trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
27.6.2006
Nguyễn Thanh Giang
Trung Quốc khổng lồ mong manh
 

Nhà thơ Trung Quốc Đỗ Phủ trong một lần chạy loạn, nhờ người bạn giúp đỡ, dựng được một túp lều tranh, nhưng rồi bị gió phá sập. Trong bài “Mao ốc vi thu phong sở phá ca”, ông không chỉ đau đớn cho thân phận riêng mà còn chạnh lòng nghĩ đến cả những hàn sĩ trong thiên hạ:

“Ước gì có được ngôi nhà ngàn vạn gian

Cho kẻ sĩ trong thiên hạ ai nấy đều hân hoan”

Một lần chạy loạn khác, ông ở thuê một căn nhà nhỏ, trong vườn có cây táo, ngày ngày bà lão hàng xóm thường chui qua rào nhặt táo cầm hơi. Khi rời căn nhà, trong bài thơ “Hựu trình Ngô lang”, ông nhắn người chủ mới chớ rào kín lại, để bà già còn có thể sống qua ngày.

Người Trung Quốc đã trông xa, lại hay nghĩ gần. Việt Nam, là láng giềng của Trung Quốc, không thể không trông mong cùng Trung Quốc, suy gẫm về Trung Quốc.

I. Nước Trung Hoa vĩ đại

Với 9,6 triệu kilomet vuông, diện tích Trung Quốc bằng cả châu Âu gồm 34 nước cộng lại. Từ tây sang đông, chiều ngang lãnh thổ xấp xỉ 5.200 km. Chiều dài bờ biển là 18.000 km, chiều dài biên giới trên lục địa là 17.000 km, giáp giới các nước: Bắc Triều Tiên, Mông Cổ, Nga, Kazakstan, Kyrgyzstan, Tadzikistan, Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Sikkim, Bhutan, Nepal, Myanmar, Lào, Việt Nam.

Trung Quốc có số dân đông nhất thế giới và tỷ lệ tăng dân số cũng vào loại cao nhất thế giới. Năm 1949 toàn quốc có hơn 541 triệu, năm 1969 lên đến 806 triệu, năm 1979 gần một tỷ… và nay đã khoảng một tỷ rưỡi.

Từ tây sang đông có nhiều dãy núi cao trên dưới 4.000m: Altai, Thiên Sơn, Côn Luân, Karakoram, Hy Mã Lạp Sơn, Tần Lĩnh… Núi Qomolangma thuộc Hy Mã Lạp Sơn nằm ở biên giới Trung Quốc và Nepal cao nhất thế giới với 8.848 met.

Nhiều sông dài tựa “từ trên trời xuống” như: Trường Giang dài 6.300 km, chảy qua Thanh Hải, Tây Tạng, Vân Nam, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, An Huy, Giang Tô, Thượng Hải. Hoàng Hà dài 5.464 km, chảy qua Thanh Hải, Tứ Xuyên, Cam Túc, Ninh Hạ, Nội Mông, Sơn Tây, Thiểm Tây, Hà Nam, Sơn Tây. Hắc Long Giang (Amur) dài 3.420 km, Chu Giang dài 2.197 km…

Ngoài hệ thống ngoại thuỷ thông ra Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương, hệ thống sông nội thuỷ của Trung Quốc hoặc mất hút trong hoang mạc, hoặc đổ vào các hồ nội địa. Hai hồ lớn nhất là: Động Đình rộng 2.820 km2 ở Hồ Nam và Thái Hồ rộng 2.425 km2 ở Giang Tô.

