trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
3.4.2004
Đặng Phùng Quân
Trở lại vấn đề Khai sáng của Kant
 

“Trả lời cho câu hỏi: Khai sáng là gì?” của Kant là một bài viết nhỏ (texte mineur), nói như Michel Foucault. Khác với một đoản văn tiểu thuyết, tự nó mang tính toàn diện để người ta có thể thẩm thức, lý giải, đoản văn triết lý tự nó không thể đưa ra lý giải nếu không đặt trong một toàn bộ có trình tự luận lý nhất định. Lấy một vài ví dụ tiêu biểu: Người ta không thể hiểu La différance của J. Derrida nếu không đọc nó trong một văn mạch với những tác phẩm như L’Ecriture et la Différence (Văn tự và Khu biệt), De la Grammatologie (Ngữ pháp luận). Người ta chỉ có thể hiểu bài Tựa nổi tiếng của Hegel sau khi đọc toàn bộ quyển Phänomenologie des Geistes (Hiện tượng luận về Tinh thần). Tiểu luận nói trên của Kant chỉ có thể hiểu trên cơ sở liên hệ với những tác phẩm Phê phán nổi tiếng của Kant, Der Streit der Facultäten (Xung đột của những quan năng), Ðịnh hướng trong tư duy là gì? (Was heisst: Sich im Denken orientieren?) với những trước tác khác của Kant về lịch sử và chính trị. Cho nên, nếu chỉ dựa trên một bản văn riêng rẽ mà suy luận, e nhiều khi có những võ đoán sai lạc với tư tưởng của tác giả.



Như nhan đề của tiểu luận, “Trả lời cho câu hỏi: Khai sáng là gì?” trước hết là một bản văn phê phán, mang tính bút chiến. Không hẳn chỉ vì vấn đề được nêu ra trên Nguyệt san Berlin, với khai pháo của Zoellner dưới cái tên Khai sáng/unter Namen der Aufklärung, luận vấn đề của Moses Mendelssohn, mà chính cả trào lưu lãng mạn đương thời, những tên tuổi như Humboldt, Herder, Hamann đã đặt Kant vào cuộc tranh luận mang tính chính trị, lịch sử này.

Cuộc đụng độ giữa Mendelssohn và Kant có thể kể từ năm 1763 khi họ cùng tranh luận vấn đề về bản chất của chứng cớ hiển nhiên siêu hình và một lần nữa trên vấn đề Khai sáng năm 1784. Trong tiểu luận của Mendelssohn, sự xung đột giữa triết học lý luận/Theoretische và thực tiễn/Praktische, giữa Văn hóa/Kultur và Khai sáng/Aufklärung – như ông phát biểu: Con người với tư cách là người không cần văn hóa, nhưng cần Khai sáng (der Mensch als Mensch bedarf keiner Kultur, aber er bedarf Aufklärung) – đã xác định vị thế tiêu cực mà Kant coi đó là biểu hiện của chủ nghĩa lạc thú (Eudamonismus) và trường phái Abdera (Abderitismus – thời cổ đại với Leucippe và Démocrite, thường gọi là chủ nghĩa nguyên tử/Atomismus). Kant phê phán chủ nghĩa lạc thú coi sự cân xứng giữa hai nhân tố tốt và xấu bất biến ở cùng một cá thể, còn phái Abdera trì trệ về mặt đạo lý, khi ông đem hình tượng Sisyphe lăn đá tảng ra ví với “bản chất bá láp đa đoan là cá tính loài người chúng ta: con người hối hả đi vào con đường thiện, nhưng không kiên trì ở đó; làm như sợ trói buộc vào một cứu cánh nhất định, đã đảo lộn kế hoạch tiến bộ ngõ hầu thay đổi những lạc thú, xây để rồi phá, tự đặt cho mình nỗ lực tuyệt vọng lăn tảng đá của Sisyphe lên đỉnh để rồi lại rơi trở xuống.” [1]

