Phạm Việt Vinh
Thời gian gần đây, người ta thường được nhận những dự báo về "sự tái hiện của một siêu cường toàn cầu", về quyết tâm của Trung Quốc muốn "trở lại vị trí trước đây của mình, khi mà cách đây 200 năm nó đã làm ra gần 30% tổng sản lượng thế giới". Vừa rồi, tờ Nhân dân nhật báo, cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng tuyên bố, đại ý: “Ngày nay, thế giới đang bị thống trị bởi các thế lực phương Tây và được vận hành theo các nguyên tắc phương Tây; và từ 200 năm nay, Trung Quốc đã là nạn nhân của sự thống trị đó. Nhưng bây giờ đã là lúc mà Trung Quốc phải được tham gia vào việc đưa ra các nguyên lý hoạt động của thế giới để kết thúc 200 năm nhục nhã." Đại hội lần thứ 16 Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đã đưa ra viễn cảnh "20 năm vàng" sắp tới của Trung Quốc.
Thực tế, đứng trước Trung Quốc, thế giới ngày nay đang chứng kiến sự phát triển chóng mặt của một siêu cường kinh tế với những tham vọng và đòi hỏi ngày càng lớn về vai trò chính trị toàn cầu. Phương Tây, đặc biệt là Liên hiệp châu Âu – thường được gọi tắt là châu Âu, đang phải hết sức tích cực xem xét thực tiễn, dự tính tương lai để đưa ra một sách lược đúng đắn trong quan hệ đối với Trung Quốc – một đối tác và một thị trường khổng lồ với hơn 1,3 tỷ người đang có vẻ như khá bình ổn trong một chế độ toàn trị.
Hội nghị "Chính sách Trung Quốc của phương Tây" do Quỹ Heinrich Böll được tổ chức tại Berlin trong hai ngày 06 và 07 tháng 9 vừa qua là nhằm mục đích trên. Quỹ Heinrich Böll là một cơ quan nghiên cứu chính trị gần gũi với Đảng Xanh của CHLB Đức. Tại hội nghị đã có sự tham gia thuyết trình và đàm thoại của nhiều nhà lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng Xanh, nhiều chính trị gia liên bang của Đức và hàng loạt những giám đốc, chuyên viên của các viện nghiên cứu chính trị hàng đầu của EU, Mỹ và Trung Quốc. Trong khán giả cũng có mặt nhiều nhà nghiên cứu, quan chức ngoại giao của Đức, Mỹ, Trung Quốc, và đại diện của nhiều tờ báo lớn. Do vậy, ở một mức độ khá cao, phát biểu của các diễn giả có thể được coi là những biểu hiện tư duy và định hướng chính sách của phương Tây và nhà cầm quyền Trung Quốc. Đối với Việt Nam, một quốc gia sát nách Trung Quốc và không thiếu kỳ vọng vào sự trợ giúp không những là về kinh tế mà cả chính trị từ phương Tây, việc tham khảo những tư duy và định hướng này có thể không phải là điều vô ích.
Tại hội nghị, chính sách sử dụng tài nguyên, nhiên liệu và thái độ của Trung Quốc đối với vấn đề vũ khí hạt nhân tại Iran, Pakistan, Bắc Triều Tiên cũng là những chủ đề lớn, nhưng vì lý do kỹ thuật, bài viết này sẽ chỉ nêu ra những điểm đáng chú ý trong chính sách ngoại giao của phương Tây đối với Trung Quốc, của Trung Quốc đối với thế giới nói chung, và đề cập đến vấn đề nhân quyền trong quan hệ Trung Quốc – phương Tây.
Trong diễn văn khai mạc hội nghị, ông Fuecks, thành viên Ban giám đốc Quỹ Heinrich Böll đã đưa ra một cách nhìn tổng quan của phương Tây đối với Trung Quốc. Theo ông, Trung Quốc đã trở thành một thế lực kinh tế và đang muốn trở thành một thế lực chính trị thế giới. Ngồi tại Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, Bắc Kinh ngáng trở các biện pháp chống lại sự diệt chủng dần dần tại Sudan. Đối với Iran, họ ngăn cản việc trừng phạt mạnh mẽ hơn với mục đích đảm bảo nguồn nhiên liệu lâu dài. Cùng với Nga và các nước Trung Á khác, Trung Quốc tạo ra "Tổ chức Thượng Hải" gồm các chính quyền toàn trị để chống lại ảnh hưởng của Mỹ và Tây Âu đối với quyền lợi của họ. Đồng thời, sự đan kết kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng chặt chẽ, và người ta hy vọng rằng mối liên hệ này sẽ góp phần làm giảm thiểu các mâu thuẫn giữa hai nước. Trong khi đó, hình ảnh Trung Quốc ở châu Âu và đặc biệt là ở Đức cũng ngày càng hoàn chỉnh hơn: một mặt, châu Âu thán phục sự phát triển kinh tế ở Trung Quốc, mặt khác, châu Âu cũng hết sức lo ngại về sự tàn phá môi trường, tận dụng nguyên liệu, đường lối cứng rắn trong vấn đề Tây Tạng, điều kiện làm việc cực khổ của công nhân và hiện tượng kiểm duyệt thông tin, đàn áp bất đồng chính kiến tại Trung Quốc. Trong khi người Mỹ cho rằng Trung Quốc là một thị trường lớn và là một đối thủ chính trị tương lai, thì châu Âu lại đang nỗ lực để xây dựng với Trung Quốc một quan hệ "hợp tác chiến lược" dựa trên những giá trị, ích lợi và mục tiêu chung.
Ông Fuecks kết luận: “Không ai mong muốn Trung Quốc bất ổn định vì điều đó có thể là một hiểm hoạ cho thế giới. Nhưng một hệ thống tư pháp độc lập, báo chí tự do, công đoàn độc lập, tự do tư tưởng và tự do tín ngưỡng lại chính là những nhân tố để làm cho Trung Quốc ổn định. Người ta có quyền tiên liệu là nếu Trung Quốc chỉ tập trung một chiều vào phát triển kinh tế thì sự thăng tiến quốc gia sẽ không được lâu dài. Vì vậy, song song với quan hệ kinh tế, thì việc trợ giúp quá trình dân chủ hoá Trung Quốc trước sau vẫn phải là một mục tiêu trong chính sách của phương Tây."
Có thể coi phát biểu trên là một ước vọng. Nhưng, việc xem xét những phát biểu dưới đây của cả hai phía – Trung Quốc và phương Tây – cho thấy giữa ý nguyện và thực tiễn vẫn là một khoảng cách không dễ vượt qua.
Phương Tây thận trọng và lúng túng
Không những là ở châu Âu có vẻ "già nua", mà ngay ở nước Mỹ có vẻ như "hùng hổ" người ta cũng khó nhận thấy một thái độ dứt khoát đối với Trung Quốc. Điều này được thể hiện rõ trong các ý kiến của ông Shambaugh, giám đốc Chương trình Nghiên cứu Chính trị Trung Quốc tại Đại học George Washington, và của ông Yuan Jing Dong, người phụ trách Chương trình East Asia Non-Proliferation của Viện Nghiên cứu Quốc tế tại Monterey.
