trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
14.2.2006
Đỗ Minh Tuấn
Trời đưa anh đến cõi thơ
 

3. “Trời đưa anh đến cõi thơ” hay những đặc trưng thẩm mỹ riêng của thơ Ðồng Đức Bốn

Không chỉ ý thức về thể thơ riêng, Bốn có ý thức sâu sắc về cõi thơ riêng của mình. “Mỗi người có một cõi riêng“, cõi riêng của Bốn là cõi thơ nằm trong chính cõi đời thi vị và phồn thực:


Bên trời cải vẫn nở hoa

Bên sông đò vẫn năm ba bến chờ

Trời đưa anh đến cõi thơ

Nên dâu cứ biếc, nên tơ cứ tằm

(Xéo gai anh chẳng sợ đau)

Cõi thơ của Bốn là “cõi không”, “cõi vu vơ”, “cõi đi về bơ vơ”, cõi “hồn hoang cỏ dại”:


Chỉ còn tao biết đam mê

Lấy thơ làm cõi đi về bơ vơ

(…)

Tôi còn có một cõi không

Người còn có một cánh đồng cho thơ

Xin người một khúc mộng mơ

Ðể đi vào cõi vu vơ tìm mình

Trúc xinh cứ mọc đầu đình

Tôi còn nặng một một khối tình đa mang

Những câu thơ dại lang thang

Gửi người một chút hồn hoang quê mùa

(Xin người một chút mộng mơ)

Những câu thơ trên hàm chứa cả quan niệm của Bốn về giá trị thơ ca, về sự lựa chọn một vùng thẩm mỹ. Cái đẹp, cái hay, cái huyền diệu của thơ nằm trong cõi vu vơ, trong những tơ vương hoang dại nhằng nhịt trong đời gắn với những cỏ dại, hồn hoang và chuỗi ngày phiêu lãng.

Những câu thơ dại lang thang

Thơ Bốn là tiếng ca của một tâm hồn hoang dã, bơ vơ. Với Bốn sự huyền diệu của thơ là nằm trong cái bản chất của hồn hoang cỏ dại và những cây cành gần gũi nơi làng quê Hồn thơ của Bốn là thứ “hồn hoang quê mùa” là “ngọn gió hoang” thơ dại lang thang. Cái “hồn hoang quê mùa” ở đây vừa có ý nghĩa những cảm xúc chân quê, dân dã:


Hồn tôi trong đá gan gà

Là rong rêu giữa chiều tà mướt xanh

(Thương nhớ cho nhau)

Vừa có cái chất cuồng phóng, lãng du của thi nhân:


Tao như ngọn gió lang thang

Về đây hát khúc tình tang quê mùa

(Nói chuyện với những cây cỏ dại)

Lại vừa có cái tâm trạng vu vơ bạt mạng và những công việc vu vơ buông thả của kẻ thất tình, kẻ bơ vơ, mất đi những định hướng rõ ràng trong đời thực:


Xong rồi chẳng biết đi đâu

Xích lô Bà Triệu qua cầu Chương Dương

Câu thơ hay bởi cái vu vơ của hành động và mục đích. Trong thơ Ðồng Ðức Bốn có rất nhiều những câu hay bộc lộ cái tâm trạng vu vơ lửng lơ như những vật thể bay trong không gian, mất đi lực hút của những mục tiêu, kế hoạch, lý tưởng v.v., làm ta xúc động vì chính cái vu vơ, cái vô mục đích, cái chân thành của nó. Nó phát lộ một cảnh ngộ cô đơn, bị bỏ rơi, bị khoảnh khắc của các quan hệ và công việc nhất thời hất ra khỏi nó. Trong thơ Bốn có nhiều những tâm trạng và những việc làm vu vơ như thế. Nó phản ánh một tâm thế, một thân phận, một chuỗi ngày đầy bất trắc không có gì dự liệu trước, không có gì đảm bảo cho ngày mai.

