trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
28.6.2003
Nguyễn Hoàng Đức
Trình độ phê bình múa tay trong bị người khác
 

Không có vùng đất văn học nào trên thế giới may mắn được hưởng sự mất cân đối giữa nhận thức và sáng tạo như: phê bình thì mảnh dẻ sáng tạo thì vĩ đại. Trong không khí văn học “gói dáo – bó gươm – im tiếng súng” lâu nay bỗng rộ lên loạt đại bác gầm, toàn những điểm hoả to tát, nào Về một nền lý luận, phê bình Mác xít trong thế kỷ XX của GS Phan Cự Ðệ, Phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX của Trịnh Bá Ðĩnh, Phê bình văn học chòng chành mà tiến tới của Ðỗ Lai Thuý… chẳng lẽ đây là mở màn chiến dịch đột phá khẩu không khí “bình chân như vại”, “ngậm miệng ăn tiền” để mở ra cho văn học nước nhà một trình độ mới? Nếu được như vậy thì tốt phước biết bao! Nhưng chắc hẳn không! Nền phê bình, giống nhận thức của mỗi cá nhân hay xã hội, không thể xoay sở vụt có một sớm một chiều giống chơi vé số, mà nó phải được tiến triển từng tí từng tí một, nhanh dần đều. Một kẻ đêm trước thất tình sáng hôm sau có thể bỗng chốc trở thành thi sĩ của một bài thơ dạt dào nhịp đập của con tim vật vã. Triết gia Platon nói “khi yêu ai cũng trở thành thi sĩ”, những kẻ có trái tim đang úng chìm giữa mùa si dại đều có thể hy vọng mình là tác giả bài thơ có độ dài ít nhất từ một hoàng hôn đến bình minh. Nhưng không ai có thể và không một nền văn học nào được quyền trông đợi một vụ mùa phê bình đến từ giữa hư vô. Sự hư vô này, nói chính xác, là không khí treo bút, “ngậm miệng ăn tiền”, như một nhà văn đã viết: “Một nền văn học không nói là một nền văn học câm”. Vậy chúng ta có thể hy vọng về một nền phê bình đang im hơi lặng tiếng, bỗng cất tiếng hát hay tuyệt vời, cả những bài dân ca và những bài hàn lâm, và có thể hoàn thành cả những bản giao hưởng – hợp xướng phức điệu? Không! Người Việt đã dạy “văn ôn võ luyện”. Còn các triết gia Hy Lạp từ xưa đã thiết lập: chân lý bắt rễ từ công lý; công lý được thừa nhận bởi sự công truyền giữa những nhận thức cá nhân tụ hợp lại. Tất cả qui trình đó được đặt trên hai từ Ðối Thoại. Không đối thoại, không khách thể hoá cá nhân mình thành một thông điệp để công truyền cho chân lý, sẽ chẳng có gì hết. Nếu có, thì chỉ có cảm xúc vụn vặt của mỗi cá nhân. Vậy thì nền phê bình văn học của chúng ta, lâu nay lấy “im lặng là vàng” làm phương thế cầu an, văn không ôn, võ không ra sàn đấu, thì chẳng ở trình độ cảm xúc cá nhân tủn mủn là gì? Tất nhiên, đây không phải ý kiến của riêng tôi, về mặt xã hội, đã từ lâu, giới văn bút đã phát ngôn về nền phê bình văn học như sau: ao tù nước đọng, sình lầy, gối cao ngủ kỹ, im hơi lặng tiếng, ù ù cạc cạc … Nay để tránh rơi vào võ đoán, tôi sẽ minh chứng phẩm tính còn lụt lội cảm xúc của nền phê bình đương thời. Ðây là công việc phản tỉnh để nâng cao nhận thức, làm nền móng hữu ích cho nền văn học.