Đối nghịch với quan niệm của Mendelssohn trong việc nhân giả (Menschenfreund) coi nhẹ sự xung đột giữa những nguyên tắc của tôn giáo và đạo lý, Kant nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa nhân giả và lịch sử trên một quan điểm siêu quốc tính (cosmopolique). Vấn đề không phải ở chỗ giới hạn vào thân phận nhân giả, mà ở chỗ xác định quyền mang tính chất siêu quốc (Weltbürgerrecht). Ở đây Kant khẳng định quyền siêu quốc có thể thu hẹp vào những điều kiện của hiếu khách phổ biến (allgemeine Hospitalität) [2] , hiếu khách theo Kant là quyền cho một người xứ ngoài khi đến một đất nước khác không thể bị đối xử như một kẻ thù. Đó là một thứ nhân quyền, một thứ quyền tiên thiên, tối thượng của con người. Kant đã nhìn ra sự thống nhất giữa con người và nhân loại, trong quan điểm siêu quốc, có nghĩa là nhận ra chung cuộc của lịch sử như một tổng thể đạo lý và pháp lý. Nguyên tắc về tình yêu của nhân giả đã được xác định: “Châm ngôn của lòng nhân từ (Wohlwollen), tức là tình yêu thực tiễn của con người, cho mọi người là một nghĩa vụ đối với nhau, mà ngưòi ta có thể thẩm định xem có xứng đáng hay không là tùy thuộc vào luật đạo đức của sự hoàn thiện: Hãy yêu kẻ khác như yêu chính mình.”

Tại sao trong việc thảo luận vấn đề Khai sáng, Kant lại lấy hình ảnh ấu trĩ và trưởng thành đem ra so sánh, chính là trực tiếp trả lời một quan niệm Mendelssohn đã nêu ra khi ông này so sánh nhân loại ví như trẻ thơ ở chỗ này, trưởng thành ở chỗ khác, hay già nua ở đâu đó: “Nếu lấy ẩn dụ là tuổi tác thì kỳ thực, nhân loại trải qua nhiều thế kỷ đồng thời vừa là trẻ thơ, người lớn và già nua trong những hoàn cảnh, môi trường khác nhau trên thế giới.” Dưới mắt Kant, ẩn dụ kịch tính này quả thực là một tấn kịch tồi vì chính kịch cũng có một cứu cánh đạo lý, một trật tự thế giới.

Trưởng thành và ấu trĩ thể hiện ngay trong chính sự chọn lựa thái độ: ở Mendelssohn, Khai sáng là tư duy thuần lý về mọi sự của đời người tùy vào khả năng lượng định quan hệ và ảnh hưởng của chúng đối với định mệnh con người. [3] Kant cũng nhất trí với sự hiển nhiên của cách thế tư duy như vậy ngay từ lời mở đầu: “Khai sáng là lối thoát của con người ra khỏi tình trạng ấu trĩ do chính con người gánh chịu. Tình trạng ấu trĩ là không có khả năng sử dụng trí năng của mình nếu không có chỉ đạo của người khác […] Tiêu ngữ của Khai sáng là: Hãy can đảm sử dụng trí năng của chính mình.” Trong bài “Mấy lời bàn về bản văn ‘Khai sáng là gì?’ của Michel Foucault” (xin xem talawas 03.03.2004) tôi có dẫn một câu của Kant: phương châm của Khai sáng là hãy tư duy độc lập vào bất kỳ thời điểm nào, mà chính Kant đã nói rõ trong một tác phẩm lớn viết sáu năm sau: “Phương châm này là của một lý trí không bao giờ mang tính tiêu cực. Xu hướng tiêu cực và do đó tiến đến chỗ bất tự trị của lý trí, gọi là thiên kiến; cái thiên kiến lớn nhất là coi tự nhiên như không chịu đặt dưới những quy tắc mà trí năng đã cho như là cơ sở của nó nhờ vào quy luật cơ bản riêng của nó, và đó chính là dị đoan mê muội. Giai phóng khỏi mê muội dị đoan được gọi là Khai sáng. [4] Tư duy độc lập có nghĩa là tự mình suy nghĩ thoát khỏi cái mê muội không biết tự trị, tư duy tự do, giải phóng khỏi những mê vọng giáo điều, dưới ánh sáng của Khai sáng, chỉ tự bản thân đứng trước tòa án lương tri của chính mình, chỉ chấp nhận những quy luật tự nhiên và đạo lý mà lý trí ban cho, điều đó có thể gọi là những chân lý của trí năng, của tinh thần tự do như tôi đã xác định trong bài dẫn trên, lý trí phải được tự do sử dụng công cộng, trong cả hai điều kiện đạo đức và chính trị.