Ông Shambaugh cho biết Trung Quốc luôn là một đề tài lớn đối với xã hội Mỹ, trong đó, chủ yếu là người ta quan tâm tới khía cạnh chính trị. Trong thực tế, đề tài Trung Quốc được bàn luận ở xã hội nhiều hơn là trong chính giới. Có thể nói là vấn đề Trung Quốc kích động xúc cảm của người Mỹ. Khối đại chúng Mỹ cảm nhận Trung Quốc là một quốc gia có nền chính trị độc tài, tham nhũng, Trung Quốc là một thế lực chính trị gây ảnh hưởng tới thị trường lao động Mỹ qua việc tràn ngập thị trường Mỹ bằng các hàng hoá rẻ tiền, Trung Quốc là một nước phản dân chủ, liên kết chặt chẽ với các nhà nước độc tài và là một nguy cơ đe doạ quyền lợi của nước Mỹ. Thăm dò dư luận mới đây cho thấy cảm tình của người Mỹ đối với Trung Quốc rất thấp: trên thang bậc đánh giá thiện cảm của người Mỹ, Trung Quốc chỉ đứng trên các nước Bắc Triều Tiên, Iran, Ảrập Saudis và Iraq. Đối với chính giới Mỹ, quan điểm chính thống dựa trên 6 điểm:
- Hợp tác kinh tế,
- Phòng ngừa quân sự,
- Gia tăng buôn bán,
- Quan tâm tới nhân quyền, trong đó, kể từ khi Tổng thống Bush lên nắm quyền, vấn đề tự do tôn giáo chiếm vị trí ưu tiên,
- Giải quyết vấn đề Đài Loan bằng phương thức hoà bình thông qua đối thoại trực tiếp với quan điểm: một Trung Quốc bị cô lập sẽ rất nguy hại cho cộng đồng thế giới,
- Theo đuổi những lợi ích chung thông qua hình thức "quản lý tốt".
Theo ông Yuan Jing Dong, ngay trong chính quyền Bush cũng có sự xoay chiều trong chính sách đối với Trung Quốc. Trước đây, Mỹ luôn coi Trung Quốc là một đối thủ cạnh tranh chiến lược, còn ngày nay, Mỹ cho rằng hợp tác với Trung Quốc sẽ mang lại nhiều lợi ích. Người ta cho rằng Trung Quốc đã nhận ra khả năng tồn tại của thế giới đa cực, và Trung Quốc sẽ không có lợi nếu cứ cố gắng để trở thành một đối cực với Mỹ. Thế giới vừa rồi cũng phải khá ngạc nhiên về một sự kiện liên quan đến Đài Loan: khi mới nhậm chức, chính quyền Bush ủng hộ Đài Loan rất mạnh, nhưng mới đây, đứng trước trào lưu đòi lập quốc gia riêng của Đài Loan, Tổng thống Bush lại tuyên bố không nên thay đổi tình trạng của Đài Loan. Có nghĩa là cả phía Mỹ và Trung Quốc đều không muốn có sự xáo trộn trong quan hệ Trung Quốc – Đài Loan!
Dù có những nhận định như trên, người ta vẫn có lý do để trông chờ vào một sự không nhầm lẫn của Mỹ. Trong thực tế, Mỹ vẫn xác định Trung Quốc là một "yếu tố cản trở", và Trung Quốc vẫn không hề muốn coi Mỹ là một đồng minh. Trong khi đó, Liên Hiệp châu Âu (EU) lại cho thấy rất rõ sự lúng túng của mình trong đối sách với Trung Quốc. Thực trạng khá ảm đạm này được biểu hiện trong phát biểu của ông Jessen, người phụ trách Ban Trung Quốc, Hồng Kông, Macao, Mông Cổ của Ủy ban châu Âu, và của ông Kuhn, chủ tịch khối nghị sỹ Đảng Xanh tại Nghị viện Liên bang Đức.
Ông Jessen cho rằng, người Trung Quốc hiện nay đang sản xuất ra 5% sản lượng thế giới, nhưng trong tương lai, họ sẽ quay trở lại vị trí cũ, tức là sẽ sản xuất ra từ 20% đến 30% sản lượng toàn cầu. EU đang tập trung sự quan tâm vào Trung Quốc, trong đó, mối quan hệ kinh tế chiếm vị thế ưu tiên. Từ 2003, EU và Trung Quốc đã thoả thuận về một "Hợp tác chiến lược", nhưng ở Trung Quốc vẫn chưa có những điều kiện khung cho một sự phát triển kinh tế lâu dài. Ông Jessen nhận định rằng EU còn hiểu rất ít về Trung Quốc. EU có rất nhiều cơ sở nghiên cứu văn hoá và lịch sử Trung Quốc, nhưng đã hầu như không quan tâm đến các khía cạnh xã hội và quân sự của quốc gia này. Để bù đắp thiếu hụt trên, mới đây EU đã chuẩn chi 7 triệu Euro để cử chuyên gia sang nghiên cứu tình hình Trung Quốc.
Rõ ràng hơn, ông Kuhn khẳng định rằng "cả nước Đức và EU đều không hề có một Chính sách Trung Quốc"! Đức và EU nhìn Trung Quốc với con mắt vừa lo lắng vừa thán phục; và trước mắt, EU cần đến Trung Quốc nhiều hơn là ngược lại. Thực tế là khác với Mỹ, EU không coi Trung Quốc là một "yếu tố cản trở". Trong quan hệ với Trung Quốc, EU không chú trọng đến chính sách an ninh, và điều này đã làm nẩy sinh mâu thuẫn giữa Mỹ và châu Âu. Trong khi đó, đường lối ngoại giao "khôn khéo" của Trung Quốc đã làm cho EU rất lúng túng. Trong khi Trung Quốc dùng chính sách "đa cực" và phương pháp "song phương" đối với từng nước thành viên của châu Âu thì EU đã hoàn toàn bất lực trong việc tìm kiếm một đường lối chung. Vì vậy, "Hợp tác chiến lược" chỉ được coi là một nỗ lực lâu dài. Đối với EU, Trung Quốc không phải là một hiểm hoạ trong chính sách an ninh, mà là một yếu tố bất trắc do nhu cầu khổng lồ về năng lượng, và có thể là một thùng thuốc nổ do các vấn đề xã hội của Trung Quốc bởi hố phân cách giàu nghèo, bởi sự thiếu vắng hệ thống bảo hiểm…
Trung Quốc duy lợi và ranh mãnh
Trong các nhận định tổng quát về chính sách của Trung Quốc, đáng chú ý nhất có lẽ là phát biểu của bà Wacker, trưởng Ban châu Á của Viện Nghiên cứu Chính trị và An ninh Thế giới của chính phủ Đức, và của ông Stanzel, cựu đại sứ Đức tại Trung Quốc, hiện là giám đốc chính trị của Bộ Ngoại giao Đức.
Bà Wacker cho rằng Trung Quốc là một tấm huân chương hai mặt: vừa là một siêu cường, vừa là một nước đang phát triển. Người Trung Quốc muốn được thế giới coi mình là một siêu cường, nhưng trong thâm tâm vẫn tự cảm thấy mình còn tụt hậu. Trung Quốc đang bị chao đảo giữa hai thái cực này. Con số hơn 200 tỷ USD xuất siêu trong trong thương mại với Mỹ không phải là minh chứng cho sức mạnh của Trung Quốc vì trong thực tế, 50% hàng xuất khẩu của Trung Quốc là do các công ty nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài sản xuất ở Trung Quốc. Nhưng, ngay cả với mức thu nhập bình quân đầu người của một nước đang phát triển, Trung Quốc vẫn phải được coi là một siêu cường kinh tế. Hệ thống lãnh đạo Trung Quốc đang tập trung sức lực cho tiến trình cải tổ để phục vụ mục tiêu "kết thúc 200 năm nhục nhã" và giành lại vị trí năm 1820 khi mà Trung Quốc sản xuất ra 20-30% sản lượng toàn cầu.
