trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
27.6.2006
Nguyễn Thanh Giang
Trung Quốc khổng lồ mong manh
 

2. Lòng người oán thán

Quá trình phát triển thành thị hoá hiện nay ở Trung Quốc không những thể hiện nhiều non yếu đang gây nên “bốn lãng phí”: lãng phí tài nguyên đất đai, lãng phí tài nguyên môi trường, lãng phí tài nguyên năng lượng, lãng phí tài nguyên nước mà còn đang tạo nên “ba cái mất cân bằng”: một là, khoảng cách chênh lệch giầu nghèo quá lớn; hai là, khoảng cách chênh lệch về kinh tế giữa thành thị và nông thôn quá lớn; ba là, khoảng cách chênh lệch giữa khu vực nội địa và khu vực duyên hải quá lớn.

Trong con mắt các nhà quan sát quốc tế, hiện nay có hai Trung Quốc đối nghịch nhau:

– Một Trung Quốc có quy mô kinh tế đứng thứ ba thế giới với dự trữ ngoại tệ lên tới 500 tỷ USD. Trung Quốc này tuồng như đang rầm rập đi tới cho phép tập đoàn máy tính Liên Tưởng (Lenovo) gây chấn động thế giới qua vụ mua lại công nghệ máy tính cá nhân của hãng IBM của Mỹ; cho phép đồng tiền Trung Quốc có giá trị đến mức nhiều người nước ngoài đang mua vào để dự trữ; cho phép hấp dẫn hầu hết các công ty lớn xuyên quốc gia trên thế giới đến đặt trụ sở hoặc chi nhánh ở đây.

Nhờ dám tự do hoá nền kinh tế, Trung Quốc đi từ kỹ nghệ xuất siêu sản phẩm có chất lượng kém để chuyển sang sản xuất các mặt hàng tinh vi có chất lượng cao. Trong khu vực kinh tế tư nhân, Trung Quốc đã thu hút được 500 tỷ USD tiền “ngoại quốc đầu tư trực tiếp” (FDI). (Tỷ lệ FDI ở Nhật Bản hiện nay là 1,1% của GDP, trong khi tỷ lệ này của Trung Quốc lên tới 40%). Trung Quốc ngày nay đã trở thành bộ máy xuất cảng khổng lồ. Từ năm 1990 đến năm 2003, tổng số xuất cảng của Trung Quốc tăng gấp 8 lần, với giá trị trên 380 tỷ USD. Hiện nay xuất siêu sản phẩm điện tử lên đến 30% tổng số xuất cảng của toàn vùng châu Á.

Người Trung Quốc giầu nhất hiện nay là Wong Kwong Yu, chủ mạng lưới phân phối đồ dùng điện và là nhà đầu tư lớn nhất của thị trường bất động sản. Tài sản của ông trị giá tới 1,7 tỷ USD.

– Một Trung Quốc có chỉ số chênh lệch giầu nghèo đã ở mức báo động (chỉ số GINI lên tới 0,5). Trong nước Trung Quốc này ở nông thôn, nông dân bị mất ruộng đất, ở thành thị, công nhân bị sa thải sống lay lắt trong đói nghèo. Tại đây, nạn tham nhũng tệ hại đến mức không có khả năng ngăn chặn nổi. Tại đây, số công nhân chết vì tai nạn hầm mỏ thảm thương nhất thế giới.

Đằng sau những ngôi nhà chọc trời và những xa lộ cao tốc nườm nượp xe cộ lởn vởn biết bao nhiêu hồn ma bóng quỷ trừng mắt, nhe nanh uy hiếp sự ổn định và hài hoà của xã hội.

Trong buổi họp báo ngày 19 tháng 12 năm 2003 tại Washington, thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo nói rằng số người thất nghiệp ở thành thị có tới 24 triệu và 100 triệu nhân công từ nông thôn kéo lên các thành phố tìm kiếm việc làm. Một số cơ sở quốc doanh đã sa thải 45 triệu nhân công. Số người thất nghiệp ở các vùng ngoài các đô thị tới 200 triệu.