Trong lịch sử nền văn minh hơn 4.000 năm, Trung Quốc đã có những điểm son sáng chói với phát minh về giấy do Thái Luân, đầu thế kỷ thời Đông Hán; phát minh kỹ thuật in chữ do Tất Thắng (1012–1068); ngoài ra còn có các phát minh ra địa bàn, thuốc súng…

Trước công nguyên, Trung Quốc từng rạng danh với nhiều nhà tư tưởng lớn: Khổng Tử (551–479), Mặc Tử (468–376), Mạnh Tử (372–289), Trang Tử (369–286), Tuân Tử (298–238), Hàn Phi (280–233)…

Tuy nhiên, lịch sử Trung Quốc cũng được hình dung qua vô vàn cuộc chiến đẫm máu trong Xuân Thu chiến quốc, Tam Quốc diễn nghĩa, Đông Chu liệt quốc… Từ cuối đời Mãn Thanh (1644–1911) cho đến đầu thời kỳ Dân Quốc (1911-1949), xã hội Trung Quốc càng rơi vào rối loạn thảm thương. Do nóng lòng sử dụng biện pháp cực mạnh để ổn định và chấn hưng Trung Quốc, người ta đã du nhập chủ nghĩa Marx-Lenin và tiến hành cách mạng vô sản với chủ trương “chính quyền từ họng súng”, Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949.

Trong dân gian vẫn còn truyền tụng tên nhiều vị vua nhân đức: thời cổ có vua Nghiêu, vua Thuấn; triều nhà Chu có vua Vũ; triều nhà Hán có hoàng đế Văn và hoàng đế Cảnh; triều nhà Đường có Đường Thái Tông; triều Thanh có hoàng đế Khang Hy và hoàng đế Càn Long, tuy nhiên, lịch sử Trung Quốc cũng từng nổi danh nhiều bạo chúa. Tần Thuỷ Hoàng đã bắt hơn 2 triệu người làm nô lệ (thời ấy, dân số Trung Quốc mới chừng 10 triệu). Rồi đốt sách, rồi tàn diệt nho sĩ. Vậy mà, thực hiện chuyên chính vô sản, Mao Trạch Đông còn ghê gớm hơn khi tuyên bố: “Tần Thuỷ Hoàng đáng kể gì. Ông ta chỉ giết có 460 nho sĩ, còn chúng ta thì thủ tiêu đến 46.000 tên trí thức. Có người cho chúng ta là kẻ độc tài thống trị, giống như Tần Thuỷ Hoàng. Chúng ta thừa nhận tất cả. Nó phù hợp với thực tế. Tiếc thay họ nói vẫn chưa đủ, chúng ta cần phải gia tăng để bổ sung”.

Rồi thảm hoạ mười năm Đại Cách mạng Văn hoá (bắt đầu ngày 16 tháng 5 năm 1966 và kéo dài đến 1976) với khoảng 7,73 triệu người bị diệt dưới nhiều hình thức. Rồi chết vì đói kém đi liền với chết vì lý do chính trị. Nạn đói khủng khiếp xẩy ra ngay sau chiến dịch Đại Nhẩy Vọt làm cho số người chết vì lý do không chính đáng cộng với số lượng trẻ em sơ sinh bị giảm đi từ năm 1959 đến năm 1961 được ước tính là khoảng 40 triệu.

Nền kinh tế Trung Quốc ngày càng sa sút. Ở thời Càn Long (1711–1799) GDP của Trung Quốc bằng khoảng 51% tổng số trên thế giới. Khi Tôn Trung Sơn thành lập nước Cộng hoà Trung Hoa vào năm 1911, GDP của Trung Quốc vẫn còn khoảng 27% của tổng số thế giới. Năm 1949, khi Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm quyền, tỷ lệ đó đã xuống đến 5, 7%.

Năm 1978, nhờ Đặng Tiểu Bình phát lệnh mở cửa để tiếp xúc và học hỏi phương Tây làm kinh tế thị trường với phương châm: “Mèo trắng, mèo đen miễn bắt được chuột”, nền kinh tế Trung Quốc bỗng bật dậy với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm 9,4 %, một tỷ lệ tăng trưởng cao nhất thế giới. Năm 2003 tổng thu nhập quốc gia (GNP) của Trung Quốc đứng hàng thứ sáu thế giới với 1325 tỷ đôla. Năm 2004 con số này đã lên tới 1650 tỷ đôla. Năm 1978, tổng số ngoại thương của Trung Quốc chỉ ở mức 20 tỷ USD, năm 2004 đã đạt 1100 tỷ đôla (đứng thứ ba thế giới). Đầu tư nước ngoài đổ vào Trung Quốc không ngừng tăng: năm 2002 – 52,7 tỷ USD, năm 2003 – 53,5 tỷ USD, năm 2004 – 60,6 tỷ, năm 2005 – trên 60 tỷ. Nhờ đời sống khấm khá hơn, người Trung Quốc vốn tằn tiện đã tiết kiệm gửi ngân hàng nhiều hơn. Năm 2005, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc công bố số tiền trong các tài khoản cá nhân lên tới 1,7 ngàn tỷ USD. Số tiền này tương đương với GDP của nước Pháp và gấp hơn 30 lần GDP của Việt Nam.