Về đối ngoại, theo bà Wacker, Trung Quốc theo đuổi chính sách: nhìn nhận thế giới đa cực, tận dụng quan hệ song phương, đề cao chủ quyền và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ quốc gia khác. Về chính sách an ninh, Trung Quốc muốn có sự tôn trọng của các nước xung quanh và cộng đồng thế giới, muốn có láng giềng hoà bình và ổn định để không gây phiền cho Trung Quốc, đồng thời, Trung Quốc không muốn có bất cứ một liên minh nào chống lại họ, và họ rất "không hài lòng" với sự hình thành "Vòng cung dân chủ" mới đây gồm Mỹ, Nhật, Úc và Ấn Độ. Trung Quốc cũng sẽ không chấp nhận một quốc gia Đài Loan độc lập.
Theo ông Stanzel, những thông tin xuất phát từ Trung Quốc rất không nhất quán, và chính sách đối ngoại của Trung Quốc không phải là một điều dễ hiểu. Ông khẳng định: trong đối ngoại, sự tin tưởng lẫn nhau được dựa trên một số những giá trị nền tảng chung, không có giá trị nền tảng chung thì khó xuất hiện lòng tin. Hiện nay, Trung Quốc đang phải tự xác định bản thể của mình, và đó là điều khó khăn để thế giới có thể hiểu và tin Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, đường lối ngoại giao của Trung Hiện ngày nay rất phức tạp, vì vậy, người ta khó xác định được nó để có thể đưa ra một đối sách thích hợp. Thông thường, trong tương tác đa phương, mỗi bên phải nhượng bộ một phần chủ quyền của mình, nhưng Trung Quốc không bao giờ chịu như vậy. Tại tất cả các tiếp xúc để giải quyết các vấn đề quốc tế, Trung Quốc không bao giờ nhượng bộ dù chỉ một chút ít quyền lợi của mình. Đó là nguyên tắc ngoại giao chung của Trung Quốc. Đồng thời, nhiều hành xử ngoại giao của Trung Quốc lại mâu thuẫn với nhau, nhiều khi không được chuẩn bị kỹ càng và được thực thi theo phương thức vừa làm vừa đắn đo xem có thể kiếm lợi đến mức nào. Đây là một chính sách thăm dò và khó đáng tin.
Có lẽ, nguyên tắc ngoại giao vụ lợi tối đa trên đây đã là cha đẻ của những mánh lới ngoại giao được các diễn giả Trung Quốc không ngần ngại đưa ra tại hội nghị, trong đó, thái độ khá tự phụ kèm theo nhiều lời lẽ "xúi bẩy" và thủ thuật muốn "toạ sơn quan hổ đấu" trong quan hệ EU-Mỹ-Nga hiện ra khá rõ ràng. Các trình bày đáng chú ý là của ông Song Xinning, trước đây là giám đốc Trung tâm Nghiên cứu châu Âu của Đại học Nhân dân tại Bắc Kinh, hiện nay là chuyên viên nghiên cứu cao cấp tại Đại học Liên Hiệp Quốc ở Bỉ, của ông Yuan Jing Dong, giáo sư nghiên cứu chính trị quốc tế tại Học viện Monterey, của ông Zhang Ziqian, phó tổng thư ký Viện Nghiên cứu châu Âu tại Thượng Hải, và của ông Zhang Tiejun, giám đốc điều hành Ban Nghiên cứu châu Âu tại Viện Nghiên cứu Quốc tế tại Thượng Hải.
Kể từ khi kinh tế Trung Quốc bùng phát, một trong những ưu tư hàng đầu của EU là tạo ra được với Trung Quốc một quan hệ "Hợp tác chiến lược". Hội đồng Liên Hiệp châu Âu mới đây cũng đã đưa ra một tài liệu mô tả ý tưởng "Hợp tác chiến lược" này. Đối với ý nguyện trên của EU, ông Song Xinning đã thẳng tay "phê" là Trung Quốc không thấy có gì đảm bảo, Trung Quốc và EU không có đồng thuận về cách hiểu "Hợp tác chiến lược", và định nghĩa của EU về mối quan hệ này hạn hẹp hơn nhiều so với quan điểm của Trung Quốc.
Ông Song Xinning cho biết, đối với Trung Quốc, vấn đề kinh tế đứng hàng đầu. Năm 2002, trong chủ trương quan hệ tốt với tất cả các nước, nhiều người Trung Quốc muốn học hỏi mô hình xã hội châu Âu. Khi xảy ra cuộc chiến Iraq năm 2003, thái độ của châu Âu đối với Mỹ đã làm tăng hy vọng gần gũi với châu Âu của Trung Quốc. Nhưng, từ năm 2005, Trung Quốc cho rằng châu Âu đã mất sức hấp dẫn, và Trung Quốc cho rằng nhiều vùng đất khác cũng không kém phần quan trọng. Ông Song Xinning có vẻ như rất thành thực khi nói rằng: “Trung Quốc muốn có quan hệ tốt không những là đối với EU, mà đối với cả Mỹ, Nhật và Nga. Đối với Trung Quốc, EU là một đối tác quan trọng, nhưng khi xem xét khía cạnh kinh tế thì Mỹ quan trọng hơn nhiều. Trong quan hệ với Trung Quốc, EU phải chấp nhận cạnh tranh với cả Nga, Nhật và các nước Đông Á khác. Kể từ năm 2006, trong chương trình khai thác nguyên liệu và nhiên liệu tại châu Phi, Trung Quốc nhìn nhận EU như là một đối thủ cạnh tranh hơn là một đối tượng hợp tác. "
Về chính sách an ninh của Trung Quốc, bài phát biểu của ông Yuan Jing Dong cho thấy Trung Quốc đang tập trung tâm lực vào khu vực châu Á. Trước chiến tranh lạnh, tuy là một thế lực lớn ở châu Á, nhưng Trung Quốc đã không hề có một Chính sách châu Á. Sau chiến tranh lạnh, đứng trước tương lai một thế giới đa cực, người Trung Quốc phấn khích và tin rằng mình sẽ có một vai trò toàn cầu to lớn. Nhưng ngay sau đó, niềm phấn khích đã nguội đi nhanh chóng khi Trung Quốc nhận thấy rằng tại khắp nơi, Mỹ vẫn đóng vai trò thống lĩnh, và sau sự kiện Thiên An Môn 1989, Trung Quốc đã phải đương đầu với một loạt các phản ứng trừng phạt của phương Tây. Việc chú tâm vào Chính sách châu Á ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Chính sách này gồm hai nét chính:
- Tạo ra những quan hệ láng giềng êm thấm, trong đó gồm có việc cải thiện quan hệ với Nga và bình thường hoá quan hệ với Ấn Độ,
- Tăng cường khả năng quân sự để giữ vị thế mạnh trong vùng. Trong thực tế, một vài đụng độ vũ trang nhỏ cũng đã xảy ra.