Số liệu thống kê của các cơ quan chức năng cho biết tài sản của 85% dân số Trung Quốc chiếm chưa đến 15% tài sản đất nước. Ngược lại giới elite kinh tế và các thủ trưởng của nhà nước đảng trị kiểm soát 85% tài sản đất nước. Theo số liệu thống kê của Liên Hiệp Quốc thì: trong khi những người giầu nhất chiếm 20% tổng dân số chiếm tới trên một nửa số lợi tức thì số người nghèo nhất cũng chiếm 20% trong tổng số 1,3 tỷ dân lại chỉ được hưởng 4,7% tổng số lợi tức. Cho nên, số người nghèo đói tới 29 triệu. Số người nghèo khổ khoảng 56 triệu. 86 triệu người có thu nhập hàng năm dưới 850 nhân dân tệ (100 USD).

Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc không hoàn toàn là nền kinh tế thị trường theo phương thức Âu–Mỹ mà là một nền kinh tế kích thích làm giầu trong đó quyền lực đóng vai trò phân phối tài nguyên và phần thưởng. Quyền lực bị Đảng khống chế tuyệt đối và đứng trên hẳn pháp luật để tuỳ tiện ban phát. Do đó, các ông chủ mới chỉ cần mua chuộc cán bộ bằng hối lộ là họ có thể thao túng vơ vét tài sản nhà nước mà không bị pháp luật khống chế. Họ là những chủ doanh nghiệp kếch xù nhưng hoàn toàn vô trách nhiệm. Vụ án buôn lậu hơn 6 tỷ USD ở Hạ Môn – Phúc Kiến của Lại Xương Tinh, ông chủ của tập đoàn Viễn Hoa cho thấy rất rõ. Họ Lại tung tiền mua chuộc và làm đê mê hầu hết các cán bộ cao cấp tỉnh, từ cục trưởng hải quan, tỉnh trưởng, thẩm phán, cục trưởng công an… bằng những đêm hoan lạc cuối tuần với mỹ nữ ở lâu đài “Hồng Lâu Mộng” do họ Lại xây cất.

Trong Đại hội vừa qua có 14 ông chủ như vậy được đưa vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đó là các ông: Trương Thuỵ Mẫn (Zang Rui Min), chủ nhân tập đoàn Hải Nhĩ (Hai Er) – một tập đoàn lớn thứ 6 trên thế giới về điện gia dụng với số thương vụ 8,8 tỷ USD. Ngoài ra là các ông chủ bự thuộc các lĩnh vực ngân hàng và dầu khí như: Lưu Minh Khương, Thương Phúc Lâm, Lý Nghị Trung, Mã Phú Lâm, Trúc Diên Phong…

Không chỉ có hố ngăn cách giầu nghèo, xã hội Trung Quốc ngày nay còn nứt toác ra thành hai mảng: thành thị và nông thôn.

Trong khoảng 18 năm, thu nhập của người ở thành thị tăng gần 2 lần nhanh hơn thu nhập của người ở nông thôn. Sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị do đó càng mở rộng. Năm 1986 chênh lệch thu nhập của người dân thành thị đối với người dân ở nông thôn là 1,9 lần. Con số đó tăng lên 2,3 vào năm 1992; 2,5 vào năm 1998 và 3,2 vào năm 2004. Đây là mức chênh lệch cao nhất thế giới giữa thành thị và nông thôn. Thu nhập một năm của nông dân nhiều khi không đủ chi phí cho một lần vào bệnh viện chữa bệnh. Thứ trưởng Bộ Y tế Chu Khánh Sinh xác nhận: 50% nông dân vì thu nhập thấp mà không dám đi chữa bệnh ở bệnh viện.

Báo Nhân Dân Bắc Kinh cho biết trong năm 2003 thành thị Trung Quốc có khoảng 236.000 triệu phú đôla không kể tài sản về địa ốc. Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc ước tính có khoảng 200 triệu người tại các thành phố lớn có nhà cửa khang trang, có tiền đi du lịch, cho con cái học hành chu tất. Hầu hết đây là những người làm trong các ngành dịch vụ, trong các công ty tư nhân hoặc các đặc khu kinh tế. Họ bơi trong làn sóng của tăng trưởng kinh tế, của lối sống thích tiêu xài và chăm lo cho tương lai con cái.