Đọc Kant, trong toàn bộ tư tưởng của ông, để nhận thức tư duy, không phải là một hoạt động của trí năng lý luận, mà là thực tiễn, thử nghiệm của thực tiễn tự do. Khám phá này đã có cơ sở ngay từ phần Biện chứng trong tác phẩm Phê phán lý trí thuần tuý (1781) đã là cốt lõi cho những tiểu luận như Trả lời cho câu hỏi “Khai sáng là gì?(1784)Định hướng tư duy là gì?(1786); tư duy độc lập phải chăng là “dám tiến một bước khỏi cần nhờ xe lăn (Gängelwagen)” [5] , bước đi một mình, mạo hiểm vào khoảng không, vào một lãnh vực không có quy tắc, khái niệm nào điều khiển, khống chế, hạn chế trí năng. Do đó mới đặt vấn đề: định hướng trong tư duy, nghĩa là xác định lấy phương hướng cho mình. Kant nhận định những nguyên lý khách quan của lý trí không đủ, mà cần phải có sự đồng thuận theo một nguyên lý chủ quan để đem một chân trời mới đến cho tư duy (về điểm này, tôi nghĩ khoa hiện tượng luận hiện đại khá chịu ảnh hưởng). Tư tưởng có mối tương quan với chính mình và tha nhân, nghĩa là những nguyên lý thuộc về quần chúng và có tính công chúng. Kant nói rất rõ điều này:

“Tư tưởng của chúng ta bao la và chính trực ra sao nếu chúng ta không nghĩ một cách nào đó trong mối cộng đồng với những người khác mà chúng ta truyền thông những tư tưởng của chúng ta với họ cũng như họ truyền thông những tư tưởng của họ với chúng ta” [6] .

Trong tiểu luận Khai sáng của Kant, điểm quan trọng ấy được Foucault nhận ra rất rõ là “lý trí phải được tự do trong sử dụng công cộng dưới mọi quan hệ”. Chính điều này có thể gây ngộ nhận. Cho nên tôi muốn dẫn ra ở đây cuộc tranh luận ngắn giữa hai nhà triết học người Pháp: Sylvain Zac (tác giả mấy cuốn sách viết về những triết gia Do thái như Spinoza, Maimon, Hermann Cohen) và Michel Foucault trong dịp ông này diễn thuyết tại Hội triết học Pháp năm 1978 (“Phê phán là gì?” đã dẫn trong bài trước). Zac cho rằng trong bài viết về Khai sáng, Kant đã phân biệt một cách rất quan trọng giữa sử dụng công cộng và sử dụng riêng tư; trong sử dụng công cộng, đảm lược biến mất (ông lấy thí dụ: một vị giáo sư thực thụ dạy khoa triết học ở đại học chẳng hạn có thể phát biểu công khai nhưng phải không được phê phán Kinh Thánh, trong khi ông ta có thể nói điều đó một cách riêng tư…) và Foucault đã phản bác ngay là, trái ngược lại, điều lý thú là Kant nói sử dụng công cộng lý trí phải không bị hạn chế, nghĩa là tha hồ sử dụng trong giới học giả với nhau, trên báo chí, công luận, truyền thanh, truyền hình, internet v.v. và thức tỉnh lương tâm con người. Sử dụng công cộng này không bị hạn chế; còn sử dụng riêng tư chẳng hạn như một viên chức nhà nước không thể nói với cấp trên là “tôi không vâng lời ông; lệnh của ông vô lý.” Zac nhìn nhận là không hiểu đúng ý Kant ở đây.