Dựa trên chính sách trên, Trung Quốc đã tạo lập ra hàng chục các liên hệ hợp tác chiến lược khác nhau. Theo Trung Quốc, "Hợp tác chiến lược" chỉ là một "đám cưới vụ lợi" nhằm giải quyết từng vấn đề cụ thể chứ không hàm chứa một đường lối chính trị lâu dài. Trung Quốc có vẻ như sẵn sàng thích ứng với một thế giới đa cực, và khi Mỹ vẫn duy trì sự có mặt tại châu Á và liên kết chặt chẽ với Nhật Bản, thì Trung Quốc rất "không hài lòng" về chủ đích của Mỹ muốn đóng vai trò làm đầu mối các chính sách an ninh quốc tế. Cũng có thể vì lý do trên, và để đối phó với việc hình thành mới đây của "Vòng cung dân chủ" gồm có Mỹ, Nhật Bản, Úc và Ấn Độ, nên Trung Quốc đang gấp rút đưa ra những đối sách mới. Trong đối sách này, Trung Quốc gia tăng liên hệ với các nước châu Á khác, đặc biệt là khối ASEAN. Theo Trung Quốc, khác với những năm 90 trước đây, nhiều nước trong ASEAN hiện nay không còn coi Trung Quốc là một mối đe doạ, mà đã coi Trung Quốc như là một cơ hội cho họ. Trung Quốc đang khuyến khích việc hình thành một "Ý thức châu Á" và đòi hỏi phải có một Hội nghị thương đỉnh châu Á không có mặt của Mỹ. Theo ông Yuan Jing Dong, Trung Quốc đang dùng sách lược "ngoại giao mềm dẻo" để theo đuổi mô hình "khu vực hoá" nhằm hạn chế dần vai trò của Mỹ tại châu Á.
Bài nói của ông Zhang Zuqian cũng cho biết thêm một vài nét khá lý thú trong phương sách ngoại giao của Trung Quốc.
Đối với vùng Trung Á, ông Zhang Zuqian cho rằng Trung Quốc muốn góp sức để khu vực này trở thành một vùng phát triển "mở", ổn định và phồn thịnh hơn. Việc ổn định và phồn thịnh hoá vùng Trung Á hoàn toàn phù hợp với lợi ích của Trung Quốc. Trước đây, Trung Á nằm gọn trong vòng kiểm soát của Nga, sự ổn định chỉ là bề mặt che phủ nhiều mâu thuẫn và điều này không phù hợp với mong muốn của Trung Quốc.
Tâm thức đối kháng với Nga và cả đối với Liên Xô trước đây được biểu hiện rõ ràng trong trình bày của ông Zhang Zuqian về quan hệ Trung Quốc – NATO. Đã từ rất lâu, Trung Quốc rất quan tâm tới khối quân sự NATO. Trước đây, Học viện Thượng Hải là cơ quan chuyên trách nghiên cứu về NATO của Trung Quốc, và công việc nghiên cứu này đã được Trung Quốc giữ kín trong một thời gian dài. Vào thời điểm trước Cách mạng Văn hoá, cựu giám đốc Học viện này đã nhận định rằng: “Đối với Trung Quốc, khối quân sự NATO không phải là một tổ chức tồi tệ. Lý do là NATO có hai mục tiêu ở châu Âu: thứ nhất là đảm bảo vai trò kiểm soát của Mỹ tại Tây Âu, thứ hai là ngăn chặn sự lan truyền ảnh hưởng của Liên Xô; và vai trò thứ hai này hoàn toàn phù hợp với lợi ích của Trung Quốc. Nếu không có NATO, Trung Quốc sẽ phải chịu một sức ép quân sự lớn hơn nhiều từ phía Liên Xô. Nếu không có NATO, Trung Quốc khó có thể giữ được vị thế quốc tế của mình." Hiện tại, sau các biến cố chuyển đổi tại Đông Âu, Học viện Thượng Hải đã liên hệ với NATO, và Trung Quốc tuyên bố rằng muốn hợp tác với NATO để giải quyết các vấn đề an ninh toàn cầu như chống khủng bố quốc tế và tội phạm xuyên quốc gia. Sau hội nghị chung năm 2003, Trung Quốc đã mời 3 nhân viên cao cấp của Bộ Tư lệnh NATO đến làm việc tại Trung Quốc. Càng ngày càng có nhiều quan chức chính phủ Trung Quốc, đặc biệt là ở Bộ Ngoại giao, chia sẻ quan điểm của Học viện Thượng Hải và mong muốn tăng cường hợp tác với NATO. Trong tương lai, sự hợp tác này sẽ ngày càng phát triển.
Rõ ràng, phương sách ngoại giao nhiều mặt trên đây của Trung Quốc hoàn toàn không có chút ít gì dấu vết của lý tưởng ý thức hệ. Nó khẳng định nguyên tắc vụ lợi, đường lối chính trị khôn lường của Trung Quốc và cho thấy rõ sự ngây thơ đáng thương của những ai hy vọng vào tình "anh em" từ ban lãnh đạo Bắc Kinh.
Tuyên bố thì như trên, nhưng tại Afghanistan gần đây vẫn có sự "đụng độ" giữa NATO và Trung Quốc. Khi bị một cựu đại sứ Đức tại Ấn Độ chất vấn về vấn đề này, ông Zhang Zuqian không trả lời trực tiếp, mà chỉ nhận định rằng các vấn đề ở Afghanistan đụng chạm nhiều tới quyền lợi của Trung Quốc; Afghanistan là một trong những nguồn gốc gây ra nạn ma tuý tại Trung Quốc, ở Afghanistan có nhiều phần tử quá khích có khả năng làm bất ổn miền tây Trung Quốc.
Có nghĩa là một mặt vẫn dùng tấm khiên "không can thiệp vào nội bộ các nước khác" để che chắn phương Tây, mặt khác, Trung Quốc vẫn không ngần ngại "đụng độ" tại nước ngoài để bảo vệ lợi ích trong nước. Thái độ rất mực tự tin của Trung Quốc còn được biểu hiện trong những nhận định của ông Zhang Zuqian về Nga và Ấn Độ.
Ông Zhang Zuqian tuyên bố Trung Quốc không phải là một thế lực bành trướng, nhưng việc Nga kiểm soát vùng Trung Á là một sự cản trở đối với mục đích gia tăng buôn bán và đảm bảo nguồn nguyên liệu, nhiên liệu của Trung Quốc tại vùng này. Từ trước tới nay bao giờ cũng tồn tại quan hệ đối địch giữa Trung Quốc và Nga. Trong một hội đàm quốc tế năm 2004, khi Nga đòi Mỹ rút quân ra khỏi Trung Á thì Trung Quốc "hết sức ngạc nhiên" và đưa ra điều kiện cho việc Mỹ rút quân. Đối với Ấn Độ, Trung Quốc có quan ngại về sự tham gia của Ấn Độ vào "Vòng cung dân chủ", nhưng sự e ngại cũng không lớn lắm. Lý do là Trung Quốc có quan hệ buôn bán với tất cả các nước trong tổ chức này. Đồng thời, Trung Quốc cho rằng cuộc thử nghiệm vũ khí hạt nhân của Ấn Độ vừa rồi là một "sai lầm ngu xuẩn". Trước đó, Ấn Độ có nhiều ưu thế về vũ khí thông thường, nhưng sau việc thử vũ khí hạt nhân, ưu thế này của Ấn Độ biến mất, và Trung Quốc hết sức vui mừng. Trung Quốc cũng cho rằng Hiệp ước hạt nhân giữa Mỹ và Ấn Độ cũng sẽ không đạt được bất cứ một mục đích chính trị nào. Không ai ở Trung Quốc tin rằng đến một lúc nào đó Ấn Độ sẽ trở thành một đối thủ ngang sức với Trung Quốc.