Không phải ngẫu nhiên trong thơ Bốn cỏ dại xuất hiện nhiều đến thế. Ngọn cỏ trong thơ bốn là ngọn cỏ khôn, biết rung động trước vẻ đẹp của người con gái:


Khi em ở Thái Nguyên về

Cây đang sang bão lại mê nắng vàng

Dáng em thánh thót qua làng

Tóc thơm làm cỏ vội vàng lên nhanh

(Khi em ở Thái Nguyên về)

Ngọn cỏ sống hồn nhiên mãnh liệt, tưởng như sức sống của nó bất cần cái đẹp. Vậy mà trong những câu thơ trên ngọn cỏ đã cộng hưởng cộng sinh cùng cái đẹp. Ðó không phải một liên tưởng ngẫn nhiên. Ngọn cỏ là một thứ bản thể của thi nhân tự thú ám ảnh trong thơ Bốn. Cuộc đối thoại cùng cây cỏ dại của Bốn là một cuộc độc thoại, vì Bốn tìm thấy sự đồng dạng, đồng điệu giữa mình và cỏ dại trong những phẩm chất tự do, phóng khoáng, hoang dã, giang hồ:


Giang hồ ở khắp mọi nơi

Mày là cỏ dại suốt đời lang thang

Tao như một ngọn gió hoang

Về đây hát khúc tình tang quê mùa

Mày sống nhờ bởi nắng mưa

Tao sống nhờ bởi chuông chùa kêu oan

Ðất cho mày được non tươi

Ngàn năm giữ được tiếng cười nhân gian

(Nói chuyện với những cây cỏ dại)

Cỏ là phiêu du, non tươi và tràn đầy sức sống. Cỏ kết đọng trong mình những phẩm chất hoang dã của thi nhân. Hơn một lần cỏ gắn với tình yêu và nghĩa cả trong thơ Bốn:


Thân trong cỏ mộ hoàng hôn…

Cỏ xanh vì những lời yêu…

Cỏ còn kết tóc xe tơ…

Lời nói như cỏ mọc sương…

Nhìn đâu cỏ cũng như vừa mọc xanh

Cái không gian mà Bốn chọn để thưởng ngoạn hương vị chè xanh với một lạc thú thanh cao, cũng là cái không gian mênh mang cỏ biếc:


Trong tiệm pha ấm tra tiên

Ta mời ta giữa một miền cỏ non

(Anh ngồi uống cả cánh đồng heo may)

“Ta mời ta” ở đây cũng có thể hiểu là mời cỏ đấy. Cỏ là sự thăng hoa những phần tình yêu hoang dại đầy sức sống của thi nhân. Và cỏ, thay thế cả vàng bạc, kim cương, kết thành chiếc nhẫn tình yêu:


Chẳng mong mình có kim cương

Cứ đeo nhẫn cỏ đi thương thị Màu

(Tôi viết tặng tôi)

Bên trời cải vẫn nở hoa

Nếu như trong tập thơ Chăn trâu đốt lửa không gian và vạn vật còn nham nhở, rách nát và rạn vỡ, thì đến tập thơ Chuông chùa kêu trong mưa không gian luôn đầy đặn, nguyên lành và lung linh, ẩn chứa một sự tự tin, thản nhiên của thi sĩ. Không còn những rạn nứt và đổ vỡ của không gian thơ cũ, nhưng không gian thơ trong Chuông chùa kêu trong mưa là không gian đầy vật lộn và quằn quại với những giông, những bão, những mưa. Tuy nhiên, xuyên qua cái vật lộn đầy bất trắc ấy là những tình chuông chùa thanh bình, mênh mang và sâu lắng, vẫn là cái an nhiên thanh thản, tự tin, tự tại: “Bên trời cải vẫn nở hoa”.

Cây cải là thiên nhiên, là quê hương, nhưng cũng là hình ảnh người yêu. Cây cải không còn là cây cải bình thường, cánh đồng không còn là cánh đồng của nhà nông – tất cả đều sống vì tình yêu, sống cho tình yêu:


Thương mình lặn lội đường xa

Vào rừng tìm mãi một hoa cải ngồng

Thế rồi phải quay ra không

Tìm mình ở giữa cánh đồng đang mưa

Ðường đi còn những nắng trưa

Nhìn đâu cũng cỏ như vừa lên xanh

(Thương mình lặn lội đường xa)

Bây giờ đã hết mùa sen

Hương còn ở lại là em với đầm

(Mùa xuân đi phủ Tây Hồ)

Một ngày ở với con giông

Ðường đi chẳng có cầu vồng bắc qua

(Ở với mưa giông)

Hoa cải, đầm sen, cơn giông, tất cả đều là bóng dáng người yêu đấy! Trong thơ Ðồng Ðức Bốn, không chỉ thiên nhiên biến thành người yêu, mà người yêu cũng hoà lẫn vào thiên nhiên, hiện lên trên nền cảnh thiên nhiên, rạng ngời trong ánh nắng những vẻ đẹp của hương đồng gió nội:


Tóc em để xoã trên vai

Ði mưa về nắng cho ai nhớ thầm

Bây giờ mưa gió về đâu

Ðể tôi nhớ mãi một màu tóc xưa

Em ngồi chải nắng vào trưa

Trong hương bồ kết thơm vừa vừa thơm

(Mưa gió về đâu)

Vẻ đẹp thân thể của người con gái trong thơ Bốn luôn luôn thanh khiết, hoà lẫn vào cái thanh khiết của thiên nhiên. Nguyễn Du tả Kiều lúc tắm thật thanh cao và ước lệ “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà – Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên”. Bốn tả thực bộ ngực he hé của người tình thật khêu gợi, nhưng không thể nói là không tinh tế, thanh cao:


Dịu dàng một đoá sen tơ

Nửa che cho gió, nửa hờ cho trăng

Ngực em hai trái tròn căng

Nửa bàn tay tựa búp măng thẹn thò

(Mùa xuân)

Thơ Bốn là sự thăng hoa của vẻ đẹp ngàn đời của đồng quê, vừa gợi nhớ cái rặng trúc ao bèo trong Nguyễn Khuyến thuở nào lại vừa hôi hổi cái hương thơm ngai ngái của cánh đồng hôm nay. Tia nắng mảnh, giọt mưa mau, nhành hoa cải rực vàng, chùm hoa cau trắng muốt, thảm cỏ mướt xanh, con thuyền trong đêm trăng… tất cả thiên nhiên trong thơ Bốn đều thấm đượm nỗi đau kín đáo của tình yêu, nhưng đều bàng bạc một sức sống nhiệm màu làm nên một cõi thiêng, một thứ bùa mê thản nhiên và tình tứ.


Mỗi lần cây cải nở hoa

Thì tôi lại nhớ người ta chưa về

Mỗi lần cỏ dại trên đê

Chim ngói đi thả bùa mê khắp đồng

(Chuông chùa kêu trong mưa)

Bao nhiêu là thứ bùa mê

Cũng không bằng được nhà quê của mình

(Cuối cùng vãn còn dòng sông)

Trong cái thế giới của bùa mê thi vị, ngẩn ngơ và huyền diệu đó, cái yêu ghét nhớ nhung và thèm khát của người tình trong thơ Bốn đã bớt đi nhiều cái mạnh mẽ thô tháp của ngày xưa, thay vào đó là những khát vọng có tầm vũ trụ:


Tôi ngồi uống cả cánh đồng heo may

Những day dứt nợ lòng của tình yêu đã có tầm văn hoá và bao quát cả thiên nhiên:


Nợ em một khúc ca dao

Lẽ đâu lại trả tình yêu đất dày

Muôn vàn ngọn gió rung cây

Trả em trăng khuyết, mưa mây sao đành

(Nợ em)

Những mối tình thô thiển nhất cũng được Bốn nhìn bằng cái nhìn vừa châm biếm vừa bao dung từ phía thiên nhiên:


Thương nhau cho bát chào hành

Chính duyên Thị Nở, chính danh Chí Phèo

Trong lòng một chiếc trăng treo

Trong trăng hai mảnh hồn đeo lững lờ

(Ngồi nhớ Chí Phèo)

Hai con người thô tục phi thơ, thật trớ trêu, lại gắn với vầng trăng thơ mộng. Chưa có ai lột tả cái trớ trêu ấy trong truyện của Nam Cao một cách hóm hỉnh và tinh tế như Ðồng Ðức Bốn. Trăng cũng len cả vào trong tâm hồn Chí Phèo, Thị Nở nhưng trăng treo như cái rổ, cái rá vậy thôi. Và hai mảnh hồn của Thị Nở, Chí Phèo lúc yêu đương cũng có vẻ hoà nhập với trăng kia, nhưng trăng chỉ miễn cưỡng mà đeo hai cái tâm hồn nhàu nát, phi thơ ấy.

