trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
18.12.2006
Tạ Chí Đại Trường
Trả lời ông Đoan Hùng
 

Xin cảm ơn về những nhận xét của ông, nhất là trong câu trích ra về gốm Chu Ðậu. Tôi không phải là nhà khảo cổ học, càng không là chuyên viên về gốm nhưng có đọc sách đã viết, như người dùng một chuyên ngành khác cho việc của mình. Vì thế tôi cũng nghe nói đến cái bình gốm 1450 (hình như tác giả lỡ tay viết lộn 1540). Có lẽ vâng lời ông tôi sẽ đổi khác câu viết trên nhưng cốt cán của vấn đề là tôi không có ý cho rằng gốm Chu Ðậu chỉ là của dân Tống lưu vong. (Thời gian quá dài với chi tiết bằng cớ quá hiếm hoi để hấp tấp kết luận.) Xin đọc một câu khác của tôi: “Một dấu vết về sản xuất gốm như thế cũng thấy ở Ðại Việt tuy khuất lấp hơn vì ở đây đã có truyền thống bàn xoay, gốm sành sứ trước Trần, không đợi đến người Tống bỏ xứ lưu vong vì quân Nguyên… Khu sản xuất Chu Ðậu… được cho rằng có đời sống từ thế kỉ XIV, phát triển và tàn tạ chung một nhịp với Gò Sành, gợi ý ra một ảnh hưởng cùng thời…” (Tôi mới nhấn mạnh trong lần chép lại này.) Chính trong bài viết của ông cũng cho thấy đời sống gốm Chu Ðậu kéo dài trong khoảng của các học giả Nhật định cho gốm Gò Sành. Vấn đề cũng như nhắc chuyện Trâu Tôn, Trâu Canh không có nghĩa là trước khi có các tù hàng binh Nguyên này thì vua chúa Lí Trần lúc ốm đau chỉ vật vã nằm chờ chết. Còn ưu thế chữa trị vượt trên người đương thời của Trâu Canh trong triều Minh Tông thì rõ ràng là điều không thể chối cãi. Phải nhắc thêm những người đó là vì người ta chỉ ưa nói chuyện Tuệ Tĩnh (lại cũng không biết thế kỉ XIV hay XVII) hay Lê Hữu Trác, thời gian mà Toàn thư còn nhắc đến con cháu Trâu Canh và trong dân gian có câu chuyện sợi dây leo ở bờ ao làm “tăng cường sinh lí”. Chuyện sản phẩm Chu Ðậu đời Lê thì lại qua thật xa lúc khởi đầu nữa, của một thời thuộc Minh, lại cũng gợi ý thêm về một lớp tù hàng binh mới. Gốm là “vật câm” như tôi đã nói (cái bình 1450 kia vẫn được người ta cho là điều hãn hữu – hi hữu theo chữ dùng của ông Ðoan Hùng) nên sự suy đoán đặt vào một khung lịch sử hạn hẹp, chặt chẽ với dấu vết rời rạc, lỏng lẻo thật khó thuyết phục người. Nhất là với những người không muốn tin. Cái thành Cổ Loa còn đó! Ông Ðào Duy Anh ở vào thời kì nhiệt tình dân tộc đưa ra đầu mũi súng không nói làm gì chứ tôi chỉ bước theo, lại vào thời kì cầm passport đi ngoại quốc như đi chợ mà cũng thấy không biết đến đời kiếp nào cái thành đó được trả về chủ cũ.

Vả lại, nói đúng ra chuyện Chu Ðậu chỉ là thoảng qua của một ý định lớn hơn, tuy càng khó thuyết phục hơn, là giải thích vấn đề Chế Bồng Nga, vấn đề sự hưng khởi của vương quốc Chiêm Thành trong phần sau của thế kỉ XIV. Không có tài liệu viết tay đương thời thì dùng một phát hiện mới của khảo cổ học là gốm Gò Sành để, theo tôi, gỡ cái bí của sử học, khỏi phải “nhai lại truyền thống” chán phèo! May cho tôi là con cháu Chế Bồng Nga bây giờ không đủ sức tức giận khi tôi cho rằng đám Tống lưu vong đã tạo sự phục hồi cho cha ông họ. Viết để có việc làm cho tay chân bại xụi rảnh rang, không nghĩ rằng mình buộc được ai phải nghe theo. Cho nên, khi muốn theo kịp đời sống vài thế kỉ của gốm Gò Sành theo học giả Nhật thì phải nghĩ thêm ra chuyện con cháu các ông Tống kia (hay cả người mới tới tiếp) sẽ hành động ra sao đối với chính quyền chúa Nguyễn. Tuy có bám vào Lê Quý Ðôn nhưng lại cũng là suy đoán mỏng manh, nên thấy càng khó thuyết phục người hơn.

