng được công nhận và đi vào nghĩa trang từ điển”. Ông Nguyễn Ðăng Thường vô tình đồng ý với phát hiện của nhà thơ trẻ Nguyễn Hữu Hồng Minh về việc “Từ mòn” và cuối cùng là “Từ chết” (“nghĩa trang từ điển”) nhưng rốt cuộc cứ phải phản bác, vòng vo tam quốc, luống cà luống cuống thật kì lạ. Trong văn hóa tranh luận không nên giữ một tâm lí “bằng mọi cách phủ nhận người khác” như thế. Ðúng hay không đúng, chúng ta cùng nhau tranh luận bàn cãi và phải có văn hóa.
Về việc ông cực đoan với ý “Một từ bị mài mòn” ở đâu trong hai từ Sống và Chết? Rồi cũng buộc tự miễn cưỡng chấp nhận khi suy đi xét lại tự thấy, “nghĩa đã chết” của từ Chết: ngủm, qua đời, lìa đời, khuất núi, giấc ngủ ngàn thu, hui nhị tì, đi mua muối, xuống âm phủ, đáp chuyến tàu suốt…, nghĩa “đã chết”của từ Sống: chưa chết, chưa qua đời, hiện hữu, hiện sinh…, thì phải chăng ông cũng đã lờ mờ “tóm được cái đuôi của chân lí” rồi? Xin lỗi ông, trong lịch sử phát triển của thế giới cũng như qui luật tất yếu của việc hủy hoại thiên nhiên và môi trường hiện nay đã có nhiều hiện tượng, cứ liệu cho thấy đã có sự biến mất diệt vong của cả một dân tộc, một quốc gia chứ nhằm nhò gì hiện tượng từ bị mài mòn hay từ chết. Và thậm chí, tôi thấy ông quá coi trọng ý nghĩa sự Sống theo nghĩa đen của nó với kiểu hưởng thụ và hành lạc đến muốn…ị (!). Xin mở rộng tranh luận với ông. Ngay cả phạm trù của từ Chết, tôi còn thấy ông cực đoan khi muốn đặt dấu chấm hết, kết thúc cho từ đó. Từ “Chết” trong con mắt hình dung của bọn làm văn chương chúng ta không có nghĩa là đã kết thúc mà còn tiếp tục mở rộng dài vô tận. Ông hiểu câu cổ học, một quẻ trong Kinh Dịch “Tất cùng tất biến” như thế nào? Biến đó cũng có nghĩa chết nhưng không hẳn kết thúc ở đây mà còn có nghĩa biến hóa, biến ảo “hóa thân, hóa giải” trong xa luân vũ trụ. Tuy rằng ông càu nhàu một cách miễn cưỡng quan điểm Thơ Siêu Hình của Nguyễn Hữu Hồng Minh: “Một kẻ lãng mạn muốn khoác chiếc áo siêu hình mà thôi” và phủ nhận Phật giáo bằng “lỗ đen” khoa học, vậy thì ông có quan tâm thật sự các luận điểm của triết học Phật giáo này chưa hay nói khơi khơi lấp liếm lấy được như vậy? Tôi bỏ qua không bàn với ông luận chứng sờ sờ các lí luận của Triết Tây đang có xu hướng ngày càng tìm về với Triết Ðông, sự bế tắc, “duy lí, lí giải, chẽ nhỏ các phân tử” trong tư duy khoa học mà tận cùng của nó là sự gặp lại của triết lí Phật giáo trong ý niệm siêu hình mỗi “sát-na” là một cái chết “ngắn”. Ðó là khoảng không gian biến đổi rất nhỏ. Theo triết học duy vật Samklaga của Ấn độ thì cái đơn nhất tồn tại nhưng nó phải được cảm nhận qua nhiều dạng khác nhau.
Tinh thần này vô tình tôi đã nhìn thấy nhà thơ trẻ Nguyễn Hữu Hồng Minh viết trong bài “Luân phiên ánh sáng”. Cuộc đối trọng của cái chủ thể và cái phi chủ thể (Le Moi et Non-Moi). Ở bài thơ “Bùng nổ từ ghi chú” đề tặng nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh, Nguyễn Hữu Hồng Minh viết:
Ghi chú Thơ
Như nén thêm một nghĩa vào phạm trù đã chật
Những khoảng rỗng
đựng trong khoảng rỗng
của một khoảng rỗng
Ghi chú Từ
Sự thừa thãi toàn bộ vẫn chưa đủ sao?