Chỉ qua mấy dòng thơ ta thấy Bốn đã thay đổi góc nhìn và thế đứng của nhà thơ. Bốn không còn đứng ở vị thế của con người trần gian dung tục để “rút trăng buộc lại con đò”, biến thiên nhiên thành một công cụ trần gian như xưa, mà đã đứng ở tầm thiên nhiên ban phát cho con người và tình yêu trần thế những chiều kích mới mênh mông và thi vị. Khi nhà thơ thấy mình ngồi “uống cả cánh đồng heo may” thì không phải anh ta muốn cánh đồng heo may trở thành một ly nước giải khát tầm thường, mà anh ta đang bộc lộ những cơn khát thi ca có tầm thiên nhiên, anh ta muốn hoà tan tình yêu và khát vọng của mình vào thiên nhiên. Hay khi nhà thơ ngồi uống trà một mình trên thảm cỏ, thì chén trà ấy đã pha cả đất trời, chén trà ấy có hương vị thanh tao bát ngát của thảm cỏ xanh kia. Hoà mình vào thiên nhiên, đứng ở tầm bao quát thiên nhiên, pha trộn vào thiên nhiên cả ký ức tình yêu và âm vang tôn giáo, cả niềm khát khao chiếm đoạt và sự thanh thản trước hư vô – đó là sự mở rộng, sự lớn lên của cõi thơ Ðồng Ðức Bốn, từ cõi gần kề xích lô, bị gậy tới cõi mênh mang giông gió, chuông chùa, từ cõi chật chội phố xá đua chen tới một cõi bùa mê thi vị, day dứt và man mác. Sự mở rộng cõi thơ của Bốn vào thiên nhiên và tôn giáo đã tạo cho thơ lục bát của Bốn có một sắc thái thẩm mỹ mới tinh tế hơn, phong phú hơn, dữ dội hơn và cũng thiền hơn.

Tôi còn có một cõi không

Không gian trong thơ Bốn là không gian của Kim Trọng trong Kiều, luôn luôn vang lên một tiếng “không”: không thấy bóng người yêu, không thấy những người thân, không thấy bóng cầu vồng, không còn dấu vết hạnh phúc ngày xưa nữa:


Giã từ câu hát người ơi

Là khi tôi thấy đất trời rỗng không

Em mang câu hát theo chồng

Thuyền tới đậu nắng trên sông gãy sào

(Câu hát theo chồng)

Bây giờ không thấy Thị Mầu

Nhưng con mất ấy còn lâu mới già

Bây giờ em đã lấy chồng

Tôi giờ về lại bến sông tìm mình

(Chuông chùa kêu trong mưa)

Tôi còn có một mùa đông

Em ở với chồng tận cuối cơn mưa

Mải mê vào cõi bơ vơ

Còn mùa đông với câu thơ thất tình

(Tận cuối cơn mưa)

Cái không gian trống trải, vắng thiếu người tình ấy được lấp đầy bằng những tiếng chuông chùa và những giọt mưa, đôi khi cả những cơn giông nữa. Nhưng mưa giông trong thơ Bốn luôn luôn là mưa bóng mây, trong mưa giông trong nước mắt tủi hờn vẫn luôn luôn có nắng. Sự pha trộn giữa chuông chùa, gió giông và mưa nắng tạo cho “cõi không”, cõi thất tình trong thơ Bốn có một một cái gì nửa thực nửa hư, vô thường, kỳ ảo:


Chuông chùa kêu mãi trong mưa

Hàng cây nắng đứng để trưa còn chiều

(Chuông chiều kêu trong mưa)

Bây giờ về lại chốn xưa

Ðường tuy có nắng nhưng mưa một mình

Chia tay một trận mưa rào

Thấy gì ở phái ngôi sao bây giờ

Bao nhiêu nước mắt đầm đìa

Thơ buồn mới dệt từ tia nắng hồng.

Lời ru vẫn có mặt trời

Sao chuông còn vọng những lời héo hon.

(Chia tay một trận mưa rào)

Vịn nắng thấy bão trên cây còn nhiều

(Hãy về đây với bến sông)

Một anh chưa kịp xuống đò

Một em đã nắng thơm cho cả chiều

(Hoang vắng)

Mùa xuân đi phủ Tây Hồ

Nắng thì mặc nắng, gió xô mặc trời

(Mùa xuân đi Phủ Tây Hồ)

