Đỗ Minh Tuấn
Tập thơ Chuông chùa kêu trong mưa của Ðồng Ðức Bốn (NXB Hội Nhà văn, 2002) vẫn giữ được cái giọng điệu hồn nhiên, tài hoa và ngang tàng, đậm chất ca dao và đầy những liên tưởng bất ngờ thú vị rất có duyên của những tập thơ trước, nhưng đã có những cái mới về sắc thái thẩm mỹ đầy khí vị thơ thiền. Và, giống như con chim hót hay đã biết rỉa bộ lông duyên dáng của mình và biết ca ngợi chính cái bầu trời đã nâng đôi cánh của mình bay cao, trong tập thơ này Ðồng Ðức Bốn đã thể hiện rõ cái quyết tâm sống chết với thơ, đã để lộ cái ý thức về một cõi thơ riêng, một thể thơ riêng – anh có vẻ muốn đoạt chiếm thể thơ lục bát thành danh xưng và tước hiệu của riêng mình. Trong khi có nhà thơ do không có ý thức về cõi thơ riêng nên đã giã từ cõi đời đầy bất ngờ sâu sắc bí ẩn của những dòng thơ đầu để theo người tụt xuống với cõi chữ gò gẫm, xác xơ và mòn sáo, thì việc Ðồng Ðức Bốn ý thức về cõi thơ của riêng mình, thể thơ của riêng mình là thể hiện một bản lĩnh thơ ngày càng phát triển.
Cõi thơ ấy, thể thơ riêng ấy và sắc thái thẩm mỹ mới ấy đã hiện lên trong thơ Bốn ra sao?
1. Ý thức về giá trị thơ ca và về sức mạnh của thể thơ lục bát trong thơ Ðồng Ðức Bốn
Trời cho được chút lộc thơ
Trên thế giới đã có cuộc thi thơ mà người đoạt giải nhì được nhận một bông hoa bằng vàng, còn người đoạt giải nhất được nhận một bông hoa… thật. Trao giải như thế, Ban tổ chức cuộc thi muốn khẳng định giá trị thơ ca là thứ quý hơn vàng, nhưng cũng muốn ngụ ý rằng, kẻ nào theo đuổi giá trị thơ ca thì kẻ ấy phải chấp nhận trả giá, thiệt thòi trong cuộc sống. Cái mâu thuẫn giữa thơ và vàng, giữa hồn thi sĩ và giàu sang phú quý như là định mệnh của nhà thơ, hơn thế nữa, là cách Thượng đế phân phối hạnh phúc cho nhân loại.
Ðồng Ðức Bốn trong nhiều năm là một ví dụ khá tiêu biểu của cái mâu thuẫn giữa vàng và thơ, giữa cái được của thơ và cái mất của hạnh phúc gia đình, trần thế. Bốn cũng khốn khổ về vật chất và cũng cô đơn, lận đận trong chuỗi ngày dằng dặc đeo đuổi Nàng thơ như bao thi sĩ khác. Nhưng cái tấm tình sâu nặng của riêng Bốn với thơ là ở chỗ này: tất cả những bất hạnh mất mát lớn lao trong đời thực được Bốn tính cả vào sự trả giá cho thơ. Có lúc Bốn tâm sự với bạn bè rằng trời cho Bốn được mấy câu thơ mà bắt Bốn trả giá bằng cái chết của hai đứa con yêu. Cái gì đã khiến Bốn kết tội con người thi nhân của mình một cách nặng nề đau đớn thế nếu không phải là mặc cảm về tội lỗi của thơ và của nhà thơ – cái tội tổ tông xa đời, xa những vui buồn nhân thế, chống lại giàu sang phú quý và hạnh phúc gia đình? Thấy thơ nguy hiểm vậy mà Bốn vẫn lao theo, chứng tỏ với Bốn thơ ca là định mệnh. Bốn coi thơ là thứ lộc thiêng đến đáng sợ của Trời:
Trời cho được chút lộc thơ
Là thứ đáng kính thờ không thể đem ra đùa giỡn:
Một nước không thể hai vua
Một thơ không để trò đùa thế gian
(Về lại chốn xưa)
Thơ là những mặc khải của Trời, nhưng lại có thiên chức làm cho làm cho con người trần thế yêu nhau.