Ghi chú Dòng
Phiêu lưu hơn bao giờ
Lách vào đâu khe hở hẹp
Chỉ cơn gió nhẹ là hắt tung tôi vào thế giới?
Ở một bài thơ khác như “Bài Ca Máu“, với cấu trúc phân tử phân tích “chuỗi xoắn hạt” thân thể người là một “tiểu vũ trụ” trong cái toàn thể. “Bóng tối dựng trong thân xác / Máu hát biển Ðen / Cơn thủy lưu không ngơi nghĩ”. Nhịp của bài thơ đồng nhất với nhịp sinh học của thiên nhiên: “Vỗ quanh tim đầu cầu / Chuyển đi khắp năm châu / Những đốt xương nan giải / Những trục chính đại lộ”. Ông Vô Ngôn Thứ Lang đã nhìn thấy điều này như một trật tự tiềm ẩn để cân bằng thế giới. Và chu kì sáng tạo của người nghệ sĩ bí ẩn, khó giải mã huyền diệu. Bài thơ đã là “sóng từ” ẩn trong thân thể, nhà thơ chỉ lắng nghe. Và nó sẽ phát lộ khi nhịp của nó hòa cùng một nhịp của thân thể vũ trụ. “Mặt trăng là tim máu / Dưới hồng cầu mặt trời / Ðơn lẻ tiếng vỗ xác / Những ánh thơ ngủ yên / Trong bóng tối của máu / Một ngày cất tiếng / Công thức riêng, không pha trộn”. Và nhịp này lại trở về mãi mãi, cuộc tuần hoàn không kết thúc như nhịp thở của sự sống. “Dưới bí mật của máu / Những câu thơ ẩn tàng / Công thức riêng, không pha trộn”.
Nếu không thay đổi tư duy và vận động tổng hợp cảm thụ thì khó có thể nói là thích thơ của Nguyễn Hữu Hồng Minh được. Tôi đồng ý với nhận xét của ông Hoàng Vũ Thuật đây là một tư duy thơ Triết luận rất ít gặp (có thể nói là chưa thấy) trong thơ VN. Trường hợp Chế Lan Viên (“Ánh sáng và Phù sa”) và Việt Phương (“Cửa Mở”) cũng được xem là trí tuệ nhưng rất tiếc tính siêu hình khám phá không cao vì lí do “Ðảng trị” với những khuôn khổ cụ thể lúc bấy giờ là tuyên truyền và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng rõ ràng sự xuất hiện của những câu thơ tự vấn mang khuynh hướng triết lí “Ta là ai như ngọn gió siêu hình / Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt / Ta vì ai khẽ xoay chiều gió bấc / Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh” (Chế Lan Viên) hay “Trăng Trung Quốc sáng hơn trăng nước Mỹ / Ðồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ” (Việt Phương) thì đã là hiện tượng gây xôn xao bấy giờ. Rất tiếc cả Chế Lan viên và Việt Phương lại hướng hết tầm tư duy mở đó cho Cộng sản và hưởng lợi từ Cộng sản. Vì thế, theo tôi, anh Ngô Tự Lập trong bài viết “Kho Báu Trong Sân Nhà Mình” quả là đã quá vội vàng và hấp tấp khi phủ nhận tất cả các bài thơ triết lí cao siêu của Nguyễn Hữu Hồng Minh đã hoàn toàn thất bại. Và nhà thơ Nguyễn Ðăng Thường nếu ý thức được rằng “thiếu điều kiện để đánh giá” thì thiết nghĩ cũng nên thận trọng trong lời lẽ của mình. Ngay như một từ Chết trong bài thơ “Tưởng Niệm “của nhà thơ Diễm Châu đã bao hàm biết bao ý nghĩa. Có thể lấy bài này để thêm một nghĩa khác của từ Chết, “một ý thức mới của từ Chết:
Trần Tuấn Nhậm đã chết
Thế Nguyên- Trần Trọng Phủ đã chết
Nguyễn Khắc Ngữ đã chết
Nguyên Sa đã chết
Ðỗ Long Vân mới chết
Chết
Chết
Chết
Chết tai nạn
Chết bệnh tật
Chết xa nhà chết ở nhà
Chết như mọi người phải chết
Chết như những người chưa chết cũng sẽ chết
Những người chưa chết gửi lời chào những người đã chết
Chết không phải là hết
Chết là chết
Như vậy vấn đề từ mòn, cũng như ý nghĩa của từ còn là do trọng lực của bài thơ neo giữ. Nguyễn Hữu Hồng Minh có 1 bài trong “Chất trụ” có hẳn nhan đề là “Neo Trọng Lực” rất tiếc ông chưa tham khảo được đã vội lớn tiếng chê bai. Nhưng đến khi ông chê bai luôn cả “cổ nhân là ngu dốt” thì tôi không còn tin lắm vào cái của ông viết ở trên là Tân Hình Thức đã tôn trọng bạn đọc. Tôi có cảm giác bằng mọi cách ông cỗ vũ cho loại thơ này. Thậm vô lí. Nó cũng giống như nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh cứ chạy quanh cái xác của thi hào Nguyễn Du mà cứ đòi ” đấm đá, đập, đâm” (chữ dùng của Nguyễn Ðăng Thường). Thử hỏi Cổ nhân và Nguyễn Du đã làm gì “nên tội” mà các ông báng bổ và chưởi rủa? Cái gông của thơ Truyền thống (cụ thể ở đây là Truyện Kiều) kéo dài hàng trăm năm cho đến hôm nay là do con cháu của ông, là chính chúng ta bất tài, xôi đậu, bu bám vào cha ông mà sống (tâm lí “một người làm quan cả họ được nhờ” hay như trong bài thơ “Treo dọc” của Nguyễn Hữu Hồng Minh: “Tôi đi cùng hiện đại thấy treo dọc những về nguồn”), ông (Nguyễn Du) “giũ” không ra chứ sao lại “đấm bùi vào mặt tiền bối”? Hay Nguyễn Quốc Chánh cho rằng muốn được tôn thờ, được nể trọng, hương đèn như Nguyễn Du thì rất đơn giản là… lật tượng của ông xuống, phơi áo của mình lên? Như một kẻ đóng tuồng vụng. Trong hội thảo Văn học Miền Trung (9.2002) gần đây nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo có phát biểu rất táo bạo là Hội Nhà Văn VN cần lập hội truy tìm ai là kẻ đầu tiên “mở màn” làm thơ Lục Bát của Việt Nam, người đó xứng đáng để con cháu phải dựng 1 tượng đài hương đèn thờ tự, cúng kiếng (?!). Ðiều đó muốn nói rằng, không xa trong tương lai Thơ VN sẽ còn có những tượng đài đỉnh cao cho Thơ Tân Hình Thức và thơ Tự Do mà cũng có thể chúng tôi sẽ cúng kiếng, ăn chay, làm tuần, mở cửa mả cho các nhà thơ Nguyễn Ðăng Thường và Nguyễn Quốc Chánh chẳng hạn. Vậy thì các anh cứ lo làm thơ và làm cho hay cứ việc gì cứ chửi bới Tiền nhân? Tôi đồng ý với các trích dẫn của anh Ngô Tự Lập cho rằng nhiều triết lý Thơ của Nguyễn Hữu Hồng Minh còn sống sượng nhưng lớn tiếng phủ nhận toàn bộ những kiếm tìm của một nhà thơ trẻ thì ít nhà phê bình đích thực nào dám làm điều đó.