Một cách chắc chắn nhất, chúng ta hãy dựa vào sự đánh giá của Hội liên hiệp văn học – nghệ thuật Việt Nam rằng, chúng ta mới chỉ có tác phẩm bé và vừa. Nhìn quả biết cây. Nhìn sáng tác để tham chiếu tầm vóc của phê bình, chúng ra không còn cách nào khác phải thừa nhận: nền phê bình của chúng ta còn rất bé. Qui mô của nó, chưa nói đến một tương xứng cho văn học cao cấp mà ngay cho nền sáng tác bé vừa của nước nhà vẫn chưa đủ. Nói có sách mách có chứng. Mấy năm qua, ào lên độc chiến diễn đàn lý luận, tiếc thay, không phải ai khác là một Trần Ðăng Khoa, một “cậu bé còi thơ” không lớn được đã nhảy ra tung hứng diễn đàn lý luận cùng những cây cao bóng cả của văn thơ. Công bằng mà nói, về hai mặt, tính vấn đề và tính thi pháp hơn hẳn những tay phê bình chuyên nghiệp. Cụ thể:

  1. Tính vấn đề: Dám xông thẳng vào bỡn cợt mổ xẻ những đại thụ (trong khi đó, các nhà phê bình khác vẫn đang rụt đầu rụt cổ đòi ve vãn mấy lời khen).
  2. Tính thi pháp: Dám định vị đặt chỗ, đặt tên tác phẩm và tác giả.

Tóm lại, Trần Ðăng Khoa, cho dù chỉ nhận mình tếu táo trong lĩnh vực phê bình đã dám làm một việc rất khoa học là: nhận thức đã không từ nan việc vận hành đến phán đoán giá trị cuối cùng.

Hoan hô chú bé thơ Trần Ðăng Khoa, vụt một cái, giống như chú khỉ Tôn Ngộ Không, nhảy lên đại náo thiên cung phê bình, giống nhiều người đánh giá làm cho chiếu phê bình đỡ ngủ gà ngủ gật.

Có lẽ, nhân chứng đã có, vật chứng đã có, nay chúng ta sẽ bàn thẳng vào lý chứng phê bình. Trong bài viết của mình, GS Phan Cự Ðệ đã nêu lên hàng loạt các tên tuổi thành tựu của nền phê bình như: “Chúng ta đã có cả một đội ngũ các nhà lý luận phê bình Mác xít có tên tuổi đầy uy tín như: Hải Triều, Ðặng Thai Mai, Hoài Thanh, Trương Chính, Hồng Chương, Hà Xuân Trường, Lê Trí Viễn, Lê Ðình Kỵ, Hà Minh Ðức, Phương Lựu, Trần Ðình Sử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông…”. Ðúng! Chỉ có điều đội ngũ phê bình đã đứng ở đâu giữa dòng xoáy văn học đương thời? Chẳng hạn, vài năm vừa qua, đội ngũ đó đã làm gì để thẩm định Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Ðêm thánh nhân của Nguyễn Ðình Chính, Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, còn hàng chục – hàng trăm măng non nổi tiếng – không dinh dưỡng thẩm giá chân thực đã không lớn nổi thành tre, thì các nhà phê bình đứng đâu và chịu trách nhiệm gì? Hơn thế, có một sự thật nhức nhối không thể nào chối nổi, là hiện nay, hầu hết hoặc tất cả các nhà phê bình đều ở vai vợ lẽ – ăn cơm nguội nằm nhà ngoài trong tất cả các kỳ thi to – nhỏ – lớn – bé. Những kỳ thi không có giải nhất … mục đích để kinh doanh nhiều hơn là phát hiện.