Ðời như cây bút của Trời
Nhớ viết phải để cho người yêu nhau
(Chuông chùa kêu trong mưa)
Thơ giải cứu cho con người khỏi những sóng gió của nhân tình thế thái y như thể Phật hiện ra cho ta những phép màu:
Ðưa em qua trận bão người
Bằng câu lục bát của Trời cho anh
(Ðưa em qua trận bão người)
Thơ là đích của mọi đích, là nơi cái đơn độc bơ vơ của thi nhân nương náu, đi về:
Chỉ còn tao biết đam mê
Lấy thơ làm cõi đi về bơ vơ
(Nói chuyện với những cây cỏ dại)
Với Bốn, thơ là một độc thoại nhưng có sức lay động thế giới:
Bài thơ anh viết cho mình
Mà cây trúc mọc sân đình tương tư
(Gai rào ngõ quê)
Thơ không cần viết để chinh phục ai, thơ chỉ viết để thoả mãn những nỗi buồn, nỗi băn khoăn và những phập phồng hoang dã của con tim thi nhân, nhưng thơ lại làm cho thế giới lây nhiễm tình yêu, làm cho cây trúc mọc nơi sân đình già cỗi nghiêm trang bỗng trở nên tương tư ngoài dự kiến. Thơ còn luôn luôn hướng đến nỗi đau thẩm mỹ sâu hơn cái vui của nắng, cái thơ mộng của trăng:
Bao nhiêu nước mắt đầm đìa
Thơ buồn mới dệt từ tia nắng hồng
(Chia tay một trận mưa rào)
Thơ giúp cho nhà thơ tìm lại chính mình, giúp người ta tìm lại cái vu vơ rất đỗi con người.
Gửi câu lục bát vào trời
Ta đi tìm lại con người trong ta
(Với cây xương rồng)
Buồn thì tôi vẫn làm thơ
Ðể em có cái vu vơ mà tìm
(Em đi lấy chồng)
Thơ biến cái vu vơ thành cái để đời mang giá trị vĩnh hằng:
Cuộc tình tưởng những vu vơ
Mà sao lại hoá bài thơ để đời
(Ngồi nhớ Chí Phèo)
Trong thơ Bốn, thơ còn có thể thay thế đồng tiền để làm những công việc mua bán, đổi trao, thế chấp. Nhưng thơ luôn nhuộm đời sống trở nên huyền diệu, với những hào quang toả sáng ra từ thất tình lục dục, chỉ thiếu giận hờn thôi:
Câu thơ nấp ở sân đình
Nhuộm trăng trăng sáng nhuộm tình tình đau.
Nhuộm buồn những hạt mưa mau
Thành sao nở trắng vườn cau trước nhà
Nhuộm sương của các loài hoa
Thành mơn món tóc đuôi gà cho ai...
(Cuối cùng vẫn còn dòng sông)
Rõ ràng Bốn không hề đam mê thơ mù quáng mà có ý thức rõ ràng về giá trị thơ ca và sứ mệnh của nhà thơ trong cõi đời này, nhìn rõ những trả giá lớn lao khi chọn thơ làm lẽ sống. Một ý thức về thơ trong thơ như thế xưa nay đâu có nhiều? Thử xem các nhà thơ kim cổ có mấy người vừa dùng thơ ca ngợi cuộc đời lại vừa dùng thơ ca ngợi chính thơ không?