Sau hai thập niên cải cách kinh tế và tư nhân hoá, chỉ còn một phần ba nền kinh tế của Trung Quốc bị chính phủ kiểm soát trực tiếp qua các công ty quốc doanh (chủ yếu trong các lĩnh vực quốc phòng và dịch vụ công cộng). Được phép triển khai sản xuất bên ngoài các cơ sở của nhà nước, người Trung Hoa đã mở ra 125 triệu cơ sở làm ăn. Từ con số không ở năm 1978, số công ty tư nhân đã tăng lên đến 2.028.500 vào năm 2001, với tổng số vốn đăng ký là 1.800 tỷ nguyên. Thế giới gờn gợn nhận ra: Trung Quốc có thể cướp mất bất cứ công việc, hãng xưởng nào của gần như bất cứ xứ sở nào trong bất cứ ngành kỹ nghệ nào. Ngành công nghệ da giày của Indonesia vốn phát đạt hàng đầu nay bỗng hoàn toàn mất tiêu vào tay Trung Quốc. Cả thế giới đều lo sợ Trung Quốc độc chiếm thị trường may mặc. Hàng may mặc Trung Quốc đang tiến tới chiếm lĩnh 50% – 60% thị trường Hoa Kỳ và Canada. Tháng 5 năm ngoái, công ty Lenovo – một công ty khổng lồ chế tạo máy điện toán của Trung Quốc – đã thoả thuận xong việc thương lượng để sở hữu phân xưởng sản xuất máy điện toán cá nhân của IBM, và như thế, biến Lenovo thành công ty chế tạo máy điện toán cá nhân lớn thứ ba trên thế giối. Sang tháng 6, một trong những công ty dầu lửa lớn của Trung Quốc CNOCC (Công ty Khai thác Dầu lửa Viễn duyên Trung Quốc) đã mặc cả giá cao với 18,5 tỷ USD để suýt nữa thì mua được Unocal, một công ty dầu lửa khổng lồ của Hoa Kỳ (việc này gây rúng động chính quyền Hoa Kỳ, do vậy Quốc hội Mỹ phải vội vã chặn đứng bằng quyền lập pháp để chấm dứt cuộc thương lượng).

Nhờ kinh tế phát triển, Trung Quốc đã xúc tiến nhiều chương trình xây dựng kết cấu hạ tầng thật vĩ đại. Chỉ trong 2 năm 2003–2004 độ dài xa lộ tráng nhựa được xây cất mới lên đến 192.000 km. Con số này lớn hơn số tổng độ dài đường nhựa đã xây cất suốt những năm 1949–2002, (170.000 km). Chỉ riêng trong năm 2004, Thượng Hải đã xây một số nhà chọc trời bằng cả New York gộp lại. Đi dọc bờ biển, khách du lịch đôi khi choáng ngợp trước những xa lộ thênh thang, những nhà chọc trời chất ngất không kém gì các nước Âu Mỹ. Tháng 3 năm 2003 chính quyền Bắc Kinh cho xây cất một bệnh viện có đủ trang bị chữa bệnh hô hấp cấp tính (SARS) chỉ trong… 2 ngày.