Với bài “Dự cảm cây liễu” ông Nguyễn Ðăng Thường có thể cho là bài thơ này không hay: “Ẩn dụ này có vẻ gượng ép, không ăn khớp”. Mỗi người có quyền khen chê, cái hay cái đẹp theo cảm thụ của riêng mình. Nhưng khi ông đưa ra hai ý niệm”chắn hẳn đây phải là cây liễu của thơ cổ điển” và “biểu tượng cho phái yếu” thì là ông đã đoán mò và càng sai khi cho ẩn dụ bài thơ này là “người chiến sĩ”. Tại sao cứ phải là người chiến sĩ? Một lần nữa Nguyễn Ðăng Thường đưa thơ trở về y thức luận và ám ảnh Cộng hòa – Cộng sản của cuộc chiến. Mặc cảm với quá khứ là việc của ông nhưng tại sao lại bắt thế hệ trẻ chúng tôi gánh chịu những ám ảnh đó? Ngay như những sự tích anh hùng chúng tôi còn “bước qua lời nguyền” (Tạ Duy Anh) kia mà! Vậy mà ông Nguyễn Ðăng Thường cứ nghe từ “bắn” kể cả ý tưởng ràng ràng của bài thơ là “bắn vào nỗi khát vọng chưa rõ mặt” là ông lại cuồng điên lên với nạn Cộng sản đang tới? Ðã thế, ông còn giết chết hình ảnh cây liễu. Tại sao nhắc liễu là ông liên tưởng tới một mùa cổ điển? Xin ông đọc lại cho “Văn chương là gì?” của J.P.Satre (Bản dịch trước giải phóng của Lê Thanh Hoàng Dân, bản dịch sau này của nhà văn Nguyên Ngọc cũng tuyệt hảo không kém. Tôi phải cụ thể như vậy bởi sợ ông không ngửi nổi mùi Cộng sản). Ðể ông trả lại màu trắng đúng như màu trắng không phải là màu thất bại, màu đỏ đúng như màu đỏ không phải khát máu, màu vàng đúng như màu vàng không phải thua trận. Bản thân màu trong hội họa chỉ là chất liệu. Nó còn mang chiếu nhiều hình ảnh, nhiều khái niệm khác chứ không phải chết dí, chết bẹp của một nghĩa mà thôi. Milan Kundera với ẩn ngôn “Từ Chìa Khóa” cũng thế. Một từ mở ra vô hạn từ, một “kho báu” ngôn ngữ. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều trong một tuyên ngôn về thơ có viết: “Thơ là nỗi ám ảnh, là giấc mơ, là nỗi tuyệt vọng và khát vọng về toàn bộ đời sống. Thơ làm sống lại những gì đã chết và mang đến một tinh thần mới cho những gì đã cũ”. Như vậy theo thuyết của J.P.Satre cây liễu đơn nhất chỉ là cây liễu mà thôi! Còn theo quan điểm thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều thì cây liễu của nhà thơ trẻ Nguyễn Hữu Hồng Minh vẫn có thể “mang đến một tinh thần mới cho những gì đã cũ”. Cớ sao ông Nguyễn Ðăng Thường cứ nghĩ “liễu” phải “dư ảnh thi vị” của những “sớm ngỏ trưa sân liễu đứng ngồi” hay “sân rêu chẳng vẽ dấu giày / cỏ cao hơn thước liễu gầy vài phân”? Cách hiểu thơ như thế chính ông đã là một mùa cổ điển. Hơn nữa khi ông đã phát biểu cây liễu trong thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh là “biểu tượng cho phái yếu” thì làm sao nó lại xoay ngoắt 180 độ sang hình ảnh người chiến sĩ? Ðã vậy còn suy diễn rất chụp mũ và kì quặc “Cái tín điệp liễu vừa cường điệu, vừa mơ hồ, ngợi ca một cuộc chiến tranh lạnh (hay nguội) âm thầm không đối tượng (Siêu hình?). Tựu trung nó chẳng khác gì một bài thơ tranh đấu chung chung, một thứ võ mồm và tinh thần chiến thắng kiểu AQ” !. Thưa ông Thường, ông nghĩ sao về câu này của Albert Einstein: “Nhìn bông hoa mà không thấy sự huyền bí của bông hoa”? hay ” L’homme est un roseau mais un roseaupensant” (Con người là một cây sậy nhưng là cây sậy biết suy tưởng)? Nhà văn Nguyên Ngọc có viết về việc khó đổi thay cách tư duy một nhà văn trước những thành công bọc trong từ trường những tác phẩm đã viết ra của