Bằng câu lục bát của Trời cho anh
Không chỉ ý thức về giá trị thơ ca, Bốn còn ý thức về giá trị của thể thơ lục bát. Có lẽ, chưa có ai kỳ vọng vào thơ và kiêu hãnh với thơ lục bát như Ðồng Ðức Bốn. Bốn cũng có lúc thấy câu lục bát của mình đem đến những sóng gió, bất trắc:
Ðem câu lục bát ra tiêu
Tôi mang về được chín chiều bão giông
(Xin người một chút mộng mơ)
Nhưng Bốn vẫn mong đem câu thơ lục bát của mình đưa người yêu qua những sóng gió của đời và đưa thi nhân qua giải Ngân Hà cho Ngưu Lang – Chức nữ gặp nhau:
Ðưa em qua trận bão người
Bằng câu lục bát của Trời cho anh
(Ðưa em qua trận bão người)
Ước gì sang giải Ngân Hà
Bằng câu lục bát hương hoa móng rồng
(Hãy về đây với bến sông)
Bốn còn coi thơ lục bát là cõi hoá thân, là bản mệnh của mình:
Ơi Trời cho những tái tê
Tôi thành lục bát mải mê chợ buồn
(Em xa)
Lục bát còn là nơi thi nhân tìm lại nhân tính trong chính bản thân:
Gửi câu lục bát vào trời
Ta đi tìm lạị con người trong ta
(Với cây xương rồng)
Thơ lục bát còn trở thành một đối thoại, một tặng vật, một sợi dây liên kết đồng cảm giữa con người với nhau và với thiên nhiên:
Tôi thương những hạt mưa dầm
Trong câu lục bát người cầm trao nhau
(Bây giờ vàng chẳng là thau)
Lục bát còn là ngôi vị cao nhất để nhà thơ tôn vinh người yêu:
Em là lục bát của tôi
Tôi là hạt bụi xa xôi của người
(Em là lục bát của tôi)
Chưa có ai ca ngợi người yêu theo cách ấy. Không phải em là nữ hoàng, là tiên nữ, là thần hộ mệnh, là câu kinh như bao nhiêu thi nhân khác hằng ca ngợi. Em chỉ là “lục bát của tôi” thôi, nhưng xem ra, với nhà thơ không có danh hiệu nào cao quý thiêng liêng hơn thế nữa. Vì lục bát chính là bản mệnh, là Thượng đế, là ngai vàng kiêu hãnh của nhà thơ mà khi nhà thơ đứng dậy khỏi ngai vàng ấy, trao vương miện lục bát cho người tình anh ta chỉ còn là hạt bụi mà thôi! Những người gắn bó máu thịt với thơ lục bát trước Ðồng Ðức Bốn như Nguyễn Du, Tản Ðà, Nguyễn Bính, Nguyễn Duy chưa có ai kiêu hãnh, tôn vinh biết ơn thể thơ này như Ðồng Ðức Bốn. Họ chỉ coi đó là những “lời quê”, những bước vòng kiềng loằng ngoằng trong cái nhìn tự trào pha chút gì nhún nhường mặc cảm, hay chỉ như một công cụ như những công cụ khác mà thôi. Cái tình cảm của Bốn với thơ lục bát nhìn bề ngoài giống như tình cảm của người nông dân với con trâu. “Con trâu là đầu cơ nghiệp” gắn bó, gần kề và vất vả cùng người nông dân bao nhiêu năm tháng, nên người nông dân coi nó như bè bạn, âu yếm và tình tứ biết bao:
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Nhưng chưa ai gọi người yêu là “con trâu của anh“ như Bốn gọi người yêu là “lục bát của anh”. Lục bát với Bốn là một cái gì cao hơn một công cụ, một người bạn, một chiến binh. Bốn coi lục bát là thứ lộc trời cao sang, là ngai vàng một cõi, là bản thể văn hoá, là lưỡi gươm chinh phạt, là máu thịt gia đình và công đức mẹ cha. Say mê một thể thơ, biến thể thơ ấy thành một thế giới, một cốt cách thi nhân, một danh hiệu cao sang, một bùa phép diệu kỳ, một quyền lực tối cao – xưa nay chỉ có Ðồng Ðức Bốn là làm được cái việc kỳ diệu ấy. Bởi anh có một đam mê lớn lao, một tình yêu và niềm tin lớn lao, một trả giá lớn lao cho lục bát, anh thấy trong cái luân hồi chữ* nghĩa sáu tám buồn bã như số phận của dân tộc ngàn năm nô lệ ấy có cả linh hồn của người thân và hồn thiêng của bao kiếp vô danh đã làm nên ca dao. Vì thế, khi Bốn buột mồm nói: “Nợ em một khúc ca dao” là Bốn ý thức được rằng cái thể thơ mà mình nâng niu đeo đẳng ấy là một món nợ đời. Hơn thế nữa, một món nợ luân hồi của nhà Phật, một món nợ văn hoá truyền kiếp giống như một nhu cầu tôn giáo.