Phát biểu của ông Zhang Tiejun dưới đây cũng theo chiều hướng suy luận của ông Zhang Zuqian, nhưng lại cho thấy rõ hơn tính lắt léo trong lý luận ngoại giao của Trung Quốc.
Ông Zhang Tiejun cho rằng thực tế đã có những bước đi hợp tác chiến lược giữa EU và Trung Quốc, nhưng cả hai bên đều không có những định nghĩa cụ thể và những tiêu chuẩn rõ ràng cho khái niệm "Hợp tác chiến lược". Tốt hơn hết là người ta một mặt nên cố gắng xây dựng lên một liên minh, mặt khác phải tạo ra một quan hệ thông thường, mềm dẻo, không có những mục tiêu chắc chắn. Người ta phải phân biệt rõ sự khác nhau giữa một hợp tác chiến lược và một liên minh thông thường. Hợp tác chiến lược phải dựa trên một số giá trị cơ bản và là một quá trình học hỏi lẫn nhau. Hợp tác chiến lược phải không có sự kiểm soát của một bên thứ ba và phải tuân theo những nguyên tắc: bình đẳng, tin tưởng nhau, chú ý tới quyền lợi và nguyện vọng của đối tác để cho hai bên cùng có lợi. Quan hệ giữa EU và Trung Quốc là một quan hệ đặc biệt và có thể được coi là một "Trục" lâu dài. Quan điểm "hai bên cùng có lợi" liên quan tới mâu thuẫn giữa nguyên tắc chủ quyền của Trung Quốc và cấm vận của phương Tây; ở đây, người ta phải cố gắng để có sự cân bằng và phải chú ý tới tác động của Mỹ đối với quan hệ Trung Quốc – EU. Trong quan hệ này, các yếu tố sau đây cần được quan tâm:
- Sự hiện diện đồng thời của Mỹ và EU tại vùng Đông Á khi mà liên hệ Trung Quốc – EU ngày càng trở nên quan trọng hơn.
- Có sự khác biệt lớn giữa chính sách đối nội của Trung Quốc và chính sách đối ngoại giữa Trung Quốc và phương Tây.
- Trung Quốc đã thay đổi quan niệm về thế giới sau 11.09, Trung Quốc mềm dẻo hơn, có ý kiến khác hơn về vấn đề dân chủ toàn cầu.
Tuy vậy, giữa Trung Quốc và phương Tây vẫn có sự khác biệt trong nhận thức về vai trò toàn cầu của Trung Quốc và trong cách hiểu về các khái niệm "Quản lý tốt", "Quản lý tồi", "Quản lý phòng ngừa"… Đó cũng là lý do cho sự khác nhau trong hành xử của Trung Quốc và EU tại châu Phi. Ở đó, Trung Quốc không hành động theo phương thức "cho và nhận", mà là theo nguyên tắc bình đẳng và tương trợ giữa các nước đang phát triển. Thực tế là Trung Quốc và châu Âu đang có mâu thuẫn tại châu Phi. Về toàn cục, trrong khi châu Âu đang còn lưỡng lự với một thế giới đa cực thì Trung Quốc ngày càng tin tưởng vào kinh tế thị trường, tin tưởng vào một trật tự thế giới đa cực gồm các quan hệ song phương, trong đó, tương lai của thế giới nằm ở việc đa thức hoá các liên hệ song phương. Giữa EU và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng về quyền lợi, EU bắt đầu nhìn Trung Quốc với con mắt khác hơn, tôn trọng Trung Quốc hơn, nhưng đồng thời cũng gây sức ép với Trung Quốc nhiều hơn. EU quan tâm tới thị trường Trung Quốc và đòi hỏi nhiều hơn để Trung Quốc trở thành một thị trường ổn định. Vấn đề là ai đặt ra tiêu chuẩn cho một thị trường ổn định? Câu trả lời sẽ chính là Mỹ với thí dụ điển hình là tác động mới đây của họ trong việc tiếp tục cấm bán vũ khí cho Trung Quốc.
Va chạm trong vấn đề nhân quyền – Châu Âu vẫn còn lưỡng lự
Trong phần hội thảo về vấn đề nhân quyền, sự "kiên định" của Trung Quốc và sự e dè của châu Âu được hiện ra khá rõ.
Ông Song Xinning, cựu giám đốc Trung tâm Nghiên cứu châu Âu của Đại học Nhân dân tại Bắc Kinh khẳng định rằng sự ưu tiên về chính trị của Trung Quốc không phải là nhân quyền và dân chủ. Ưu tiên hàng đầu của Đảng Cộng sản (ĐCS) Trung Quốc hiện nay là vấn đề hợp thức hoá vai trò lãnh đạo của họ. Thực tế là nhiều địa phương ở Trung Quốc hiện nay đang đòi hỏi tản quyền, vì vậy, có thể coi là ở Trung Quốc đang có một cuộc khủng hoảng về vấn đề hợp thức hoá vai trò của ĐCS. Ban lãnh đạo ĐCS biết rằng họ đang đứng trước một thử thách chính trị, nhưng nhiều người ở Trung Quốc nhận thức rằng không cần thiết phải có một lực lượng chính trị khác thay thế Ban lãnh đạo ĐCS hiện nay. Đa phần người Trung Quốc sợ hãi bài học ở Nga và tin vào sự lãnh đạo quá trình đổi mới của ĐCS, trong đó, đời sống của dân chúng đã được nâng cao. Do vậy, ĐCS Trung Quốc muốn đảm bảo sự lãnh đạo của họ bằng việc nâng cao mức sống người dân. Cẩm nang của ĐCS Trung Quốc hiện nay là "xã hội hài hoà", có nghĩa là mọi vấn đề sẽ được giải quyết trong nội bộ xã hội, và nhân quyền cũng như dân chủ nằm ngay trong các hoạt động hàng ngày. Tóm lại, mục tiêu chính sách đối nội ở Trung quốc là: đời sống sung túc và giải toả mâu thuẫn bằng một "xã hội hài hoà".