Không phải ngẫu nhiên cõi thơ của Bốn là tổ hợp của “cõi không”, cõi “hồn hoang cỏ dại” và “cõi vu vơ”. Ðó chính là cõi thất tình. Cõi ấy đường đầy mưa, đầy nắng, đầy bão, đầy trăng và bạt ngàn cỏ xanh. Trong cõi ấy, cỏ cây mây nước như chết lặng đi trong một khoảnh khắc đã trở thành vĩnh cửu. Vẫn gió, vẫn cây, vẫn sông, vẫn đò, vẫn cỏ mướt xanh lù lù lặng câm trước mắt, nhưng tất cả đã trở thành tín hiệu của hư vô, cái hư vô mênh mang khi vắng thiếu ảnh hình thân thương quá khứ. Và cái huyền nhiệm, cái mong manh, cái thi vị của không gian ấy lan toả trong từng câu thơ ngẩn ngơ của Bốn, làm nên một khí vị thơ thiền. Không có cái sướt mướt của Nguyễn Bính, cũng không có cái bất cần rạch ròi khoẻ khắn của Nguyễn Duy, thơ Bốn là nhịp cầu ngơ ngẩn chông chênh nối liền nắng và mưa, nối liền quá khứ và hiện tại, nối liền cõi thực và cõi mộng.

Người yêu đã ở tận cuối cơn mưa, nhưng bóng dáng vẫn như vấn vương ở đó, nhà thơ tiếc ngẩn ngơ tình cũ nhưng vẫn lặng thầm nhấm nháp cái thi vị của xa vắng, của hư vô. Sự pha trộn giữa buồn và vui, giữa tiếc nuối và chấp nhận, giữa hiện hữu và hư vô tạo nên một chất thơ buồn man mác rất thiền trong thơ Bốn.

Các nhà thơ Thiền của Phương Ðông luôn luôn hướng tới trải nghiệm những điều kỳ diệu man mác lơ lửng bâng quơ trong trời đất. Hoa vẫn là hoa, cây vẫn là cây, nắng vẫn là nắng, mưa vẫn là mưa trong đời thực, nhưng hoa, lá nắng mưa còn toả ra một thứ ánh sáng lung linh của cõi đạo mênh mang thăm thẳm và huyền diệu. Thi nhân không đạt tới tâm thế của thiền sư hồn nhiên và khoáng đạt thì không thể nào nắm bắt và thể hiện được điều thú vị man mác, nhẹ nhàng trong trời đất. Không ít những câu thơ của Bốn đá đạt tới cái bâng khuâng man mác, cái hư vô bàng bạc của thơ Thiền.

Tiếng chuông chùa là một chiều kích mới của không gian thơ Ðồng Ðức Bốn, nó phát lộ một cảm quan mới của nhà thơ – cảm quan về tôn giáo, về vĩnh hằng, về một cõi thiêng. Từ kẻ báng bổ thánh thần, ngông ngạo với con người, nghông nghênh nơi đền đài miếu mạo trong những tập thơ trước, Ðồng Ðức Bốn đã tỏ ra thuần dưỡng được lý trí và dục vọng bằng sự khai mở nhãn quan tôn giáo. Nhãn quan ấy không chỉ giúp cho Bốn làm được cái việc đưa tình yêu vào một ngôi đền, coi người yêu như một đền thiêng, mà quan trọng hơn, đã nâng cái nhìn thơ ca lên tầm bao quát, ung dung của kẻ trải đời và biết chấp nhận đời với những đổ vỡ, bất trắc và đắng cay của nó. Khi những ngông ngạo, hiên ngang của con bạc được ăn cả ngã về không được thay thế bằng cái hồn nhiên điềm đạm và sự đón nhận bình thản những thua thiệt, đỗ vỡ và thất bại thì thơ Bốn có thêm chiều kích của sự khoan dung, siêu thoát. Con người thi sĩ không còn vẻ hung hăng, khoa trương lên gân của ngày xưa, mà đã đầy vẻ ung dung, tự tin, ngồi ngắm những mất mát của mình như ngắm hòn non bộ, vừa hồn nhiên tiếc nuối lại vừa buông bỏ cho hư vô. Thơ Bốn vì thế trở nên tĩnh hơn, sâu hơn và cũng trong sáng hơn. Có điều, Bốn lắng nghe tiếng chuông chùa âm vang trong từng chữ, từng câu, từng khoảng không gian mênh mông của làng quê không phải để đi tu, mà để tiếng chuông chùa tham dự vào tình ái như một sự pha trộn giữa tôn giáo và thế tục. Cuộc chơi tình ái và trần thế trở nên cao tay hơn và rộng mở hơn. Chàng thi sĩ si tình của ngày xưa còn nguyên đó, vẫn mãnh liệt và ngẩn ngơ như trước, nhưng giờ đây chàng đã biết thưởng ngoạn những run rẩy tâm linh để tìm kiếm trong tôn giáo và hư vô một chút bùa mê huyền diệu, một chút buồn thanh cao tê tái, một chỗ ẩn nấp để quan sát cõi đời từ trên cao.