Các nhà phê bình đứng ở đâu trong dòng xoáy sáng tác hiện thực? Câu trả lời thật dễ dàng, chúng ta hãy nhìn, ngón tay trỏ của Ðỗ Lai Thuý: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du qua Truyện Kiều của Phan Ngọc, Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Ðình Sử… Con mắt thơ và Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực của Ðỗ Lai Thuý… Tóm lại, không phải tất cả, nhưng hầu hết, các tác giả phê bình chỉ dám chơi đồ cổ. Ðó là cách đến đình làng ăn đám, lo gì không được hưởng vinh hạnh tiệc tùng. Hoặc là cách chắp tay khấn liệm những ngôi mộ tổ tiên đã thành danh để được khen là có hiếu. Tất nhiên chúng ta vẫn biết, kẻ không ghi nhớ dĩ vãng chỉ là đứa vô ơn. Nhưng ngoài trách nhiệm ôn tập lịch sử, con người phải mang một trách nhiệm lớn hơn đó là: phải làm ra lịch sử của mình trong và giữa lòng hiện thực. Nhiệm vụ của những kiến trúc sư khi học xong, không phải chỉ để cạo rêu cho những lâu đài cổ, mà là phải biết dựng lên những ngôi nhà mới cho thời đại của mình. Vì thế, khi những kiến trúc sư bỏ lại đằng sau những nền đất mới, để lo sơn phết giá trị đã thành của những lâu đài cổ, là cách giật lùi chứ không phải tiến lên. Ðó là cách dễ dàng, ai cũng làm được, như người Việt bảo “mượn gió bẻ măng” hay “tát nước theo mưa”. Hay như cách của một nhà thơ nước ngoài nói: “Tất cả những ngôi mộ cổ sẽ đóng thuế hộ cuộc sống của chúng ta”.

Một tác phẩm hay tác giả đã thành danh, nghĩa là, giá trị đã được xác thực. Khi nhà phê bình bàn định lại, chỉ là cách tô đậm lại hàng chữ phát hiện của người đi trước. Anh hùng đã đăng quang, thì ai chẳng thể reo hò, xưng tụng, cái khó hơn nhiều, là người biết nhận ra vóc dáng anh hùng ngay từ trong áo vải – lúc hàn vi – trộn giữa muôn người. Về mặt chuyên môn, những nhà phê bình có khả năng tiếp cận thẳng vào văn bản, gọi tên, đặt tính, xác định giá trị, là những nhà chuyên môn chức năng – hành pháp, cao hơn hẳn những nhà phê bình lần theo những con đường đã nổi. Một thí dụ, không ít lần tôi ngồi trước những chuyên gia văn học kỳ cựu hàng đầu, một cách cầu thị, tôi hỏi anh cho ý kiến về một bài thơ – độ dài vừa liếc mắt đã hết, anh ta không thể đưa ra bất cứ thẩm kiến nào, chỉ bảo “hãy chờ”! Chờ gì ở đây cơ chứ? Nếu có phải chờ, chính xác ra là, chờ một bộ não đầy ắp thông tin chữ nghĩa mà chưa xẹt ra nổi một tia sáng nào cho nhận thức.

Tại sao nền phê bình của chúng ta còn bấy bớt yếu đuối đến mức chưa dám vào cuộc? Qua đời sống phê bình thực tiễn, chúng ta có thể đã có cách trả lời chắc chắn rằng: nền phê bình chưa dám lớn, chưa dám trưởng thành, chưa dám tả xung hữu đột bởi lẽ nó chưa một lần dám chui ra từ bào thai chân lý. Qua hàng loạt các bài tranh luận, thấy các tác giả chỉ chờn vờn đem những cái tên đỡ những cái tên, đem những quyển sách soi những quyển sách, và vì thiếu tư duy phán xét nên đành đem các loại chủ thuyết nào phân tâm học, cấu trúc luận, thực chứng luận… ra bày hàng, ở đó người đọc chỉ thấy nhãn và ruột thông tin mà không được thực chứng khả năng phán định của những lý thuyết đó, đặt biệt khi bàn về văn chương, gốc khởi đầu là triết học, mỹ học, thì không được bàn định. Tôi xin chứng minh.