Ông Song Xinning cho biết ở Trung Quốc cũng đã có những tranh luận về một sự cải tổ chính trị với hệ thống đa đảng, nhưng đối với Trung Quốc, đó không phải là một giải pháp khả thi và không được cả giới cầm quyền lẫn giới trí thức chấp nhận. Nhiều người Trung Quốc mong việc cải tổ phải do ĐCS lãnh đạo, họ cần dân chủ hơn trong nội bộ một đảng và không cần dân chủ hơn trên bình diện nhà nước. Nói chung, cả xã hội và tầng lớp trí thức không quan tâm lắm tới vấn đề nhân quyền. Đối với nhiều người Trung Quốc, nhân quyền trước hết là quyền của đa số, và không phải là vấn đề của thiểu số. Quan niệm này là một đặc thù Trung Quốc và được xuất phát từ truyền thống. Hơn nữa, đối với người Trung Quốc, nhân quyền và dân chủ là vấn đề nội bộ chứ không phải là vấn đề của chính sách ngoại giao. Người Trung Quốc cho rằng nỗ lực ngoại giao về nhân quyền của phương Tây chỉ là phương tiện để gây sức ép đối với Trung Quốc. Người Trung Quốc không thể hiểu nổi tại sao Mỹ vàphương Tây lại quan tâm đến nhân quyền của một ít thiểu số và một ít nhà bất đồng chính kiến. Đối với nhiều người Trung Quốc, phương Tây quan tâm đến nhân quyền chỉ để nhằm mục đích lật đổ chính quyền cộng sản Trung Quốc.
Đề cập đến các buổi "Đối thoại về nhân quyền" đã diễn ra giữa EU và Trung Quốc, ông Song Xinning cho rằng các buổi đối thoại là cần thiết, nó làm tăng thêm ý thức và sự chú ý về nhân quyền của người dân, nhưng nó không quan trọng cho các hoạt động của chính phủ. Người Trung Quốc cho rằng hiện nay tình trạng nhân nhân quyền ở Trung Quốc đã có nhiều tiến bộ, và họ rất bất bình với những ai cho rằng tình trạng nhân quyền của họ "ít thay đổi, thậm chí có một số lĩnh vực còn bị thụt lùi". Ở Trung Quốc có một hiện tượng đáng ngạc nhiên là khi đề cập đến nhân quyền và dân chủ, người ta thường thấy người dân, đặc biệt là giới sinh viên còn cứng rắn, bảo thủ hơn cả giới cầm quyền. Nhiều trí thức và sinh viên Trung Quốc đã phê phán giới lãnh đạo quá mềm yếu trước phương Tây, và họ cho rằng "không được giặt đồ dơ dáy trước mặt thiên hạ". Đó là phong cách Trung Quốc, và trí thức Trung Quốc có thể chấp nhận áp lực bên ngoài để có sự cải tổ, nhưng áp lực này phải nhẹ nhàng và phải dựa trên tinh thần xây dựng.
Điều dễ thấy là những nhận định trên đây của ông Song Xinning – mà người ta có thể khẳng định là phát ngôn chính thống từ phía Trung Quốc, đã gây không ít khó khăn cho chính giới và các tổ chức nhân quyền châu Âu.
Ông Montag, nghị sĩ liên bang Đức của Đảng Xanh, người đã từng tham gia nhiều buổi "Đối thoại về nhân quyền" với chính quyền Trung Quốc, cho rằng "đánh giá về vấn đề nhân quyền Trung Quốc rất khó vì có nhiều cách nhìn nhận khác biệt". Như báo cáo của chính phủ Đức thì theo tiêu chuẩn phương Tây, tình trạng nhân quyền ở Trung Quốc là rất xấu. Ngược lại, phần lớn người Trung Quốc lại cho rằng nhân quyền ở Trung Quốc đã có nhiều tiến bộ. Khi được hỏi cảm nhận về hiện tại, người có tuổi thì tưởng nhớ lại thời kỳ Cách mạng Văn hoá, giới trẻ thì so sánh với cuộc sống khốn khó trong những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Vì vậy, sau chuyến đi thăm năm 1999 của Cựu Thủ tướng Schroeder, chính phủ Đỏ – Xanh của Đức đã tránh không động chạm trực tiếp đến các vấn đề nhân quyền, mà đi theo đường vòng bằng cách khuyến khích chính quyền Trung Quốc tham gia vào các cuộc "Đối thoại về nhà nước pháp quyền". Theo ông Montag, Trung Quốc có vẻ như sẵn sàng tiếp nhận những chuẩn mực của một nhà nước pháp quyền khi đi vào bàn bạc các vấn đề cụ thể (như Luật đào tạo luật sư, Luật hành chính, Luật gia đình…).
Phát biểu của ông Montag cho thấy: mặc dù bức bối về tình hình nhân quyền tại Trung Quốc, nhưng ít nhất là chính phủ trước đây của Đức cũng không dám nói ra những điều "nghịch nhĩ" Bắc Kinh, và những bước đi của chính phủ Đức cũng không xa lộ trình mà Bắc Kinh mong muốn. Trong chuyến đi thăm Trung Quốc mới đây, bà Merkel, Thủ tướng hiện hành của Đức đã tỏ ra mạnh dạn và thẳng thắn hơn người tiền nhiệm, nhưng kết quả cố gắng của bà vẫn là một câu hỏi ngỏ. Hiệu quả cực kỳ hạn chế của các các buổi "Đối thoại về nhân quyền" với Trung Quốc còn được thể hiện qua mô tả của bà Seidensticker, phó giám đốc Viện Nhân quyền của CHLB Đức.
Theo bà Seidensticker, đối với Trung Quốc, chính sách nhân quyền của EU có hai thái cực: một mặt là tự đánh giá mình quá cao, mặt khác lại quá rụt rè vì sợ mất lòng Trung Quốc. EU đã bỏ khá nhiều công sức để tổ chức các buổi "Đối thoại về nhân quyền" ở cả cấp chính quyền và cấp chuyên gia. Song song với gặp gỡ Trung Quốc – EU còn có hàng loạt các đối thoại song phương giữa nhiều nước thành viên của EU và Trung Quốc. Trong 10 năm vừa qua đã có tổng cộng hơn 120 cuộc tiếp xúc về nhân quyền giữa phương Tây và Trung Quốc. "Đối thoại về nhân quyền" được hình thành như sau:
Dựa trên thực trạng vô tác dụng của Ủy ban Nhân quyền Liện Hiệp Quốc, cuối năm 1995, đầu năm 1996, EU đã thuyết phục Trung Quốc tham gia hình thức "Đối thoại về nhân quyền". Các buổi đối thoại này gồm hai phần: phần gặp gỡ đại diện chính phủ, và phần gặp gỡ của giới chuyên gia. Mục tiêu các buổi đối thoại cấp chính phủ là:
- Theo đuổi các giá trị nhân quyền để đạt những mục đích chính trị phù hợp với quyền lợi của các bên.
- Hợp tác trên lĩnh vực nhân quyền.
- Bày tỏ mối quan ngại của EU về tình trạng nhân quyền của các quốc gia đối thoại.
- Trao đổi các thông tin về nhân quyền nhằm gây ảnh hưởng tích cực tới tình trạng nhân quyền.
Các cuộc họp chuyên gia thường được tổ chức trước khi có gặp gỡ đại diện chính phủ.
- Năm 2001, EU xác định việc cải thiện tình trạng nhân quyền ở Trung Quốc chỉ là một "mục tiêu có thể" của các buổi đối thoại.
- Năm 2004, EU nâng việc cải tiến tình trạng nhân quyền lên mức là "mục tiêu trực tiếpV, là "chỉ tiêu" của đối thoại.
Kể từ năm 2004, EU nhận định rằng tình hình nhân quyền ở Trung Quốc đã có nhiều tiến triển tích cực và muốn tiếp tục đối thoại với hy vọng Trung Quốc sẽ có một xã hội mở và một chế độ pháp quyền. Đồng thời, EU cũng thấy rõ rằng tuy có một số thay đổi về pháp chế ở Trung Quốc, nhưng người ta cũng chưa nhìn thấy tác dụng của sự thay đổi, và thực tế, người ta cũng không rõ những cải tiến này sẽ dẫn tới đâu.