Chẳng những thế, nếu như trước đây do sức ép của các rợ miền tây, khuynh hướng trường cửu của Trung Quốc là đông tiến: Đông Chu, rồi Đông Hán thì ngày nay, sức hấp dẫn mạnh mẽ của đất đai và nguyên liệu từ miền tây đang kéo ngược đường Trung Quốc quay sang tây tiến. Mở mang Tứ Xuyên và vùng Tây Vực ngày xưa, nhà nước Trung Quốc biểu lộ một cố gắng tăng cường sự phát triển ở phía tây, làm cân bằng với miền biển vốn đã được mở mang hơn.

Ở một hội nghị kinh doanh ở Trung Quốc tổ chức cuối năm ngoái, chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã phải lên tiếng trấn an: “Với sự toàn cầu hoá về kinh tế, Trung Quốc và châu Á đang nhanh chóng trở thành cỗ máy tăng trưởng mới cho thế giới. Sự hợp tác kinh tế có lợi cho đôi bên và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ báo hiệu một tương lai tốt đẹp hơn cho nền kinh tế toàn cầu”.

Hội nghị Trung ương 5 khoá XVI, ĐCS Trung Quốc đưa ra chủ trương xây dựng “xã hội hài hoà”, trong đó có ba hoà: hoà bình quốc tế, hài hoà trong nước, hoà giải hai bờ. Tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc nhân kỷ niệm 60 năm thành lập này tại New York, ngày 15 tháng 9 năm 2005, chủ tịch Hồ Cẩm Đào đưa ra giải thích mới nhất đối với chủ trương xây dựng thế giới hài hoà của Trung Quốc. Bài phát biểu nêu 3 nội dung của chủ trương này là: thứ nhất, kiên trì tinh thần bao dung, cùng nhau xây dựng thế giới hài hoà; thứ hai, đề cao chủ nghĩa đa cực, thực hiện an ninh chung; thứ ba, xây dựng một “thế kỷ mà mọi người đều được hưởng phát triển”.

II. Thách thức và hiểm hoạ

Tuyên bố chủ trương xây dựng xã hội ba hài hoà của Đảng Cộng sản Trung Quốc liệu có khả năng trở thành hiện thực?

Muốn xét khả năng tồn tại và tiền đồ phát triển của một cá thể nói riêng hay một đất nước nói chung cần khảo sát 3 yếu tố: thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Đối với Trung Quốc, cả 3 yếu tố này đều tuồng như có bề không thuận. Dường như ở đây đang bị thiên nhiên oán giận, lòng người oán thán, thiên hạ hồ nghi.

1. Thiên nhiên oán giận

Trung Quốc có một địa thế không cân xứng. Bốn tỉnh phía tây: Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông và Thanh Hải chiếm gần nửa diện tích lãnh thổ (47%) nhưng có số người định cư sinh sống không đến 4% dân số quốc gia. Ở đây chủ yếu sinh tốn các dân tộc thiểu số như người Hồi Uighurs, người Tây Tạng và người Mông Cổ. Trong khi đó, tám thành phố: Hà Nam, Sơn Đông, Tứ Xuyên, Quảng Đông, Giang Tô, Hà Bắc, Hồ Nam, An Huy, có dân cư chiếm gần nửa dân số nhưng chỉ có 16% diện tích lãnh thổ.

Núi non ở Trung Quốc chiếm khoảng 69% tổng diện tích, trong đó 58% núi cao trên 1.000m và 25% núi cao trên 3.000m.