Tuy nhiên, trong các thành phố lớn Trung Quốc, nói chung người ta thấy có phẩm trật 4 giai cấp. Chóp đỉnh là một ít thuộc tầng lớp trưởng giả thượng hạng gồm các doanh gia thành công nhất. Kế đó là giai cấp trung lưu với các doanh gia nhỏ hơn, các quản trị viên, các chuyên gia và các công nhân cổ trắng làm việc cho công ty nước ngoài hay công ty tư doanh lớn. Dưới hai giai cấp phồn vinh ấy là giai cấp lao động gồm đại đa số nhân dân lao động. Dưới đáy xã hội thành thị Trung Quốc là giai cấp hạ đẳng có lợi tức chỉ đủ sống vất vưởng. Tình trạng công nhân công ty quốc doanh không công ăn việc làm đã góp phần mở rộng giai cấp này. Sự phân tầng xã hội và sự đa dạng hoá các quyền lợi giai cấp chuyển thể nhà nước thành đấu trường, ở đó những xung khắc quyền lợi được giải quyết bằng đấu tranh.

Dẫu sao, dù là người ở giai cấp hạ đẳng ở thành thị cũng không đến nỗi khốn khổ như người ở nông thôn. Hai dân biểu Quốc hội ở tỉnh An Huy, Trần Quế Khanh và Xuân Đào phải công khai lên tiếng: “Nông dân ngày nay bị áp bức còn nặng nề hơn cả ở thời kỳ Quốc dân Đảng và quân phiệt Nhật thống trị”. Một cán bộ cơ sở nông thôn là Lý Xương Bình đã viết thư lên thủ tướng với tiêu đề: “Tôi xin nói 3 điều chân tình nhất với thủ tướng”, trong đó viết rất ngắn gọn là: “Nông dân thực sự nghèo, nông dân thực sự khổ, nông dân thực sự đang có nguy cơ”.

Hàng năm, số người từ quê lên tỉnh kiếm sống tăng từ 6 đến 8 triệu. Tuổi trung bình của họ là 28,6 tuổi và trình độ học vấn chỉ ở mức nghĩa vụ giáo dục. Họ rất khó kiếm việc tốt mà chỉ những việc nặng nhọc, dơ dúa và nguy hiểm mà dân thành thị chê thì mới đến tay họ. Tại các xưởng gia công, những công trường xây dựng, họ phải làm việc một ngày 11 tiếng, một tháng 26 ngày với đồng lương tối đa chỉ bằng ½ lương của công nhân thành thị. Theo một kết quả điều tra của một cơ quan nhà nước, trong năm qua, tại các đô thị trên toàn quốc có khoảng 700.000 người bị tai nạn lao động, trong đó có 6.000 người bị thiệt mạng. 95% tai hoạ này rơi vào đầu những người lao động từ nông thôn lên.

Không chỉ có khe nứt toác giữa thành thị với nông thôn, ngay giữa các thành thị cũng có phân hoá dữ dội. Tỉnh giầu nhất là Thượng Hải với thu nhập đầu người 38.000 nhân dân tệ/năm (4.600 USD), hơn cả Bắc Kinh (2467 USD), trong khi tỉnh nghèo nhất là Quý Châu chỉ có 2.900 nhân dân tệ (350 USD). Sự chênh lệch giữa 2 tỉnh giầu và nghèo này lên tới 13 lần. Những tỉnh duyên hải như Liêu Ninh, Bắc Kinh, Thiên Tân, Sơn Đông, Giang Tô, Thượng Hải, Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông đều có thu nhập trên 10.000 nhân dân tệ (1.200 USD), trong khi 3 tỉnh Cam Túc, Quý Châu và Tây Tạng có thu nhập dưới 5.000 nhân dân tệ (600 USD).