Có lẽ sự nghi ngờ của EU đã được thực tiễn trả lời vào tháng 5 năm 2007 vừa qua. Buổi "Đối thoại" dự định được tổ chức tại Đức. Phái đoàn chính phủ Trung Quốc đã tới nơi, nhưng đã bỏ về ngay do phía EU đã mời hai tổ chức phi chính phủ của người Trung Quốc tham dự đàm thoại.
Mặc dù bị "vố bất ngờ" trên, nhưng theo bà Seidensticker, EU vẫn mong muốn tiếp tục đối thoại vì cho rằng "phía Trung Quốc vẫn chú ý lắng nghe trong các buổi gặp gỡ", và "việc tổ chức đối thoại sẽ chứng tỏ rằng EU vẫn quan tâm tới vấn đề nhân quyền ở Trung Quốc". Cuối cùng, bà Seidensticker kết luận rằng ngoài hình thức đối thoại như trên, "EU không nhìn thấy phương thức nào tốt hơn".
Các phát biểu trên của ông Montag và bà Seidensticker đã làm Hội nghị nóng lên rõ rệt. Một đảng viên lâu năm của Đảng Xanh tuyên bố "rất thất vọng về ý kiến của ông Montag và bà Seidensticker", và "không thể chấp nhận" được việc trong khi đối thoại với Trung Quốc, phía phái đoàn chính phủ Đức trước đây, trong đó có ông Montag, đã không dám đả động đến ngay cả vấn đề tự do báo chí. Một biên tập viên người Trung Quốc của tạp chí Epoche Times (Đại kỉ nguyên) đã chất vấn các đại diện của chính phủ và các cơ quan nhân quyền EU "đối thoại để làm gì khi đằng nào thì Trung Quốc cũng không chấp nhận ý tưởng nhân quyền của châu Âu?".
Nỗi thất vọng về kết quả đàm thoại nhân quyền giữa Trung Quốc và EU còn được nêu rõ trong ý kiến của ông Berkofsky, nhà phân tích chính trị tổng hợp của Trung tâm Chính sách của châu Âu.
Theo ông Berkofsky, dư luận chung cho rằng sau hơn 10 năm đối thoại với Trung Quốc về nhân quyền, EU đã gặt hái được rất ít thành quả. Sau 10 năm hao tốn rất nhiều công của với hy vọng đã tạo ra sự tin tưởng lẫn nhau, việc Trung Quốc bỏ đối thoại hồi tháng 5 vừa rồi vì sự có mặt của hai tổ chức phi chính phủ làm cho người ta phải đặt câu hỏi: có nên tiếp tục đối thoại nữa hay không? Châu Âu cũng phải tự hỏi rằng họ muốn có một không khí dễ chịu trong đàm thoại, hay là muốn đàm thoại có kết quả? Sự thật là sau hơn 10 năm vẫn tồn tại những nỗi cách biệt rất lớn về định nghĩa nhân quyền. Đối với châu Âu, nhân quyền là một giá trị phổ cập gồm các quyền chính trị, quyền dân sự; còn đối với chính quyền Trung Quốc, thì nhân quyền chỉ có nghĩa là "nhân quyền về kinh tế". Dựa theo nhận định của ông Song Xinning: “nhân quyền và dân chủ không phải là những cái được ưu tiên ở Trung Quốc", ông Berkofsky cho rằng "hình như Trung Quốc chỉ do chiều lòng EU mà có mặt trong các buổi đối thoại. Ở đó, họ chỉ ngồi nghe những điều mà họ chẳng quan tâm, và khi bị phê phán vì những vi phạm nhân quyền thì họ lại an ủi EU là sẽ giải quyết vấn đề ở những vòng đàm phán tiếp theo". Về phía EU, một thái độ thống nhất đối với Trung Quốc không phải là một điều dễ làm với thực thể 27 thành viên gồm những quyền lợi và ý kiến khác nhau. Mới đây, chính phủ Pháp lý luận là khi muốn bán phi cơ Airbus cho Trung Quốc thì người ta không dễ đả động đến nhân quyền. Ông Berkofsky kết luận: cho đến nay, các buổi đối thoại về nhân quyền đã thất bại, châu Âu phải đối diện với câu hỏi về sự cần thiết và một cách thức mới trong việc nói chuyện với Trung Quốc về nhân quyền.
Một vài kết luận cần thiết
Điểm tích cực trong hai ngày hội nghị là đã làm sáng rõ nhiều nhận định trái ngược nhau. Song song với những đánh giá thán phục về mức độ phát triển kinh tế là những tiên liệu về khả năng hạn chế của chính thể Trung Quốc. Bên cạnh những cách nhìn nhận mềm mỏng và rụt rè là những đòi hỏi về một chính sách dứt khoát và khôn ngoan hơn của phương Tây đối với Bắc Kinh.
Ông Kuhn, chủ tịch khối nghị sĩ Đảng Xanh tại Nghị viện Liên bang Đức phát biểu thẳng là ông không tin vào sự xuất hiện "20 năm vàng sắp tới" của Trung Quốc. Ông cho rằng một chính quyền độc tài có thể có khả năng giải quyết nhanh một số vấn đề về kinh tế, tài chính, và điều này có thể làm cho Trung Quốc phát triển nhanh trong một thời gian nhất định. Nhưng kinh tế thế giới ngày càng phức tạp, và mỗi quốc gia nhất thiết phải có một xã hội tri thức với tiêu chí bắt buộc là sự tự do trong phê phán. Tự do phê phán được dựa trên tự do tư tưởng, tự do báo chí. Thiếu vắng điều này thì ban lãnh đạo quốc gia sẽ hoàn toàn không có khả năng cải tiến.
Ông Xue Li, chuyên viên nghiên cứu tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc tại Bắc Kinh cũng bổ sung nhận định của ông Kuhn bằng phát biểu mà ông nói trước là "ý kiến cá nhân" của mình. Theo ông Xue Li, sự trỗi dậy của Trung Quốc chỉ là một câu chuyện cổ tích. Trung Quốc hoàn toàn không có khả năng trở thành lớn mạnh như Mỹ. Sức mạnh quân sự của Trung Quốc còn rất kém. Hải quân của Trung Quốc còn yếu hơn cả của Nhật Bản. Nếu như thời phong kiến trước đây hải quân Trung Quốc có thể cầm cự với hải quân Nhật Bản được một thời gian, thì ngày nay Trung Quốc không thể chống chọi với Nhật Bản dù chỉ vài ngày trên biển. Trong nội tình, Trung Quốc còn có quá nhiều khó khăn phải giải quyết, và khi các vấn đề này không được giải toả, thì khủng hoảng sẽ xảy ra. Ngày nay, Trung Quốc là một quốc gia không có bản thể rõ ràng. Trong khi chủ nghĩa cộng sản ngày càng suy yếu, thì người ta vẫn không rõ Trung Quốc có một chính thể cộng sản hay là một chính thể dân tộc chủ nghĩa. Điều dễ thấy là Trung Quốc đang cần những giá trị tinh thần mới cho sự phát triển quốc gia.