Trung Quốc có nhiều sông ngòi, lưu lượng nước sông Trung Quốc tới 2.700 tỷ mét khối nhưng phân bố rất không đều giữa Bắc và Nam. 80% lưu lượng nước sông Trường Giang dồn về lưu vực phía nam, nơi có 40% diện tích đất trồng trọt. Ở phía bắc, cũng diện tích đất trồng trọt như vậy nhưng chỉ được 6,5% lưu lượng nước do sông Hoàng Hà cùng 2 sông nhỏ Hoài Hà và Hải Hà cung cấp. Kết quả là miền nam thường bị lũ lụt lớn, trong khi miền bắc, phía trên sông Trường Giang bị hạn hán triền miên. Ngoài Vạn Lý Trường Thành, Trung Quốc còn một công trình dẫn thuỷ nhập điền vô tiền khoáng hậu dẫn nước chảy ngược từ nam lên bắc lãnh thổ. Đó là kênh Đại Vân Hà từ Hàng Châu lên Bắc Kinh dài 1.782km được đào từ đời nhà Tuỳ đến nhà Nguyên. Ngày nay Trung Quốc lại đang cho đào thêm một con kênh khác dài 1.300km từ đập nước Đơn Giang Khẩu (Danjiangkou) ở Hồ Bắc, xuyên qua 2 tinh Hồ Nam và Hà Bắc, dẫn về Bắc Kinh. Công trình này tốn khoảng 15 tỷ USD và có thể dẫn khoảng 13,4 tỷ mét khối nước. Khởi công từ 2002, công trình này sẽ đưa nước về Sơn Đông vào năm 2007 và đến Bắc Kinh vào năm 2010. Đập nước khổng lồ nhất thế giới, đập Tam Hiệp, sau 13 năm thi công, chi phí khoảng 100 tỷ USD cũng vừa hoàn thành. Con đập sừng sững có thể cho phép dâng nước lên cao 175 mét tạo thành một hồ chứa với diện tích mặt hồ rộng 54.000km2. Đập Sanxia này không chỉ có tác dụng dẫn nước từ nam lên bắc mà còn cung cấp 10% điện lực cho toàn Trung Quốc.

Tuy vậy, nhiều nhà khoa học cho rằng hậu quả về môi sinh do đập Tam Hiệp gây ra sẽ rất kinh khủng. Trước mắt là đảo lộn dân sinh. Hơn một triệu dân phải rời bỏ quê hương bản quán. Hàng trăm thành phố chìm mất tăm dưới đáy nước, trong đó có Thạch Bảo Trại (Shibaozhai), một khối đá cao 30 mét, trên đó có một chùa gỗ cao 11m xây từ đời vua Càn Long; có miếu Hoàng Lăng (Huangling), theo truyền thuyết do Khổng Minh Gia Cát Lượng xây để tưởng niệm Vũ Vương có công chế ngự sông Trường Giang; có miếu Trương Phi, Bạch Đế Thành và Xích Bích là nơi cuộc thuỷ chiến xẩy ra năm 208 giữa liên minh Thục-Ngô với quân Tào…

Tưởng cũng nên nhớ lại, vào những năm của thập kỷ 50 thế kỷ trước, dưới sự trợ giúp của các chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc dã xây dựng nhà máy thuỷ điện Tam Môn Hạp trên sông Hoàng Hà. Đến nay, nhà máy này chỉ phát một lượng điện có công suất không hơn một nhà máy thuỷ điện trên một con sông trung bình, trong khi Hoàng Hà là con sông lớn thứ hai của Trung Quốc. Tệ hại hơn là, dự án này đã gây ra sự tích tụ bùn cát ở thượng nguồn và nâng đáy sông lên cao. Từ đây, chỉ cơn lũ nhẹ cũng có thể gây lụt lội lớn. Trận lụt năm 2003 với lưu lượng lên tới 3.700m3/giây là trận lụt lớn nhất trong lịch sử 50 năm qua ở Trung Quốc.

Về nước uống, các chuyên gia trong ngày thế giới về nước họp ở Bắc Kinh ngày 25 tháng 3 năm 2005 cho biết vấn đề này ở Trung Quốc còn trầm trọng hơn cả vấn đề ngập lụt. Vì công nghệ lạc hậu nên để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và phục vụ sản xuất, Trung Quốc đang tiêu thụ 15% lượng nước ngọt thế giới, nhưng vì các nguồn nước đang cạn kiệt dần nên 190 triệu người Trung Quốc, chủ yếu ở nông thôn, đang sử dụng nguồn nước uống bị ô nhiễm, 300 triệu người khác hoàn toàn không có khả năng đến với nguồn nước sạch. 43 tỷ 950 triệu tấn chất lỏng phế thải đổ ra không kiểm soát được đã làm 40,9% lượng nước trong bẩy hệ thống sông chính và 75% số hồ nước bị ô nhiễm. Cuộc tranh chấp nguồn nước giữa các khu vực có trình độ phát triển khác nhau đang có nguy cơ dẫn tới xung đột khó giải quyết.