Hoá ra, “cõi thơ”, “cõi không”, “cõi vu vơ” của Bốn không phải là cõi nào xa lạ, mà chính là cõi đời này khi được nhìn bằng con mắt của thiền sư. D.T SuZuki, một học giả nổi tiếng của Nhật người đã diễn giải cho người phương Tây hiểu tâm thức thiền đã từng viết đại ý: những bông hoa dại ngoài đồng nhỏ bé khiêm nhường và giản dị biết bao, nhưng nếu ta chăm chú nhìn vào nó ta sẽ thấy nó hiện ra lộng lẫy hơn cả vua Salomon lúc Người còn sống. Bốn đã nhìn vào con đò, dòng sông, sân đình, hàng cau, vườn cải… bằng con mắt thiền sư như thế nên những thứ gần gũi quen thuộc của đồng quê ấy đã hiện ra trong thơ Bốn lộng lẫy và huyền nhiệm như nhuốm những sắc màu kỳ ảo của cõi thiền, cõi không và cõi thơ, vừa siêu việt, vừa kỳ diệu lại vừa rất mong manh, vu vơ.

Không phải ngẫu nhiên Bốn đặt tên tập thơ mới nhất của mình là Chuông chùa kêu trong mưa. Cả thế gian trong thơ Bốn là một cõi thiền, vừa rất hồn nhiên gần gũi, lại vừa nhuốm khí vị thiền như thể tiếng chuông chùa bàng bạc lan toả khắp nơi trong không gian thấm đẫm nước mưa. Và cái giọng thơ của Bốn trong tập thơ này cũng là giọng chùa chiền kinh kệ: nửa độc thoại, nửa phán bảo, nửa tâm tình, nửa tụng kinh. Nói lan man, nghĩ lan man vu vơ, nửa triết lý, nửa lảm nhảm, nửa quan sát, nửa suy tư, nửa tỉnh, nửa say… vẫn cái phóng độ cuồng phóng, mộng du trong đời thực và trong tâm tưởng nhưng đã nhuốm khí vị của tôn giáo và ma thuật. Vì thế, rất nhiều những mệnh đề có vẻ mòn sáo như đá vàng, trầu cau, giông bão, v.v., ta vẫn thấy thấm đượm hồn hoang của ca dao và cái thăm thẳm vu vơ của những lời sấm, lời kinh. Những câu thơ triết lý đặt cạnh những câu thơ tình như những mặc khải đặt cạnh những tâm sự trần thế. Cuộc kéo co giữa Trời và Người, giữa tôn giáo và thế tục, giữa khuôn khổ lục bát và cái cuồng phóng ngang tàng của hồn thi sĩ, giữa siêu thoát và tục luỵ vẫn cứ dai dẳng triền miên trong thơ Bốn. Dường như Bốn muốn trả bút cho Trời, nhưng Trời vẫn chưa chịu giải phóng Bốn để trở thành nhà thơ hoàn toàn trần thế. Vì thế, cho đến lúc này, thơ Bốn vẫn là sự pha trộn những lời mặc khải, phán bảo và những lời tự thú, than van...

Nói Bốn là kẻ mượn bút của Trời, trước hết là nói về cái hồn ca dao thấm đẫm trong thơ Ðồng Ðức Bốn. Bốn không chỉ mượn cách nói ca dao, cách nghĩ cách cảm của ca dao mà còn như nhập vào hồn vía của ca dao để lên đồng chữ nghĩa. Nếu nói rằng, giờ đây Bốn đã muốn trả bút cho Trời để viết bằng nỗi đau và trải nghiệm của riêng mình, mà chưa trả được, thì cũng có thể nói rằng Trời vẫn còn mượn trái tim của Bốn để cất lên những tiếng nói ngàn đời thăm thẳm của nhân dân tưởng chừng đã lặn tắt trong thế giới tràn đầy tiếng kim khí, kim tiền của thời đại hôm nay.

Hà Nội, 6.2003

© 2006 talawas

 
© talawas 2026