Sự bần cùng hoá ở nông thôn, nạn quan chức tham nhũng không khống chế nổi và sự chênh lệch giầu nghèo ngày càng tăng dẫn đến những xung đột xã hội ngày càng gay gắt, làm cho quan hệ giữa chính quyền và dân chúng ngày càng căng thẳng, từ đó đe doạ an ninh và ổn định xã hội.

Tháng 1 năm 2004 tại khu vực Vạn Châu, thành phố Trùng Khánh và tai huyện Hán Nguyên, tỉnh Tứ Xuyên đã lần lượt xẩy ra 2 vụ xung đột nghiêm trọng giữa nhân dân với cảnh sát và chính quyền trên quy mô lỡn và nghiêm trọng chưa từng có kể từ khi dựng nước đến nay.

Vụ ở Vạn Châu bắt nguồn từ một nguyên nhân rất nhỏ: một quan chức tự xưng là lãnh đạo của thành phố đã hành hung, đánh đập một công nhân qua đường, từ đó làm cho hàng chục vạn quần chúng căm giận kéo tới biểu tình trước trụ sở chính quyền thành phố. Quần chúng xông vào đập phá trụ sở chính quyền, phá huỷ xe ôtô của các quan chức, xô xát với cảnh sát chống bạo động trong thời gian dài.

Vụ ở Hán Nguyên xuất phát từ nguyên nhân chính quyền trưng thu đất của nông dân để xây dựng nhà máy thuỷ điện. Nông dân lũ lượt xuống đường biểu tình, bao vây tỉnh uỷ, bắt giam bí thư tỉnh uỷ Trương Học Trung (Zang Xuezhong). Sức phản kháng mãnh liệt đến mức nhà nước phải đưa hơn một vạn cảnh sát vũ trang đến đàn áp làm nhiều người chết và bị thương. Tuy nhiên, cuối cùng nhà nước cũng phải nhượng bộ, ra lệnh ngừng xây dựng nhà máy, trả lại đất cho nông dân.

Trong năm vừa qua đã có hơn 3,5 triệu người dân Trung Quốc xuống đường biểu tình, chống lại việc trưng dụng đất đai và làm bẩn nguồn nước uống do phế thải công nghiệp.

Sau gần 30 năm cải cách mở cửa, tình trạng tham nhũng hoành hành trong xã hội Trung Quốc dữ dội đến mức làm cho Trung Quốc quay trở lại cách đây 200 năm của châu Âu và lặp lại vết xe tham nhũng thối nát của chính quyền Tưởng Giới Thạch cách đây gần 60 năm. Những gì đang diễn ra ở Trung Quốc suốt hơn ¼ thế kỷ qua chỉ là một quá trình công nghiệp hoá theo mô thức giai đoạn tiền khởi của chủ nghĩa tư bản, đã từng diễn ra ở Tây Âu trong các thế kỷ 18-19. Quá trình này chỉ độc đáo ở chỗ nó diễn ra dưới sự thống lãnh của một nhà nước-đảng toàn trị nhân danh chủ nghĩa Mác–Lênin. Chính quyền địa phương ở nhiều tỉnh, khu tự trị đã từ bỏ chức năng quản lý hành chính để chạy theo kinh doanh trở thành những ông chủ ở địa phương thông qua những hành vi như bán đất đai, thu hút thương nhân nước ngoài tới đầu tư kinh doanh để làm giầu cho bản thân và tập đoàn của mình. Trong khi đó, sự phát triển kinh tế của địa phương không theo quy hoạch, tiến hành một cách mù quáng, gây ra tình trạng xây dựng chồng chéo, hiệu quả thấp, lãng phí lớn. Quan chức địa phương câu kết, thông đồng với thương nhân dưới danh nghĩa xây dựng các khu công nghiệp phát triển, lấy đất đai của dân, di dân, nhưng đền bù với giá rẻ mạt để lấy tiền đút vào túi của mình. Các luật sư, cơ quan công an, toà án cũng hùa theo “tư bản đỏ”, đổi trắng thay đen, bức hiếp dân lành. Các doanh nghiệp nhà nước vì làm ăn quá thua lỗ bị xử lý bằng cách “nhỏ và vừa thì bán đi, lớn thì cổ phần hoá”. Một phần trong số những doanh nghiệp nhỏ và vừa được bán cho tư nhân, chuyển thành các doanh nghiệp tư nhân. Đối với một số doanh nghiệp nhỏ và vừa còn lại, quyền sở hữu một số lượng lớn cổ phiếu của mỗi xí nghiệp được nhượng cho ban giám đốc. Những thủ đoạn muôn hình muôn vẻ mà các nhà điều hành các doanh nghiệp nhà nước đã làm để chỉ “nhất dạ chi gian” có trong tay một số lượng cổ phiếu trị giá nhiều chục triệu nguyên, hình thành một cộng đồng các tân tài phiệt quái đản. Chính phủ và nhân dân phải gánh chịu những tổn thất do bán tài sản công hữu rẻ mạt cho tư nhân, còn những kẻ mua được xí nghiệp công hữu với giá hời, bán lại với giá cao thì nhanh chóng phất lên giầu có nghễu nghện.