Khởi đầu chúng ta hãy lắng nghe Hoài Thanh, một nhà phê bình tiền phong thời thơ mới vẫn đang còn sụp bóng rợp đầu những hậu bối phê bình trẻ, chưa dám khai sơn phá thạch. Hoài Thanh quan niệm: “Tìm cái đẹp trong tự nhiên là nghệ thuật”. Thật ấu trĩ và ngây ngô, bởi đó là nghệ thuật sao chép thiên nhiên của một phó nháy. Nghệ thuật ít ra là cái đẹp của tất cả từ tự nhiên đến con người và vũ trụ. Nhưng cái đẹp bởi con người cho con người, vì mọi giá trị của con người: từ hỗn loạn đến cứu rỗi, từ thân xác lầm lạc vật vã trong cõi thanh tẩy, đến tinh thần trầm lụt đòi ánh sáng cao cả… là cái đẹp của con người hơn, được đặt cao hơn trong quá trình sáng tạo lại con người sau bàn tay sáng thế của Thượng Ðế.

Bởi quan điểm “nghệ thuật phó nháy”, Hoài Thanh chủ trương: “Văn chương là văn chương… đem lại mỹ cảm cho độc giả, khiến họ quên những sự nhọc nhằn mà trong chốc lát hưởng những sự phút chốc say sưa”. Không thể nghi ngờ, các nhà mỹ học gọi đó là văn chương thù tạc, nghệ thuật thưởng thức chỉ là vật giải trí – nô bộc cho đời sống. Văn chương mà chỉ đem lại những phút chốc say sưa thì chỉ có là những bài thơ tủn mủn. Văn chương đích thực phải là những tác phẩm có gáy, đọc xong, bạn đọc như bị hút mất hồn, tâm hồn thao thức về một ý nghĩa trọng đại, trí tuệ được bổ xung thêm những kho tàng kiến thức, và những cảm xúc đã cất cánh bay đến vong thân như biểu tượng của thần Icare Hy Lạp quên đi đôi cánh gắn sáp của mình bay lên cao hướng mặt trời – sáp chảy – cánh rụng tả tơi, nhưng không hề nuối tiếc…Từ xưa đến nay, nghệ thuật chưa bao giờ có thể ra khởi lộ trình Chân – Thiện – Mỹ. Một tác phẩm lớn đích thực phải làm cho mọi người sống giữa cuộc đời chân lý – nhân ái – cao đẹp của chữ nghĩa; chứ không phải là dăm câu thơ thỏ thẻ mấy lời dễ thương, và vài dòng phê bình tán dương dễ chịu.

Ði vào phê bình, Hoài Thanh chủ trương cảm thụ “một cách hồn nhiên”. Các thành tựu khoa học thuộc các bộ môn như ngôn ngữ học, triết học, tâm lý học, sử học… không giúp ích bao nhiêu cho việc phê bình, cái đáng tin cậy nhất là ấn tượng cá nhân, năng khiếu và kinh nghiệm cá nhân của nhà phê bình. Ông viết: “Muốn bước vào thế giới như thế giới của Ðoạn Trường Tân Thanh, thái độ đúng đắn và khoa học hơn cả là bỏ hết mọi kiến thức khoa học ở ngoài cửa để đi vào với tấm lòng chân thành và thanh khiết”.