Trước đây, cũng có nhà thơ – hình như là Lê Ðạt – coi người yêu như một câu kinh trong mấy câu thơ rất lạ, rất hay:
Em như câu kinh lạ
Ngủ trên trang sách xanh
Anh là thiền sư buồn
Ngồi tụng dưới trăng thanh
Nhưng đó chỉ là cách nói hay minh hoạ cho một tôn giáo cũ. Cách liên tưởng, cách ví von của Bốn coi người yêu là lục bát mang tính chất như tuyên ngôn của một tôn giáo mới – Tôn giáo Lục bát. Tôn giáo lục bát là một nhánh trong tôn giáo thơ, giống như đạo Cao đài và đạo Hoà hảo phát sinh từ các tôn giáo lớn. Nếu có một Ðạo Lục bát, thì Bốn chính là giáo chủ. Vì Bốn là người kiêu hãnh và ngạo nghễ vì lục bát hơn tất thảy những ai dùng thể thơ này.
2. Đồng Đức Bốn – nhà thơ của những người phụ nữ
Các nhà thơ lục bát sành điệu xưa nay đều là những nhà thơ khóc thương và ngợi ca phái yếu. Nguyễn Du xưa là nhà thơ của gái lầu xanh, kỹ nữ, Nguyễn Bính là nhà thơ của các cô gái chân quê, hương đồng gió nội. Ðồng Ðức Bốn cũng là nhà thơ ca ngợi, tiếc thương người mẹ, người tình, những người nữ luôn luôn là mẫu số chung của cuộc đời nhà thơ với bóng dáng ẩn hiện trong cây cỏ đồng quê, trong mây gió bốn mùa và trong cõi vắng, cõi không, cõi bơ vơ tràn ngập tiếng chuông chùa và dệt đầy mưa nắng.
Yêu em dẫu phải đốt trời
Ðồng Ðức Bốn là nhà thơ tình chuyên nghiệp mà âm hưởng chính xuyên suốt thơ anh là những tiếng than van của kẻ thất tình, của người đeo đẳng, của thi sĩ cô đơn. Hiện chập chờn sau những dòng thơ là hình ảnh một người con gái bất định, vô danh. Cô gái ấy là ai? Có thực không hay chỉ là người trong mộng mà day dứt ám ảnh thi nhân đến vậy? Ta chỉ biết đó là một cô gái đẹp lắm, một cô gái đã có chồng mà nhà thơ từng rình rập bên sông trong nhiều đêm:
Cái đêm em ở với chồng
Ðể ai hoá đá bên sông đợi chờ
Cái đêm hôm ấy gió mùa
Tơ nhện giăng đến cổng chùa thì thôi
(Cái đêm em ở với chồng)
Cổng chùa ở đây nửa như là cảnh thật, nửa như là ẩn dụ. Hình như nhà thơ muốn trách nhẹ người yêu, châm biếm nàng bằng hình ảnh ngôi chùa ngăn đường tơ nhện. Rằng em chỉ là một thứ tăng ni trong ngôi nhhà của mình thôi, ngôi nhà em ở với chồng em chỉ là một ngôi chùa khép kín không cho tơ tình anh vương đến. Có nghĩa là em đã sống yên thân, đã thoả mãn với phòng tu ấy, em khước từ anh và lãng quên anh, nên cái tơ nhện của tình anh nó mới dừng lại trước cổng chùa trang nghiêm kín mít ấy! Lời trách móc thật ý nhị và kín đáo. Phải yêu và đau như thế nào mới buột ra được những dòng thơ tinh vi và thâm thuý thế! Lời trách ấy lộ ra khi nhà thơ ghen ngược, tưởng tượng ra những mất mát của mình:
Cái đêm lành lạnh gió mùa
Em trong chăn ấm có đùa với ai
Ngang trời tiếng vạc mảnh mai
Chém trăng đã đứt thành hai mảnh rồi
Mảnh nào em để cho tôi
Khi buồn chỉ đặt lên môi làm kèn
(Cái đêm em ở với chồng)
Thi sĩ si tình đứng bên bờ sông lạnh ngong ngóng nhìn vào mái ấm của người tình, và thất vọng đau buồn trước những tưởng tượng về hạnh phúc gia đình của người mình yêu. Cái nỗi buồn, nỗi cô đơn mất mát ấy làm tan nát cả thiên nhiên, làm đứt gãy cả vầng trăng mà những mảnh trăng đứt gãy ấy cũng lại thuộc về cô gái trong chăn ấm. Chỉ với mấy câu thơ tài hoa ấy, nhà thơ đã dâng tặng cả bầu trời, cả tiếng vạc, cả vầng trăng cho người yêu. Cô gái giấu mình trong chăn kia đã choán hết cả bầu trời từ lúc nào không rõ.
Một đêm cô đơn khác, nhà thơ cũng bị bơ vơ giữa trời sao:
Sao rơi cháy cả đôi bờ
Mà anh thì cứ bơ vơ giữa trời
(Ðêm sông Cầu)
Thiên nhiên thi vị quá, huy hoàng quá, nhưng cái thi vị huy hoàng ấy là thuộc về ai đó, đâu phải thuộc về anh. Lời trách thật tế nhị, thanh cao! Sao một Ðồng Ðức Bốn thô tháp, ngang tàng và kiêu hãnh lại có những dòng thơ tài hoa, tế nhị và chân thành đến vậy? Nếu cô gái anh yêu không phải là một con người kỳ diệu, thì sao anh có thể thăng hoa như thế, hoá thân vào trời đất trăng sao, hoa lá, bờ ao và bão giông như thế. Thế rồi, cũng có lúc người con gái ấy hiện lên rõ rệt với một cái tên: Tân Cương. Tân Cương là ai vậy? Ðó là một cô gái quê mà thi sĩ từng rình rập, từng đau đớn, từng tìm thấy ở đó một ảnh hình kết tụ cả những gì thi vị và màu nhiệm của quê hương:
Bao nhiêu là thứ bùa mê
Cũng không bằng được nhà quê của mình
Câu thơ nấp ở sân đình
Nhuộm trăng trăng sáng, nhuộm tình tình đau
Nhuộm buồn những hạt mưa mau
Thành sao nở sáng vườn cau trước nhà
Nhuộm hương của các loài hoa
Thành mơn mởn tóc đuôi gà cho em
(Gửi Tân Cương)
Những câu thơ tuôn chảy tự nhiên mà thật sâu sắc và thấm thía. Không có một tình yêu chân thành, gan ruột thì không thể viết được những câu thơ chân thành, gan ruột và tài hoa như vậy. Ở đây, thơ với tình yêu là một. Tình yêu hoá thân thành những vần thơ bàng bạc khắp nơi, nhuộm cả quê hương, cả dất trời, cây cỏ. Phép lạ của tình yêu hoá thân vào phép lạ của thơ ca, làm nên một thứ bùa mê hiệu nghiệm hơn mọi thứ bùa mê. Các nhà thơ viết lục bát xưa nay chỉ có những bài thơ hay, không có nhiều những câu thơ cực hay, vừa tài hoa, vừa sâu sắc, vừa khoẻ khoắn, hồn nhiên như Ðồng Ðức Bốn.