mình, bởi, theo nhà văn: “Các từ thường có một trí nhớ ngoan cố và dai dẳng”. Theo tôi, hai trong số những từ đó với ông Nguyễn Ðăng Thường chính là Thù hận và Chiến tranh. Ông cứ trở đi trở lại một cách ngoan cố và dai dẳng không chịu buông tha nhà thơ trẻ Nguyễn Hữu Hồng Minh và bạn đọc Talawas với cách đọc thơ bê-tông và chết cứng của ông. Qua đây, tôi cũng rất nghi ngại thiện chí của Tân Hình Thức mà suốt thời gian qua ông Thường và ông Khế Iêm cổ súy. Với một hình thức thơ “đứa con hoang bỗng quay về chụp chân mẹ” (ý của nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh) như vậy, với những “nếp gấp” sẵn liệu nghĩa của thơ còn phá sản đến đâu? Thà phơi chim và che lỗ xì như 2 anh chàng da trắng và da màu của nhà thơ Ðinh Linh còn dễ thở hơn chạy về với Tân Hình Thức. Tôi cũng đồng ý với nhà thơ Ðinh Linh trong trả lời phỏng vấn nhà văn Phạm Thị Hoài là tập Dấu Quê của nhà thơ Khế Iêm những bài hay nhất không phải theo Tân Hình Thức. Như bài Ngục Biếc chẳng hạn. Chất Ionesco rất nhiều. Nhà thơ Khế Iêm đang làm ngược lại những gì mà chính ông đã thành công như một cuộc thử lửa, khám phá mới. Nhưng không nên vì sự thử nghiệm (đôi khi là đã cũ xì của mình ) mà vu khoát, thiên hạ. Thái độ của nhà thơ Nguyễn Ðăng Thường cũng “trừng trợn” như thế! Nhưng không thuyết phục được những nhà thơ trẻ bản lĩnh. Chưa kể các chiêu chưởng rối rắm “vệ sinh bài tiết, không vũ trụ, không siêu hình, không ẩn dụ, không ngôn ngữ”. Thái độ khinh nhờn ấy rốt cuộc chỉ để lộ thiếu tự trọng, thiếu nhân cách với chính mình, để bọn trẻ coi thường. Với tôi, cây liễu của nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh là cây liễu siêu hình.”Je pense done je suis. Tôi tư duy là tôi tồn tại”. Ðây là một bài thơ tinh tế, nhà thơ giao mở giữa thiên nhiên.”Trong bão táp của tháng Mười, tôi lắng nghe dự cảm của cây liễu / Bầu trời là vòm cung, thân cây là mũi cung / Sự hoang bạo của gió làm những mũi tên run lên / Như chuẩn bị bắn vào nỗi khát vọng chưa rõ mặt”. Bài thơ này tiêu biểu nhất cho quan niệm bước đầu thơ Siêu hình của Nguyễn Hữu Hồng Minh. Chặng đường tiếp theo là những bí ẩn của tương lai đang chờ các nhà thơ giải mã. Từ cây liễu lãng mạn “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang / Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng” đầy vẻ cam chịu và vô hồn của Xuân Diệu, của Thơ Mới đến đây như bị cáo chung trước cây liễu của Sinh động, Bí ẩn và Ða giác của các nhà thơ trẻ. Một tiếng nói khác mở ra không còn cam chịu tóc tang hay buông lệ xuống ngàn hàng nữa mà đấu tranh để có mặt và thích nghi trong cuộc sinh tồn “Qua bình yên nắng tháng Hai tôi không còn nghe chúng nói/ Nhưng dưới thảm lá đã để lộ một cuộc sống thật khó nhọc và bền bỉ / Tiếng rễ quẫy mạnh da thịt đất đai / Rách toạc mãnh liệt bí huyền / Khởi nguồn dự cảm trong xanh / Chờ cơn bão tới”. Nói như Réminiscence: “Sáng tạo là một hiệu ứng từ bên trong, sáng tạo là sự nhớ lại…”