Thật là sự thụt lùi “dễ thương”. Tất cả nhận thức nhân loại đều xác nhận, con người đi từ cảm xúc đến kinh nghiệm, rồi đến nhận thức, vậy mà lại trút bỏ tất cả hành trang nhận thức nhân loại để bước vào thưởng thức thơ văn, có khác nào chỉ coi thơ văn là thứ ngoài da – thuần trực giác và xúc cảm hưởng thục? Và từ cảm xúc ban đầu muốn hành trình tiếp, nền phê bình không thể không bước tới giai đoạn nhận thức. Trong bài viết của mình, Trịnh Bá Ðĩnh đã đề cập đến tính lùng nhùng của nền phê bình khó rút chân ra khỏi đầm lầy xúc cảm, anh bàn đến “tính khoa học”, và đưa ra niềm trăn trở của một nền phê bình vẫn loay hoay, “tính khoa học của phê bình tuy nhiên hiểu và vận dụng nó ra sao mới là điều quan trọng”. Ðã sang thế kỷ XXI rồi, mà nền phê bình Việt Nam vẫn loanh quanh bàn về tính khoa học thì thật là buồn. Trước công nguyên, các nhà triết học Hy Lạp đã đặt nền móng minh định rõ ràng: nhận thức chỉ chấp nhận những gì là sự thật, và loại bỏ những gì trá nguỵ. Một đứa trẻ chẳng hạn, qua xúc giác, nhận thức của nó thâu nạp một kinh nghiệm rằng, chạm tay vào nước nóng thì bỏng, nước lạnh thì mát, để sau đó nó tránh cho tay vào nước bỏng. Vậy “khoa học tính” của mọi ngành là gì? Bởi “chân”, nhândanh cái chân, và nhắm tới cái chân, trái lại, bác bỏ những gì bởi cái giả, nhân danh cái nguỵ, để vụ cái không chân. Cũng bởi không minh định nổi cho mình một tư duy “khoa học tính” mà cuối bài của mình Trịnh Bá Ðình kết luận: “thì ở ta ba kiểu phê bình đó lại cùng tồn tại, nhiều khi cùng tồn tại trong một phong cách phê bình, một tác phẩm phê bình… kiểu này không phủ định hoàn toàn kiểu kia mà cộng sinh lồng ghép vào nhau để cùng tồn tại. Tính cộng sinh duờng như là một nét hết sức điển hình trong sự phát triển của tư tưởng, văn hoá Việt Nam”. Bravo Trịnh Bá Ðĩnh! Anh quả là một trái ngọt thực chứng không cãi vào đâu được của cây phê bình nước nhà: một không khí cộng sinh trung dung tiểu nông “tháng ba cũng ừ, tháng tư cũng gật”, “gió chiều nào che chiều ấy”, trong tay đầy túi gấm – thước đo của thiên hạ mà không dám phán đoán cả đến một bài thơ hiện thực. Một cách trung dung rõ ràng chưa được đào luyện từng trải trong lề luật của chân lý. Bởi lẽ chân lý chỉ có một. Và tất cả các cuộc tranh luận hay lý thuyết từ chối điểm hội tụ cuối cùng là phán đoán phán định giá trị, thì đều phản khoa học.

Về trình độ phê bình, cũng xin được đề cập thêm đến trường hợp của Nguyễn Bách Khoa, nếu ông chủ trương, khai thác cá tính nhà văn như nòng cốt của tác phẩm, thì vẫn ở trình độ thấp. Bởi lẽ cái cao nhất của tác phẩm là tư tưởng của nhà văn, và nhà phê bình đích thực tài ba là phải biết xông thẳng lên tầm cao đó. Cá tính dù đẹp bao nhiêu vẫn chỉ khuôn viên trong phạm vi cá nhân. Chỉ có tư tưởng của nhà văn mới là thông điệp công truyền mang ý nghĩa nhân loại.

Tại sao nền phê bình nước nhà vẫn rút rát đứng ngoài cuộc thẩm định đời sống văn chương đương đại? Chỉ có một cách trả lời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy thấm thía: “Thật thà, dũng cảm”. Nền phê bình của chúng ta không dám cất tiếng hát, vì trong miệng còn lúng búng biết bao “hột thị”, nào hột danh lợi, hột bảo toàn, hột cầu an.Trong khi đó, nhận thức cũng như đời sống chưa chuẩn bị cho mình, chân nhận thức, chân dấn thân, cũng như chân thẩm giá nên chưa dám xông trận. Ở đời, con người chân chính bao giờ cũng dũng cảm, con người giả nguỵ thì thường ba phải, uốn đường nọ, éo đường kia.