Trong những bài thơ tình trước đó của Bốn, tình yêu luôn luôn đồng hành với con đò và dòng sông, với nắng và hoa, với mưa và bão, với trăng sao và mái tóc người yêu. Song, những hình tượng ám ảnh này thường xuất hiện rải rác trong các bài thơ tình, vậy mà đến bài thơ tặng Tân Cương, tất cả những hình ảnh sâu thẳm ấy ùa về cùng một lúc: trăng sáng, sân đình, vườn cau, mưa nắng, cánh hoa, lưỡi dao, cơn bão và mái tóc đuôi gà trong kỷ niệm xưa. Cái cô gái tên là Tân Cương ấy, không biết có thật không hay chỉ là tên một miền đất, một nẻo đường, một cái bóng mà nhà thơ tưởng tượng ra để dồn hết cả quê hương, đất trời, sông biển, nắng mưa và trăng sao vào đấy:
Em như hôm nào cũng rằm
Cũng sương sương khói cũng tăm tăm buồn
Cũng chớp bể, cũng mưa nguồn
Cũng em giọt nước mắt tuôn ngọt ngào
(Gửi Tân Cương)
Nàng Thơ Tân Cương ấy cũng gắn với những đau đớn, hiểm nguy và sóng gió:
Tôi thường đi trên lưỡi dao
Tay cầm cơn bão đem vào cho em
(Cơn bão cho em)
Nhưng càng hiểm nguy và sóng gió tình yêu càng trở nên thi vị, người yêu càng trở nên lộng lẫy:
Bởi em biết sống trên gai
Nên khi cởi tóc mưa cài bên hoa
(Thương nhớ cho nhau)
Bóng dáng người yêu ám ảnh khắp nơi ngay cả khi đã chia xa:
Vẫn còn thấy bụi tầm xuân
Áo em phơi đẻ nhạt dần nắng trưa
Vẫn còn thấy những sợi mưa
Dệt thành trăng sáng bờ xưa ta ngồi
Vẫn còn thấy vướng trên môi
Tóc em một sợi rong chơi lạc vào
Vẫn còn thấy ở ca dao
Y nguyên hai múi bưởi đào em cho
Vẫn còn trong nắng thấp tho
Tôi và em xuống con đò ban mai
(Qua nhà người yêu cũ)
Một người tình tuyệt vời như thế, không trách dược nhà thơ “quyết tử” để chiếm được trái tim nàng. Trong những bài thơ tình trước đó, đã hơn một lần Ðồng Ðức Bốn đem cái chết ra để đo đạc tình yêu, trách móc và tận hưởng tình yêu:
Suốt đời sống trên ngọn gai
Chỉ khao khát chết xem ai thương mình
Chết rồi tôi vẫn làm người
Ðể nhận những nỗi đau đời em cho
Chỉ mong ngày ấy mưa to
Bước chân ai có ngại dò đường trơn
(Thư viết gửi người tình khi tôi chết)
Nhưng trong bài thơ tặng Tân Cương, cái chết có vẻ nhẹ nhàng hơn, tự nguyện hơn, dường như có pha chút niềm vui của kẻ tử vì đạo:
Yêu em dẫu phải đốt trời
Cũng vui vẻ chết như chơi vườn đào
Ðêm mơ đổ trận mưa rào
Cho em gội tóc bên rào tìm anh
(Gửi Tân Cương)
Trong cái khoảnh khắc liều chết, nhà thơ vẫn còn ngẩn ngơ chiêm ngưỡng hình ảnh gội đầu nên thơ của ngưòi tình. Ám ảnh trong thơ Ðồng Ðức Bốn là mái tóc người con gái ấy, là hình ảnh gội đầu bên hàng rào quê không bao giờ phai nhạt, như một bức tranh phấp phới bay theo nhà thơ trong suốt nẻo đường thơ.