Tình trạng vô luật lệ đang uy hiếp Trung Quốc. Con số hàng năm các tội ác có báo cáo, tính theo tỷ lệ 100.000 người, bùng nổ từ 5,5 trong năm trong năm 1978 tới 28,8 năm 2000. Mức độ tội phạm có bạo lực thậm chí tăng nhanh hơn. Trên cả nước, các cơ quan thi hành luật pháp không thể đối phó vì thiếu nhân lực, thiếu ngân khoản và thiếu trang bị. Tại một số địa phương có phạm nhân đông và có nhiều súng nhiều viên chức nhà nước đã bị hạ sát. Trong năm 2001, 443 viên chức bị giết trong lúc thi hành nhiệm vụ. Một số cơ quan công an địa phương là đối tượng xâm nhập của người phạm pháp hoặc bị hối lộ mà biến thành tay trong cho các băng đảng hoành hành trên các đường phố và phạm pháp mà không bị trừng phạt. Các cơ quan điều tra đã khám phá ra gần 320.000 bộ đồng phục, huy hiệu, xe và vũ khí của công an, và phát hiện được 10.000 công an dởm.

Trung Quốc cũng là một đế chế với nhiều sắc tộc: phía tây là bộ lạc Uighurs, dòng dõi người Thổ Hồi giáo, hiện sinh sống trong khu tự trị Tân Cương. Tại đây, chính phủ có cả một lực lượng quân đội hùng hậu nhưng vẫn không chế ngự được các vụ bạo loạn. Ở Tây Tạng, mâu thuẫn sắc tộc và tôn giáo vẫn âm ỉ, nung nấu một ý chí chống đối còn quyết liệt hơn.

3. Thiên hạ hồ nghi

Trong bài viết đăng trên trang web của nhóm “Phân tích Châu Á”, tiến sĩ Subhash Kapila, Ấn Độ, cho rằng sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc đang gây ra mối lo ngại và sự cảnh giác không thể không có đối với các cường quốc trên thế giới và các nước khác, đặc biệt là các nước láng giềng. Sau khi trở thành nhà nước cộng sản năm 1949, Trung Quốc luôn tìm kiếm cơ hội khuynh đảo cán cân quyền lực khu vực và toàn cầu. Kể từ khi phải căng lực lượng quân đội trong cuộc chiến tranh Triều Tiên đầu thập niên 1950, rồi cuộc chiến tranh với Việt Nam năm 1979, Trung Quốc đã trở thành quốc gia đối đầu với các nước. Người ta không thể không e ngại trước hiện tượng, gần đây, Trung Quốc ra sức đẩy mạnh việc nâng cấp, hiện đại hoá quân đội và chế tạo tên lửa đạn đạo liên lục địa.

Napoléon từng có câu nói nổi tiếng: Khi Trung Quốc thức giấc, thế giới sẽ run sợ.