Nhà mỹ học Hegel cho rằng, một cái cột dựng nghiêng nó luôn có xu thế đổ, muốn nó vững thì người ta luôn phải dựng nó thẳng đứng. Một chiếc đũa thẳng đứng có thể đội trên đầu nó một tạ, nhưng một chiếc đũa ngả thì trọng lượng của một que diêm cũng làm nó đổ. Vậy muốn tồn tại trước đũa chẳng còn cách nào là đánh bài hoà với mọi thứ dù to hay nhỏ. Ðó là cách lý giải cho nền văn học chúng ta, những bài thơ, những tài thơ bé tí cũng nhí nhởn yên tâm vững dạ kiêu hãnh về mình, chẳng cần lo lắng đến bất kỳ sự sát hạch giá trị nào.

Trong bài của mình, Ðỗ Lai Thuý có đưa ra một loạt các anh tài phê bình và tự dẫn độ mình rằng: “Con mắt thơ và Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực của Ðỗ Lai Thuý… nhờ có phương pháp mới, tác phẩm văn học và cả bản thân nhà văn nữa với tư cách chủ thể sáng tạo được phát hiện ở những chiều kích mới, mở ra những không gian thẩm mỹ mới cho người đọc”. Trên thực tế, nhà phê bình không thể nổi danh như các nhà sáng tác, bởi lẽ sáng tác tìm cách chinh phục trái tim mọi người, còn phê bình chỉ chinh phục khối óc. Nhưng nhà phê bình có một nhiệm vụ đáng trọng là biết dùng mình – quên mình để tìm ra giá trị của người khác nhân danh chân lý. Ðằng này, Ðỗ Lại Thuý lại tìm thấy mình bằng cách vỗ ngực mình, thử hỏi như vậy đã quên mình cho chân lý chăng? Và không rõ ông có đánh bài lờ khi khuyên bạn đọc dõi theo cuốn Con mắt thơ của ông, có cả một chương về thi sĩ Bích Khê được chép “nguyên đai nguyên kiện” từ tài liệu của tác giả khác? Vậy không rõ ông có đưa ra phương pháp phê bình mới là: bệ nguyên cho tiện? Và sau đó, chẳng cần phân tích, chẳng cần sám hối, chẳng cần chỉnh lý cho tâm hồn nhẹ nhõm?

Tổng quan về trình độ phê bình của chúng ta, để kết thúc, tôi xin đưa ra nhận định của các nhà bách khoa: “Phương pháp không thể thay nổi sự cần mẫn của trí năng, cũng như khả năng nhạy cảm của óc phán đoán”. Các nhà phê bình, các giáo sư, các tiến sĩ, có thể các vị đã tích luỹ bao nhiêu bồ chữ, bao nhiêu thuyết nọ thuyết kia, chỉ có điều “vàng thử lửa”, gian nan thử sức, xin quí vị hãy kíp mang kiến thức và tài năng của mình nhập cuộc, phán định giá trị đang sống – đang thở – đang sáng tác của nền văn. Vô cùng cấp bách lắm rồi cho sự nghiệp nhân văn của dân tộc, thế kỷ XXI rồi vẫn soi nhan sắc của mình xuống dòng suối tự nhiên bản năng, mà không được soi vào tấm gương tự tạo của bàn tay con người, thì có đáng buồn không?

Học nhiều lò võ, mà chẳng dám tỉ thí lấy một lần thì có buồn không? Ðọc thiên kinh vạn quyển mà không chắt lọc nổi một quan niệm của riêng mình có đáng tin không? Nhà thơ Paul Éluard viết.

Chim không hót thì bới đất chôn
Nó đã chết bởi vì im lặng

Các nhà phê bình, và phẩm tính phê bình trong tâm hồn mỗi người sáng tác nghĩ gì, nếu quí vị cấm khẩu để bạn đọc coi rằng, ta đã chết?

© 2003 talawas

 
© talawas 2026