Trong thơ Ðồng Ðức Bốn, cõi đời, cõi đạo, cõi thơ không tách biệt nhau mà giao hoà thẩm thấu sang nhau. Thậm chí, chuông chùa, khói hương cũng hiện lên trong thơ bảng lảng ngân nga như những kỷ niệm tình yêu, như tiếng lòng của nhà thơ trong tình yêu say đắm. Thơ không chỉ là một thứ lưới trời nhà thơ mượn gió mây tung ra bủa vây người yêu. Thơ thấm vào cả đạo, cả đời, cả cây cỏ thiên nhiên, cả buồn vui nhớ tiếc để làm nên một cõi vu vơ cho một nàng thơ Tân Cương tìm kiếm:
Buồn thì tôi vẫn làm thơ
Ðể em có cái vu vơ mà tìm
(Em đi lấy chồng)
Câu thơ bộc lộ cái mặc cảm về tình yêu chông chênh, mong manh, không có gì chắc chắn, nhưng vẫn làm hiện lên ảnh hình một cô gái yêu thơ, biết tìm kiếm và trân trọng thơ ca.
Trở về với mẹ ta thôi
Trong thơ ca Việt nam và thế giới đã có nhiều bay thơ hay về mẹ. Sau khi có bài thơ lục bát Bờ sông vẫn gió của Trúc Thông, tưởng như khó có ai viết lục bát về mẹ cảm động được như vậy. Thế nhưng Ðồng Ðức Bốn đã đem đến cho thơ ca Việt nam những câu thơ lục bát viết về mẹ cực hay, có thể sánh với những câu thơ hay nhất viết về mẹ xưa nay:
Chẳng ai biết đến mẹ tôi
Bạc phơ mái tóc bên trời hoa mơ
Còng lưng gánh chịu gió mưa
Nát chân tìm cái chửa chưa chưa có gì
Cầm lòng bán cái vàng đi
Ðể mua những cái nhiều khi không vàng
(Trở về với mẹ ta thôi)
Người mẹ lặn lội gió mưa, tìm trong hư vô một cái gì, không chỉ là miếng cơm manh áo và tiền bạc, mà còn tìm kiếm, giữ gìn những gì quý hơn vàng bạc. Ðó phải chăng là những tình đời, những lời ca vùi lấp trong thời gian và trong gió mưa:
Mẹ ra bới gió chân cầu
Tìm câu hát đã từ lâu dập vùi...
(Trở về với mẹ ta thôi)
Nhưng cái mảnh đất mà người mẹ cần cù bươn chải kiếm sống ấy đâu có bình yên để mẹ âm thầm bới lại những câu ca. Những tiếng thết, tiếng kêu thất thanh vẫn luôn rình rập:
Ối mẹ ơi vỡ đê rồi
Ðồng ta trắng xoá cả trời nuớc trong
Trâu bò thất thểu long đong
Trên bè tre rối bòng bong xoong nồi
Ối mẹ ơi vỡ đê rồi
Mộ cha liệu có lên trời được không?