Trong bài viết ngày 15 tháng 5 vừa qua mang tiêu đề “Sự lớn mạnh của Trung Quốc gây bất ổn”, John Mearsheimer, giáo sư chính trị trường Đại học Tổng hợp Chicago cũng khẳng định: “Trung Quốc có thể phát triển trong hoà bình? Câu trả lời của tôi là không! Nếu trong vài thập niên tới Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng kinh tế với tốc độ đáng kể như hiện nay, Hoa Kỳ và Trung Quốc rồi sẽ dấn mình vào một cuộc chạy đua về an ninh ngày càng căng thẳng, tiềm ẩn một nguy cơ dẫn đến chiến tranh. Hầu hết các quốc gia láng giềng của Trung Quốc, kể cả Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Nga và Việt Nam, rồi sẽ bắt tay với Hoa Kỳ để ngăn chặn thế lực của Trung Quốc… Một Trung Quốc ngày càng hùng mạnh rồi đây cũng sẽ có những nỗ lực để đẩy thế lực Mỹ ra khỏi châu Á, chẳng khác gì cung cách mà Hoa Kỳ đã đẩy các thế lực châu Âu ra khỏi vùng Tây Bán Cầu trước đây. Một “Học thuyết Monroe” kiểu Trung Quốc rồi sẽ ra đời giống như Nhật Bản đã làm trong thập niên 1930… Hoa Kỳ sẽ phản ứng thế nào nếu Trung Quốc muốn trở thành một thế lực thống trị châu Á. Chắc chắn là Hoa Kỳ không bao giờ chấp nhận có những thế lực đối đầu ngang tầm với mình. Như đã được chứng minh trong thế kỷ 20, Hoa Kỳ đã biểu lộ quyết tâm giữ vững vị trí thế lực bá quyền duy nhất trên thế giới… Những quốc gia láng giềng của Trung Quốc chắc chắn cũng đều lo sợ sự trỗi dậy đó và rồi họ cũng sẽ làm bất cứ những gì có thể làm được để ngăn chăn Trung Quốc trở thành một thế lực bá quyền khu vực… Cuối cùng thì rồi họ cũng sẽ đứng vào trong một lực lượng liên minh do Hoa Kỳ lãnh đạo để canh chừng và kiềm chế sự lớn mạnh của Trung Quốc, chẳng khác gì Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật, và ngay cả Trung Quốc đã liên kết lực lượng với Hoa Kỳ để ngăn chặn thế lực của Liên bang Xô Viết trong thời chiến tranh lạnh vừa qua”.

Quan hệ Nhật Bản – Trung Quốc chẳng những không được cải thiện bền chắc mà gần đây càng trở nên xấu đi. Năm 2005, người Trung Quốc bùng phát bạo động nhằm vào những lợi ích của Nhật Bản tại Trung Quốc và xúc tiến những trao đổi ngoại giao gay gắt do việc Nhật Bản không chịu xin lỗi về những hành động tàn ác mà họ gây ra tại Trung Quốc trong thế kỷ trước. Tinh thần dân tộc chủ nghĩa tiếp tục đấy lên lòng thù hận giữa đôi bên chưa biết bao giờ mới hoá giải nổi.

Mối quan hệ gay cấn Trung Quốc – Nhật Bản càng tăng cao khi Trung Quốc tìm cách chiếm đoạt các nguồn năng lượng ở các vùng biển Đông-Bắc Á. Đối với Nhật Bản, Đài Loan là một khu vực địa chiến lược bởi gần 80% nhu cầu nhập khẩu năng lượng của Tokyo phải quá cảnh qua eo biển Đài Loan để đến Nhật Bản. Nhật Bản nhận thấy Okinawa rất gần Đài Loan, nếu tình hình eo biển Đài Loan tiếp tục căng thẳng, sự cạnh tranh Trung Quốc – Nhật Bản sẽ tăng theo. Đề cập đến vấn đề Đài Loan, ông Taro Aso, ngoại trưởng Nhật, ngày 9 tháng 3 năm 2006, nói trước một Ủy ban của Hạ viện rằng: “Nền dân chủ của Đài Loan được công nhận là khá chín muồi và các chính sách kinh tế tự do đang bám rễ sâu ở đó, do vậy, họ là một quốc gia tôn trọng luật pháp. Trên nhiều phương diện, đó là một nước đang chia sẻ những giá trị với Nhật Bản”.