Vấn đề không khí sạch cũng sẽ là một vấn nạn kinh khủng. Trong 20 thành phố trên thế giối có hiện tượng mưa axit thì Trung Quốc chiếm tới 15.

Việc chặt cây, san lấp sông hồ bừa bãi cũng gây suy thoái sinh thái trầm trọng ở Trung Quốc. Ngày nay, hệ sinh thái Trung Quốc đang bên bờ sụp đổ. Do biến mất những đồng cỏ tại Cam Túc, Thanh Hải, Tân Cương và Nội Mông, những trận bão cát đã có đường tấn công vào các khu vực đồng bằng trung tâm.

Việc sử dụng tràn lan phân bón hoá học làm cho đất canh tác ngày càng giảm độ phì nhiêu, trong khi độ nhiễm mặn và thoái hoá đất đai nói chung đang làm giảm chất lượng của đất tai nhiều khu vực rộng lớn trong lãnh thổ. Ngày nay, hoang mạc đã phủ 38% tổng thể đất đai Trung Quốc. Hiện tượng sa mạc hoá đang là một hiểm hoạ kinh khủng. Từ 1980 đến cuối thập kỷ 90, diện tích bị sa mạc hoá đã tăng từ 1.000 đến 2.460 kilomet vưông. Sa mạc hoá đang uy hiếp tận Bắc Kinh trong khi đất canh tác vốn đã quá ít so với dân số quá đông. Đã vậy, chỉ trong vòng vài năm, 100 triệu mẫu đất trồng trọt đã bị xoá sổ để chuyển vào các khu công nghiệp, khu đô thị và làm đường. Diện tích canh tác bình quân chỉ còn 1,2 mẫu (mẫu Trung Quốc bằng 1/15 ha) cho mỗi đầu người. Một phần ba số tỉnh chỉ có mức bình quân đất trồng trên đầu người chưa đầy một mẫu. Tại 666 huyện, con số này còn thấp hơn mức báo động của Liên Hợp Quốc (0,8 mẫu). Con số thấp hơn mức báo động nguy hiểm (0,5 mẫu) còn là thực trang tồi tệ ở 463 huyện khác.

Với diện tích đất canh tác như trên, Trung Quốc chỉ cần 100 triệu người là đủ, thay vì 600 triệu hiện có. Thời gian qua, 100 triệu nông dân đã tràn vào thành phố kiếm công ăn việc làm, để lại 400 triệu người vẫn chịu cảnh vất vưởng tại quê nhà. Trong khi đó, đầu tư của nhà nước cho nông nghiệp không những không tăng mà còn giảm đi. Số liệu về đầu tư cho nông nghiệp những năm gần đây như sau: năm 2001 – 58,2 tỷ nhân dân tệ, năm 2002 – 56,6 tỷ, năm 2003 – 54,7 tỷ, chỉ chiếm khoảng 5% GDP.

Chưa bao giờ, sự xung đột giữa thiên nhiên với con người ở Trung Quốc lại căng thẳng như ngày nay.

Viện sĩ Viện Công trình Trung Quốc Chu Cán Trĩ chỉ ra ba vấn đề chủ yếu tồn tại trong phát triển thành thị hoá ở Trung Quốc là: 1 – lãng phí tài nguyên đất đai, 2 – lãng phí tài nguyên môi trường, 3 – lãng phí tài nguyên năng lượng, 4 – lãng phí tài nguyên nước.

Hiệu quả đầu tư của Trung Quốc rất thấp, tại thành thị chỉ bằng một phần tư các nước công nghiệp khác. Đó là chưa kể đối với các loại công trình làm để “Chào mừng Đại hội Đảng”, chào mừng các ngày lễ kỷ niệm…

Mức tiêu thụ năng lượng và nguyên vật liệu cho cùng một đơn vị sản phẩm của Trung Quốc cao gấp 9 lần so với Nhật Bản, 5 lần so với châu Âu, 2,5 lần so với Mỹ. Trung Quốc đóng góp được khoảng 5% tổng sản lượng GDP cho thế giới nhưng để đạt kết quả ấy, họ tiêu thụ 12% năng lượng của thế giới, 25 đến 27% lượng thép và nhôm và hơn 40% lượng xi-măng của thế giới.