(Vỡ đê)
Tiếng gọi mẹ trong cảnh vỡ đê mới thắt lòng làm sao. Mẹ có thể làm gì với tấm thân gầy guộc nhỏ nhoi? Mẹ chỉ biết cặm cụi nhặt nhạnh từng đồ phế thải trên mảnh đất nghèo đầy bất trắc bão giông:
Mẹ mua lông vịt chè chai
Trời trưa mưa nắng đôi vai lại gầy
Xóm quê còn lắm bùn lầy
Phố phường còn ít bóng cây che đường
Lời rao chìm giữa gió sương
Con nghe cách mấy thôi đường còn đau
(Trở về với mẹ ta thôi)
Hình ảnh người mẹ đan dệt bằng cả mưa nắng, bùn lầy, những rác rưởi lông vịt chè chai và những câu ca đớn đau sâu thẳm. Người mẹ của Bốn luôn luôn hiện lên trong gió. Gió như một kẻ đồng hành du đãng, vô tâm:
Mẹ hát con chẳng khen hay
Bởi bao nhiêu gió đã bay về trời
Lời buồn buồn mãi chẳng vơi
Lời vui để lại ruột người chín đau
Mẹ bới gío tìm những câu hát bị thời gian vùi lấp, nhưng gió lại chẳng mang cho con cái hay trong lời của mẹ, gió chỉ đưa đến cho con những tiếng rao như cứa gan cứa ruột, những lời ca vĩnh viễn buồn của người mẹ khổ đau. Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ ý thức rõ tình mẫu tử còn sống mãi, xuyên qua cái chết, kéo dài xuống tận cõi âm:
Trở về với mẹ ta thôi
Kẻo khi chết lại mồ côi dưới mồ
Người ta không chỉ cần tình mẹ ở dương gian mà còn cần tình mẹ ngay cả dưới cõi âm. Khó có thể viết hay hơn về cái vĩnh cửu của tình mẫu tử. Dù biết rằng mẹ vẫn còn sống mãi, ta vẫn có thể được mẹ ta chăm sóc ở thế giới bên kia, cuộc tiễn đưa mẹ mình về cõi bên kia vẫn nghẹn ngào, ngẩn ngơ, xé gan xé ruột:
Trời hôm ấy chửa hết giông
Ðất hôm ấy chẳng còn bông lúa vàng
Ðưa mẹ lần cuối qua làng
Ba hồn bảy vía con mang vào mồ
Mẹ nằm như lúc còn thơ
Mà con trước mẹ già nua thế này
Mẹ không còn nữa để gầy
Gió không còn nữa để say tóc buồn
(Trở về với mẹ ta thôi)
Tưởng như cả gió, cả tuổi xuân, cả lúa vàng đã đi theo mẹ. Nhưng mẹ vẫn còn gửi lại cái bóng hình lam lũ khổ đâu nơi trần thế:
Tôi còn nhớ hay đã quên
Áo nâu mẹ vẫn bạc bên nắng chờ
Dù con còn nhớ mẹ hay con đã quên rồi, áo mẹ vẫn bạc thêm trong mưa nắng dương gian. Dường như bóng dáng của mẹ trong tâm tưởng vẫn tiếp tục khổ đau, tiếp tục dãi dầu, tiếp tục sống cuộc đời lam lũ. Nhưng mẹ không chỉ để lại cho đời những ký ức buồn thảm, mẹ còn để lại cho dời những tiếng cười và những câu ca rất đỗi lạc quan làm thay đổi cả quê hương:
Mẹ đau vẫn giữ tíếng cưòi
Mẹ vui vẫn để một đời gió sương…
Cũng như người cha đan rổ “đập vỡ mặt trời chiều tháng Ba”, người mẹ trong thơ Bốn cũng như có phép màu:
Mẹ ra bới gió chân cầu
Tìm câu hát cũ từ lâu dập vùi (…)
Câu ca mẹ hát như đùa
Mà làm nước mặn đồng chua đổi đời
(Câu ca mẹ hát như đùa)
Mẹ bới gió chân cầu tìm câu hát cũ, đem câu ca đổi đời quê hương! Người mẹ trong thơ Bốn vừa hiện thực, vừa huyền thoại. Vậy mà trước đó, nhà thơ ước mơ giống như người nông dân mơ ước được đổi đời trong cổ tích, vẫn trong đợi vào thuyền rồng của nhà vua:
Bao giờ có chiếc thuyền rồng
Chở con với mẹ qua giông bão này
(Vỡ đê)
Thơ Ðồng Ðức Bốn đây đó vẫn lộ ra cái giằng xé giữa phép màu của bình dân và phép màu của vua quan. Nhưng những phép màu đó chẳng thể làm nhà thơ nguôi ngoai một nỗi đau khi viết về người mẹ. Nếu như tình yêu là lưỡi dao mà thi nhân chủ động cầm vào, thì tình mẹ là cái lưỡi dao nằm sâu trong tim muốn rút ra không được. Những câu thơ gan ruột của người con viết về mẹ chẳng có câu nào vui.
© 2006 talawas