“Những bất lực giả dối, những trăn trở cũ mèm”, “Không mở thêm một cái cửa ngôn ngữ học hay siêu hình học mà chỉ chơi lại trò ngu dốt của cổ nhân để tự tôn tự đại một cách gián tiếp kiểu “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ / người khôn người đến chốn lao xao”, thế thôi, một trò chơi có thể hoặc vô hại, hoặc lừa bịp, ý thức hay vô thức”, thật là không còn một lời mạt sát nào hơn nữa. Nhưng thôi, chuyện cảm thụ khen chê hay dở là của mỗi người như trên tôi với ông đã thông nhất. Nhưng ông cũng phải sòng phẳng với tôi, ông phải tôn trọng bạn đọc và phải nhất quán trong chuyện tranh luận. Hãy xem ông lắt léo ra sao? Trong ý câu thơ bài Treo dọc “Tôi không phải là người câm sao nói như người điếc? Tôi không phải là biển xanh sao cứ treo mớm lên đó những con cá?” ông bảo rằng ông không hiểu. Chỉ những câu thơ đơn giản như thế mà ông còn không hiểu vậy mà ở một đoạn khác ông lại quay ngoắt hạ bút: “Không như ngôn ngữ của Beckett, của Ionesco, của Queneau, của Vian, và của… Bút Tre, ngôn ngữ Nguyễn Hữu Hồng Minh có đui mù lở lói gì đâu? Vì nó vẫn xinh xắn, mực thước, hợp vần, vẫn trúng dấu, đúng văn phạm người đọc vẫn có thể hiểu được người viết muốn nói cái gì kia mà…”
Theo chủ ý của riêng tôi, những bài thơ này là những bài thơ khá hay và khá táo bạo khi nói về tâm thế và ước vọng sáng tác của giới nhà văn trẻ hiện nay ở VN. Họ đã thực sự tự do dưới ngọn cờ đổi mới hay chưa? Bởi thời cuộc đã đổi thay. Việc áp bức Trần Dần đến nỗi ngồi lõm cả tường cho đến lúc chết hay cô lập Ðặng Ðình Hưng đến nổi ông bức bối, thiêu thân” thèm cái lửng lửng của đôi quai”(tự do có được của đôi dép) cũng đã qua rồi. Thái độ tự phản tỉnh: Tôi đâu phải người câm (CÂM: Không nói được) sao nói như người điếc (ÐIẾC: Không nghe được). Cũng thế, chữ nghĩa trong một cơ chế mù lòa là chữ nghĩa chưa phản ánh đúng lương tri và trách nhiệm cao cả của một nhà văn. Phát biểu và viết những gì chưa đúng là mình, thật sự là mình hoặc quá xa lạ với sự thật là bằng câm điếc. (Nghe nhuốm mùi Thiền!). Nhưng liệu như thế còn đỡ vớ vẩn hơn Nguyễn Ðăng Thường “muốn ị” và ” nghẹt mũi”(!). Còn làm một nhà thơ Siêu hình trong một đất nước thiếu nhân quyền là xa xỉ như Nguyễn Ðăng Thường nhạo báng, tôi nghĩ ông nên đọc lại quan điểm về thơ của Nguyễn Hữu Hồng Minh trong bài trả lời phỏng vấn của Talawas cách đây không lâu. Thơ không phải muốn làm hay không muốn làm (xin lỗi, đó chỉ là bọn đục đẽo, hàn gò, chấp vá thơ. Tân Hình Thức không khéo chỉ là một cái xưởng chế tạo mông mác thơ mà ông làm quản đốc ăn lương tháng). Thơ còn là một điều bí mật. Nói như Nguyễn Hữu Hồng Minh “Giải đáp thấu triệt về thơ chỉ là một khát vọng siêu hình”. Như vậy ông và Nguyễn Hữu Hồng Minh ai đang đề cao ai đang hạ thấp, ai đang hết mình ai đang bông phèng đánh bùn sang ao với thơ? Và một lần nữa, tôi muốn nhắc chừng ông rằng từ nay về sau hãy đừng mang nỗi đau hay sự thù hằn của ông mà trút bỏ cho các nhà thơ trẻ. Mỗi nhà thơ có một số phận và một thời đại của mình. Các nhà thơ trẻ VN có thừa cách nghĩ và dự định sáng tạo trong cảm thức thời đại của họ. Cách chửi bới thâm thù như ông là xưa cũ lắm rồi. Tôi đành hát lại một câu của ông, “em ơi có hoa nào không tàn, có tình nào không phai…”. Và tặng ông một câu nói nổi tiếng của Heraclit trong ý nghĩa cao rộng và đẹp đẽ của nó: “Không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông”. Nếu không còn viết được gì xin ông cứ mèo đen, mèo đỏ cho dvui dvẻ.
Trong chiếu thơ Tân Hình Thức, nếu quả toàn là những tay như thế, thì có cao giọng rao: “Ê, muốn vào, phải mua vé!” cũng xin thưa, em chả. ” Phải mua vé kia à? Hơ hơ! Thưa anh Hai, có mời em cũng chả dám vào!”
Mỹ Tho, 6.12.2002.
© Talawas 2002