Tiềm năng nguyên và nhiên liệu Trung Quốc nói chung không lớn, trong khi 2/3 trong số 8.000 hầm mỏ lớn đã bị khai thác sắp cạn kiệt. Quặng mỏ bị tiêu phí ở mức cao chưa từng thấy (trung bình cao gấp 4 lần tính bình quân đầu người so với các nước tiên tiến) Nguồn điện lực Trung Quốc phụ thuộc chủ yếu vào than (67%), dầu (23%), thuỷ điện và khí đốt (10%).

Những cải cách kinh tế theo hướng thị trường của Trung Quốc đã dẫn đến sự gia tăng theo cấp số nhân về nhu cầu đối với năng lượng trong khi giếng dầu Đại Khánh cạn dần mà trữ lượng dầu ở Tân Cương, ở các biển Hoa Đông và Hoa Nam đều không đáng kể.

Trung Quốc bắt đầu phải nhập khẩu dầu thô từ 1993 và hiện đã trở thành quốc gia nhập khẩu dầu thô lớn thứ ba thế giới, sau Hoa Kỳ và Nhật Bản. Từ 1993 đến 2002, nhu cầu về dầu lửa của Trung Quốc đã tăng gần 90% trong khi sản xuất trong nước tăng chưa đến 15%. Đến năm 2004, với nền kinh tế vẫn giữ mức tăng trưởng 9,5%/năm và là thị trường ôtô lớn thứ ba thế giới cộng với 5 triệu phương tiện đi lại khác, nhu cầu dầu lửa Trung Quốc đã tăng lên 6 triệu thùng/ngày. Nhu cầu nhiên liệu của Trung Quốc tiếp tục tăng dữ dội còn vì hiệu quả sử dụng năng lượng ở nước này hết sức kém. Dự tính, đến năm 2030, số dầu thô nhập khẩu sẽ tăng đến 10 triệu thùng/ngày. 80% lượng đó sẽ phải nhập khẩu.

Than vẫn còn là nguồn nhiên liệu quan trọng để sản xuất điện nhưng kỹ thuật khai thác và công nghệ sử dụng than còn rất lạc hậu. Trong 9 tháng đầu năm 2004, các tai nạn hầm mỏ ở Trung Quốc đã làm hơn 4.000 công nhân thiệt mạng (con số này gấp 3 lần số lính Mỹ chết trận tại Iraq). Các nhà bảo hiểm xã hội Trung Quốc cho biết bình quân Trung Quốc đang phải đổi 4,17 mạng người để sản xuất được một triệu tấn than. Con số thảm thương này cao gấp 10 lần Ấn Độ, 30 lần ở Cộng hoà Nam Phi và 100 lần so với Hoa Kỳ.

Với những sách lược phát triển như đang thực thi, phải gần nửa thế kỷ nữa (2050) Trung Quốc mới có thể tự coi mình là một quốc gia phát triển ở tầm cỡ trung bình. Trên lộ trình này, Trung Quốc còn phải đương đầu và phải giải quyết suôn sẻ được 3 khó khăn sống còn: khan hiếm nguyên liệu, ô nhiễm môi trường và sự khập khiễng giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội. Để giải quyết những khó khăn này, Trung Quốc đang tiến hành 3 sách lược, còn gọi là 3 vượt thoát. Trong đó, sách lược thứ nhất là vượt thoát khỏi mẫu hình công nghiệp hoá cổ điển để đi theo mẫu hình mới. Mẫu hình công nghiệp hoá cổ điển dựa trên sự tranh chấp để chiếm đoạt nguyên, nhiên liệu bằng những cuộc chiến tranh đẫm máu sẽ gây tai hoạ không những cho các quốc gia láng giềng mà cả cho chính Trung Quốc.

© 2006 talawas

 
© talawas 2026