Khi đề cập tới một chính sách đối với Trung Quốc, ông Trittin, nghị sĩ liên bang thuộc Đảng Xanh, cựu Bộ trưởng liên bang Đức, cho rằng EU không nên mơ tưởng tới khái niệm "Hợp tác chiến lược", vì đó là một cố gắng nhồi nhét quá nhiều sách lược vào một định nghĩa cụ thể. Cũng phải nhìn nhận rằng, trong khi Trung Quốc đang tung ra hàng loạt những khái niệm như "quản lý tốt", "quản lý dở ", "quản lý có hiệu quả" để đối phó với khái niệm "độc tài", "dân chủ" của phương Tây, thì việc họ xua đuổi, triệt hạ các nhóm người thiểu số còn tồi tệ hơn cả phương thức "quản lý dở". Nếu không có tính hợp thức và minh bạch thì không thể có một sự "quản lý có hiệu quả".
Đối với việc phía Trung Quốc tung ra hàng loạt các khái niệm mới như trong trình bày đã nêu của ông Zhang Tiejun, ông Sandschneider, giám đốc nghiên cứu của Viện Chính sách Ngoại giao Đức, đã tỉnh táo để nhận ra rằng: “Người Trung Quốc là bậc thầy trong chuyện nhồi nhét cho chúng ta hàng loạt những khái niệm, sau đó, họ ngồi cười ngất với nhau khi thấy chúng ta hàng mấy tuần liền tranh luận với nhau thế nào là quản lý tốt, quản lý tồi, quản lý có hiệu quả hay thế nào là sự hài hoà trong chính sách thế giới, và chúng ta là những kẻ đủ đần độn để lao vào trò lỡm này của họ."
Theo ông Sandschneider, chính sách Trung Quốc của châu Âu rất xa rời thực tế, và thực chất, chỉ có giá trị trên giấy tờ. Ông khẳng định: Trung Quốc không phải là một đồng minh chiến lược của châu Âu, giữa Trung Quốc và châu Âu có quá nhiều bất đồng về lợi ích, và việc hy vọng vào một giải pháp trọn vẹn, tổng thể cho mối quan hệ Trung Quốc – châu Âu chắc chắn sẽ dẫn đến thất bại. Châu Âu phải xử sự gần giống như Trung Quốc, tức là phải có một chính sách rất thực tiễn, rất uyển chuyển trong khi không được phép "mơn trớn" Trung Quốc quá nhiều. Châu Âu không được phép chỉ nói chuyện với Trung Quốc về những lợi ích chung, mà phải đặt lên bàn nghị sự cả những điều cách biệt.
Trong chính sách nhân quyền đối với Trung Quốc, ông Shambaugh, giám đốc Chương trình Nghiên cứu Chính trị Trung Quốc của Đại học George Washington, cho rằng giữa Mỹ và EU không nên chỉ nói mà phải cố gắng đạt tới sự cải thiện nhân quyền ở Trung Quốc, phải tiến tới mục tiêu là một xã hội dân sự sẽ hình thành ở Trung Quốc.
Những khó khăn cho ước vọng trên của ông Shambaugh được thể hiện trong bài phát biểu kết thúc hội nghị của ông Stanzel, cựu Đại sứ Đức tại Trung Quốc, và hiện là giám đốc chính trị tại Bộ Ngoại giao Đức. Sau các nhận định về sự phức tạp, lắt léo và luôn vụ lợi trong đường lối ngoại giao của Trung Quốc, ông Stanzel cho biết:
Khi kinh tế phát triển và phụ thuộc vào kinh tế toàn cầu thì Trung Quốc cũng nhận ra sự phụ thuộc vào chính trị thế giới; điều này trước đây họ chưa hề tính đến. Rất ít người trong giới lãnh đạo Trung Quốc hiểu rằng làm một siêu cường quốc tế cũng có nghĩa là phải mang vác những trách nhiệm quốc tế. Hiện nay, cơ cấu ra quyết định tại Bắc Kinh chưa có khả năng đảm nhiệm chức năng mới mẻ này do các lý do:
- Hầu như mọi quyết định đều phải thông qua Ban Thường vụ Bộ Chính trị (gồm 9 người), vì vậy, ban lãnh đạo Trung Quốc không thể kịp thời đưa ra những quyết định hợp lý.
- Vấn đề nhân sự: Trung Quốc không có đủ chuyên gia để giải quyết những vấn đề to lớn trong ngoại giao hiện đại của một siêu cường.
Như vậy, có một hố ngăn cách rất rộng giữa đòi hỏi của Trung Quốc và khả năng giải quyết của Trung Quốc! Kể từ khi là một hệ thống chính trị thống nhất từ 2200 năm nay, Trung Quốc chưa bao giờ là một thành viên của một cộng đồng quốc tế đa cực và bình đẳng với quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau; đó gần như là một cú sốc đối với người Trung Quốc.
Để giải quyết mâu thuẫn trên, Trung Quốc đã đưa ra các biện pháp:
- Tăng cường công việc nghiên cứu.
- Sử dụng quyền lực một cách mềm dẻo theo kiểu Trung Quốc theo cách: gây ảnh hưởng quốc tế không bằng quân sự mà bằng văn hoá và kinh tế. Thực chất, đây là chủ thuyết đương thời của phương Tây và được Trung Quốc cải biến thành sản phẩm Trung Quốc với cái tên mới là "Thế giới hài hoà" mà Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào công bố vào tháng 12 năm 2005 tại Liên Hiệp Quốc.
Nhìn kỹ vào chủ thuyết mà Trung Quốc đang rao giảng, người ta nhận thấy một trật tự thế giới theo ý nguyện của Trung Quốc với nguyên tắc hợp tác với nhau nhưng không tạo lập liên minh, không can thiệp vào nội bộ nước khác và Trung Quốc không chịu bớt đi bất kỳ một chút "chủ quyền" nào. Trung Quốc cố tình quên đi thực tế phổ cập "không can thiệp cũng chính là can thiệp" và tự chứng tỏ là một đối tác không thể lường trước được cả về mục đích lẫn phương thức đối ngoại.
Tính chất khôn lường trong quan hệ quốc tế của Bắc Kinh sẽ còn nặng nề hơn khi trong thời gian tới, ở Trung Quốc sẽ xuất hiện một tầng lớp đặc tuyển mới trong công tác ngoại giao nhưng lại được hoạt động trong một hệ thống chính trị không phải chịu trách nhiệm, không phải báo cáo và do đó không phải chịu sự kiểm soát. Bản chất không minh bạch của Trung Quốc không phải chỉ có ở chính sách an ninh, chính sách nhân quyền, mà có cả ở chính sách ngoại giao. Trong hợp tác quốc tế, sự tin tưởng phải được dựa trên tính minh bạch. Không có minh bạch, không có lòng tin, thì không thể có liên hệ hợp tác chiến lược. Trung Quốc phải được coi là một đối tác không chắc chắn!
Trước một đối tác như thế, kết luận sau đây của ông Kuhn có thể được coi là một chỉ dẫn quan trọng cho phương Tây và cho cả Việt Nam: Hãy coi chính sách đối với Trung Quốc như một ván bài, người ta không thể biết trước lá bài tiếp theo của đối phương, nhưng vấn đề quyết định là khi ván bài kết thúc, ai là người có số điểm cao nhất!
Berlin, 10.2007
© 2007 talawas