Chính sách đối ngoại của Trung Quốc tại Nam Á còn hàm chứa một thách thức lớn là chống lại Ấn Độ. Trung Quốc và Ấn Độ vốn từ lâu có sự nghi ngờ lẫn nhau trong quan hệ với Mỹ. Cho rằng Mỹ đang giúp Ấn Độ trở thành một cường quốc nhằm kìm chế Trung Quốc, Trung Quốc phản ứng gay gắt trước thoả thuận hạt nhân Mỹ – Ấn hồi tháng 6 năm 2005. Từ năm 1999, Trung Quốc liên tục tăng cường các hoạt dộng tuần tra khiêu khích, thu thập tin tức tình báo tại khu vực dọc biên giới Trung – Ấn nhằm mục đích thử phản ứng của Ấn Độ. Việc xây dựng tuyến đường sắt dài 1.118 km từ Thanh Hải đến Tây Tạng và nhiều công trình quân sự khác cho thấy Trung Quốc “có ý đồ sử dụng sức mạnh quân sự hoặc qua đó gây sức ép trên bàn đàm phán để nhanh chóng đạt được mục đích riêng”. Trung Quốc đã dứt khoát bác bỏ đề nghị của Ấn Độ về việc đưa ra thời gian biểu cụ thể cho các cuộc đàm phán biên giới. Ý đồ của Bắc Kinh là tìm cách trì hoãn thực hiện các thoả thuận như đã hứa với Ấn Độ sau khi đã có được các cam kết bằng văn bản từ phía Ấn Độ về vấn đề Tây Tạng. Trong khi, nhằm duy trì một thế giới đơn cực, Washington hỗ trợ để hình thành một châu Á đa cực, trong đó Ấn Độ và Nhật Bản là đối trọng của Trung Quốc thì Bắc Kinh muốn hình thành một châu Á – Thái Bình Dương đơn cực tập trung cho Trung Quốc, trong một thế giới đa cực (Mỹ, EU, Nga, Trung Quốc). Ngược lại với Bắc Kinh và Washington, New Delhi muốn tồn tại đa cực cả trong khu vực lẫn trên phạm vi toàn cầu. Một số người Ấn Độ vẫn lo ngại về ý đồ bá chủ khu vực của Trung Quốc. Họ cảnh giác trước mối quan hệ an ninh thân thiện giữa Trung Quốc và Pakistan. Trong những năm qua, Trung Quốc cung cấp cho Pakisstan nhiều chương trình vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo và vũ khí thông thường. Nhiều nguồn tin cho biết Bắc Kinh đang xây dựng nhiều sân bay quân sự ở tây nam Trung Quốc, gần Ấn Độ. Đối lại, ngoài kho vũ khí hạt nhân, Ấn Độ cũng xây dựng một đội quân với quân số đến 1,3 triệu binh sĩ.

Ngay cả Nga là nước hiện được Trung Quốc chọn làm đối tác chiến lược cũng không thể không tiến hành một số biện pháp nhằm hạn chế Trung Quốc khi cần thiết. Chủ nghĩa đơn cực của Mỹ, đặc biệt là với các chính sách chủ nghĩa thực dân mới, đã gắn kết Trung Quốc với Nga trong một hợp đồng chiến lược dựa trên sự tụ hội, cùng chia sẻ về những lợi ích quốc gia. Tuy nhiên hợp đồng chiến lược giữa hai nước này cũng không được suôn sẻ. Vả chăng, Trung Quốc không có sự lựa chọn nào thích đáng hơn trong chính sách đối ngoại tại khu vực Thái Bình Dương và một vài nơi khác, trái lại Nga, một cường quốc ở châu Âu, lại có những lựa chọn về chính sách đối ngoại với EU.

Tháng 3 năm 2005, Trung Quốc đã thông qua đạo luật cho phép dùng vũ lực chống lại Đài Loan nếu đảo quốc này chính thức tuyên bố độc lập. Trung Quốc bố trí khoảng 750 tên lửa đạn đạo hướng vào Đài Loan nhằm đe doạ đảo quốc này.

