Nói thật đây này: bạn có phân biệt được sự khác nhau giữa tả pí lù và cái thùng nước gạo không? Nhìn bề ngoài, cả hai đều như là cái “thùng nước gạo”. Thế mà, nếu ta nhận ra được chỗ khác nhau giữa hai sự vật đó, ta sẽ có cái nhìn khác đi về lắm thứ chuyện.
Trước hết, phải nói rõ tả pí lù là gì đã.
Đây là phong tục ẩm thực của Hoa kiều mà kẻ viết bài này được biết do va chạm chung đụng ở Hà Nội từ xưa. Vào ngày Tết, người Hoa thường không bao giờ vứt bỏ các món ăn còn thừa vào thùng nước gạo. Họ cất một nơi. Đến khi ra Tết, các món dư thừa đó được đem nấu lại và bổ sung bằng cá tươi thật ngon và nhiều loại rau xanh. Thế là có được một món thập cẩm, và trong cái món tả pí lù đó có chứa một ý tưởng mới khả dĩ đủ sức làm sống lại những cái tưởng như đã chết. Cái ý tưởng mới lại chẳng mấy cao xa, chỉ là con cá mớ rau, thế nhưng nó lại quan trọng… Thế giới mới được xây bằng các vật liệu cũ của lịch sử để lại, được hà hơi một tư tưởng đẹp hơn, đúng hơn và dễ thực thi hơn. Và thoả mãn được câu hỏi muôn đời của giống người ta-là-ai.
Còn cái thùng nước gạo thì sự thể ra sao nhỉ?
Thùng nước gạo, xét theo các dấu hiệu bề ngoài, chả có gì khác với các thức đổ lộn xộn để rồi một ngày ra giếng no xôi chán chè sẽ tạo ra món tả pí lù. Chỗ khác nhau là ở cách cư xử với thùng nước gạo của con người.
Này nhé: một nhà khoa học nhặt ra một “vấn đề”, và ngồi viết những bài luận văn “bàn về”, sau đó “lại bàn về” rồi hứng chí lên sẽ “lại bàn thêm về”… rồi cũng có tranh luận tý chút cho có vẻ dân chủ, đôi bên cũng xắn tay áo lên hầm hè “bàn về cái bàn về của cái người đã bàn thêm về”…
Đây có thể là một mô thức điển hình của những công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến cái thùng nước gạo. Một ông nhặt ra miếng mỡ, thế là có hoàn cảnh lịch sử để bàn về tầm quan trọng của lipit (chú ý quan trọng: bao giờ cũng phải có tầm quan trọng, phi quan trọng bất thành nghiên cứu). Rồi vài ba bữa nữa sẽ bàn thêm về tầm quan trọng vô cùng của sự thay thế lipit động vật bằng nguồn thực vật, và ít lâu sau sẽ có người bàn tiếp về tầm quan trọng bậc nhất của việc tổ chức chăn nuôi phối kết hợp với phòng chống cháy rừng… Tiếp đó người ta còn đổ xô vào để khai thác các mặt của vấn đề, dĩ nhiên là nhân chuyện một “vấn đề miếng mỡ” do các “nhà khoa học” hẳn hoi đã “phát hiện được” từ trong “hiện thực” của thùng nước gạo. Đây là một số đề tài đủ sức thành luận văn khoa học: “Những phương diện xã hội học của mỡ – bàn về hiện tượng kẻ ăn không hết người lần chẳng ra”. “Những phát hiện lịch sử đáng suy nghĩ về mỡ từ thời nguyên thuỷ qua những khai quật ở vùng gò đồi ngập nước mặn”. “Mỡ và dáng vẻ thon thả của các siêu người mẫu trong hội nhập hiện đại”…
Toàn bộ các nhà khoa học và những người cầm gậy nhạc trưởng trước cái đám đông thành danh khoa học kia chỉ thiếu óc tưởng tượng để không nhận ra một thực tại sinh động này: các “vật liệu” làm nên thùng nước gạo kia nếu không có một bà chăn lợn tới tha đi, thì rồi một bữa đẹp trời nào đó sẽ thối rinh lên. Nguyễn Tuân sẽ dùng truyện cười để tham luận về sự thối đó. Lớp trẻ sẽ đối xử bằng cách thản nhiên đi ngang bịt mũi và không chơi. Thời hiện đại, người ta quên dần cách dùng thùng nước gạo vào chăn nuôi, vì đã có thức ăn tổng hợp quá nhanh hơi bị nhiều và cho lợi nhuận chắc chắn. Thế là sẽ có câu hỏi, đến lúc nào đó, sẽ xử lý với thùng nước gạo ra sao đây?
Bao nhiêu là tầm quan trọng, rút lại chỉ vì thiếu một hơi thở của một ý tưởng mới, mà thùng nước gạo vĩnh viễn không rụng được đuôi cái khục để tiến hoá thành người.
Đành yên lòng tự an ủi: làm người mà chi? Đó là thứ sinh vật phù hoa đầy yếu kém, dễ bị diễn biến lệch lạc, dễ bị thoái hoá, dễ mất đoàn kết, dễ nhận hối đoái. Thà cứ yên vị vai trò cũ, con người nhởn nhơ đi ngang ai thấy cũng cười, chẳng ai kêu lũ khỉ là vô đạo đức hết, có khi còn được quẳng cho vài hột lạc. Dzậy mà dzui.
1-7-2004
© 2004 talawas