Lý trí phải được tự do trong sử dụng công cộng là một quyền của con người không thể bị hạn chế: nhà bác học với tư cách là nhà khoa học phải công khai diễn đạt tư tưởng và công trình của mình trước toà án lý trí, một người lãnh đạo Nhà nước nếu có khiếu thưởng ngoạn văn chương nghệ thuật, khoa học phải tạo cơ hội cho những nhà khoa học và nghệ nhân có tự do công cộng diễn đạt công trình thành quả của họ, không bị trói buộc bởi quyền lực chính trị chuyên chế, nếu quả thực họ mốn để di sản quý giá đó truyền lại đời sau, bảo đảm tự do ngôn luận, tự do diễn đạt tư tưỏng, tự do tin tưởng, không được can thiệp vào những hoạt động của đại học, hội đoàn, giáo hội, v.v.

Vậy đâu là điểm khác biệt giữa thời đại Khai sáng và tư tưởng của Kant trong việc sử dụng công cộng và tự do của lý trí? Với những nhà tư tưởng thời Khai sáng, sử dụng tự do này có nghĩa là sản sinh tự do ra một tri thức, tư duy cho chính mình, nói lên quyền tự trị của công đồng trí thức. Ở Kant, ý nghĩa sử dụng tiến xa hơn: một tri thức tự do lấy nó làm cứu cánh, không những tư duy độc lập, không phải là sản sinh tự do của một tri thức mà là một tri thức sản sinh từ tự do, mà cội nguồn tự do này chính là sử dụng tự do tư tưởng phải có tính công khai, thao tác của lý trí phải được cởi mở và được diễn đạt trước quần chúng.



Điều này chỉ có thể hiện ở một nước có dân chủ và tự do, không thể ở một xứ sở chuyên chế, không phải chỉ là một hình thái chính trị suông hay ghi thành văn trên hiến pháp của Nhà nước, mà là một sự việc công cộng cho mọi thành viên trong xã hội.

Tôi không thích lối chửi chế độ ở trong phòng the, bàn rượu mà phải là những hình thái tự do diễn đạt tư tưởng trên diễn đàn công cộng, ngoài đường phố. Điều đó đo lường sự tiến bộ hay lạc hậu của một xã hội, một đất nước.

© 2004 talawas


[1]“Geschäftige Thorheit ist der Charakter unserer Gattung: in die Bahn des Guten schnell einzutreten, aber darauf nicht zu beharren, sondern, um ja nicht an einzigen Zweck gebunden zu sein, wenn es auch nur der Abwechselung wegen geschähe, den Plan des Fortschritts umzukehren, zu bauen, um niederreissen zu können, und sich selbst die hoffnungslose Bemühung aufzulegen, den Stein des Sisyphus bergan zu wälzen, um ihn wieder zurückrollen zu lassen”. (Trong “Der Streit der Facultäten”, Zweiter Abschnitt, 3c – Konemann, Bd. 6, 1995)

[2]Vấn đề này ở thế kỷ 20 đã được Derrida bàn lại trong mấy tập sách nhỏ sau này của ông.

[3]“zum vernünftigen Nachdenken über Dinge des menslichen Lebens nach Massgebung ihrer Wichtigkkeit und ihres Einflusses in die Bestimmung des Menschen” (Trích trong “Über die Frage: Was heisst aufklären?” Ehrhard Bahr xb, Reclam, 1974)

[4]Đoạn văn này trích trong “Phê phán khả năng phán đoán” (Kritik der Urteilskraft, Erster Theil, Zweites Buch, # 40 – Konemann, Bd. 4, 1995).

[5]Dẫn trong bài “Trả lời cho câu hỏi ‘Khai sáng là gì?’ của Kant”.

[6]“Allein wie viel und mit welcher Richtigkeit würden wir wohl denken, wenn wir nicht gleichsam in Gemeinschaft mit andern, denen wir unsere und die uns ihre Gedanken mittheilen, dachten.” (Trích trong “Was heisst: Sich im Denken Orientieren?” In “Der Streit…und kleinere Abhandlungen” – Konemann, Bd 6, 1995)

 
© talawas 2026