Gần đây, giới lãnh đạo quân sự Trung Quốc còn thêm mối lo ngại rằng đường lối ủng hộ Mỹ trong công cuộc chống khủng bố có thể làm xói lở ảnh hưởng của Trung Quốc trong vùng Trung Á nếu kéo dài sự hiện diện quân đội Mỹ ở đây. Có thể, trong tương lai, biên giới phía tây Trung Quốc cũng trở nên bất ổn định và dễ bị đe doạ.

Môi trường an ninh bên ngoài của Trung Quốc rất dễ bị nhiễu động bởi nhiều yếu tố. Chinh Yu, một nhà ngoại giao Trung Quốc đã điểm qua như sau:

  1. Xung quanh Trung Quốc là hai cường quốc quân sự mạnh: Nga và Ấn Độ; hai nền kinh tế lớn: Nhật Bản và Hàn Quốc; và những thị trường đang nổi lên cho tất cả các cường quốc chủ chốt có thể cạnh tranh: Ấn Độ, ASEAN.
  2. Trung Quốc bị bao vây bởi các liên minh quân sự của Mỹ và sự hiện diện về mặt quân sự của Washington tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Philippine.
  3. Các điểm nóng xung đột khu vực tồn tại xung quanh Trung Quốc tại bán đảo Triều Tiên, Kashmir và Afghanistan.
  4. Trung Quốc phải đối mặt với phong trào ủng hộ độc lập tại Đài Loan, Tây Tạng.

Các cuộc tập trận giữa Nga và Trung Quốc trong mùa hè vừa qua là sự nhắc nhở cho người Đông Á và Hoa Kỳ rằng Trung Quốc đang tập trung xây dựng nhanh chóng lực lượng quân sự. Bắt đầu từ 1996, ngoại trừ năm 2003, chi phí quốc phòng hàng năm của Trung Quốc đều tăng ở mức trên 10%, tập trung chủ yếu cho vũ khí chiến lược. Nhiều khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục tiến hành đầu tư cho quân sự với quy mô lớn, bao gồm phát triển khả năng tác chiến không đối xứng; nhất là khả năng chiến tranh điện tử, chiến tranh trên mạng và chiến tranh trong khoảng không vũ trụ, cũng như khai thác phát triển sân chơi vũ khí chiến lược tiên tiến như tầu ngầm, vũ khí hạt nhân chiến lược, máy bay chiến thuật không người lái. Lực lượng Quân đội Nhân dân Giải phóng quân Trung Quốc hiện có 2,3 triệu quân, không kể 1,5 triệu quân thuộc lực lượng cảnh sát vũ trang. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc chính thức công bố là 22 tỷ USD, nhưng theo tính toán của cơ quan tình báo quân sự Mỹ thì ngân sách này đã đạt 75 tỷ USD trong năm 2005 và sẽ lên tới 100 tỷ USD vào năm 2009. Tuy nhiên, sau “chiến tích” thảm bại trong cuộc chiến biên giới Việt – Trung và sau vụ thảm sát sinh viên ở Thiên An Môn, uy tín của lục quân Trung Quốc rất không đáng kể. Vả chăng, từ rất nhiều năm nay Trung Quốc chưa hề trải qua một cuộc chiến thực sự có tầm cỡ nào.

Mặc dù với những thành tựu kinh tế làm loá mắt trong ít năm gần đây, người ta vẫn xếp Trung Quốc – một trong những nền văn minh sớm nhất nhân loại, nước có số dân đông nhất thế giới – đứng thứ 54 trong bảng toàn cầu hoá trên tạp chí Foreign Policy công bố hàng năm tại Hoa Kỳ. Vị trí này chẳng có gì vẻ vang bởi nó chỉ được liệt vào giữa Peru và Venezuela; trong khi vị trí đầu tiên thuộc về Singapore (sắc tộc Trung Hoa), thứ nhì là Irland, thứ ba – Thuỵ Sĩ, thứ tư – Hoa kỳ.

Hà Nội 25 tháng 6 năm 2006

© 2006 talawas

 
© talawas 2026