[Xin ông Ðoan Hùng cho chen vào để tự phản tỉnh về một sai lầm có thể xảy ra ở chỗ khác: Chắc tôi đã thuận tay gõ máy mà tiềm thức tự phụ về trí nhớ của mình nên đã cho rằng ông Vũ Ngọc Phan chê ông Chế Lan Viên “thành công sớm nên hơi dóc” – ông này viết Nhà văn hiện đại mà! Chắc ý của ông Hoài Thanh thì phải hơn, ai có sách xin kiểm tra lại giùm.]

Tiếp theo là vấn đề Lê Tắc. Còn khó để khỏi mất lòng nhau hơn, bởi vì đã thấy ông dùng các chữ “sử thần cộng sản” và “ý thức hệ quốc cộng”.

Về câu trích từ lời nói của linh mục Cao Văn Luận, không phải tôi không biết, quyển sách dịch đó qua bao nhiêu trôi nổi đang ở bên cạnh tôi đây. Việc ông nêu nó ra làm căn cứ cho lập luận chê trách sự thiên lệch (và cả sự xấu xa) của tôi càng chứng tỏ chúng ta có cách biệt khá xa về quan điểm sống, về nhận định lịch sử. Ông có thể đọc lại những dòng tôi viết về vị trí Lê Tắc trong nhà Trần Kiện nói riêng, về vị trí gia thần của nho sĩ đương thời đối với quý tộc Trần nói chung, nói chung hơn nữa về vị trí đương thời của họ Trần-làm-vua ở vùng đất họ vừa chiếm của Lí và phải chống với quân Nguyên. Không đồng ý với điều tôi nói thì thôi, tôi cũng không có ý định thuyết phục ông. Nêu bằng chứng từ ông Cao Văn Luận vẫn không thuyết phục tôi được, dù trong hàm ý ông có thể cho Cao Văn Luận là cùng “phe chính trị” với tôi – để giá trị đồng thuận của ông Cao Văn Luận với ông được cao hơn. Tôi không kê vạch ông Cao Văn Luận không phải vì không biết ông ta đã nói những gì mà chỉ giản dị vì trong khuôn khổ đang bàn, ông Cao Văn Luận không phải là đối tượng để đưa vào đối thoại. Chúng tôi được đào tạo trong một môi trường chỉ thừa nhận nói chuyện chuyên môn với chuyên viên mà thôi. Ông Cao Văn Luận là Viện trưởng Ðại học chứ không phải là sử gia, quyền chức thì có nhưng chuyên môn sử học thì không. Các sử gia cộng sản (lạ, xưng là làm cộng sản mà cứ thấy mất lòng khi người ta dùng chữ “cộng sản”, chỉ ưa dùng các chữ lộn sòng “dân chủ cộng hoà”, “dân chủ nhân dân”, “xã hội chủ nghĩa” thôi) các sử gia trong nước có thấy tôi kì kèo cũng nên lấy làm hãnh diện là mình hơn ông Cao Văn Luận (nếu không ngại bị ghép với nguỵ), vì được đối xử như chuyên viên của một ngành khoa học, như là sử gia.

Tôi thừa nhận rằng lối viết “tân hình thức” / “hậu hiện đại” của tôi dễ làm mất lòng lắm. Chỉ vì tôi nói cái phía mà người ta cất giấu để giương danh mình, nhưng phía được trình bày đó nhỏ nhoi quá, làm sao bì được với hàng hàng lớp lớp, trùng trùng điệp điệp sách vở chính thức? Những người nằm trong vòng tay quyền bính chính thống không thường được nghe lời nói trái lại, cứ tưởng là mình nắm vững chân lí đời đời, đã làm hại cho ngành khoa học mà còn có khi dựa vào thời thế lấn lướt người khác để tiến thân, dù là kiếm một chút hư danh. Cứ khen Nguyễn Huệ thống nhất đất nước – ông Nguyễn Huệ đó khoái trá thì cũng được đi – lại chửi luôn kẻ nào nói “không phải!”, bắt chúng nó đi cải tạo, về vườn đuổi gà để chỗ cho mình chiếm, đến khi nhận ra sự thật trái lại thì cứ bình tĩnh nói ngược lại, không ngượng ngùng mà có khi còn hãnh diện là biết sửa chữa sai sót nữa! Có thể nhiều cá nhân không có ý nghĩ như thế nhưng ở trong một hệ thống tự cho mình có quyền làm sai thì phải chịu chung vậy, nhất là khi mình còn đang hưởng lợi thế từ đó, cả việc lợi dụng tình thế đó. Chính cái lợi thế đương quyền đó là điều khiến sử gia trong nước phải lãnh trách nhiệm nhiều hơn đối với ngành mình nếu có người chỉ trích, lời chỉ trích càng nặng nề hơn khi lí lẽ được bảo vệ không nằm ở kiến thức mà là ở quyền lực, phối hợp với quyền lực. Thấy trận Ðống Ða vang danh quá mà sao không có tướng ở xứ mình tham gia, liền sổ toẹt Ðô đốc Long, đem ông Ðô đốc Ðông lên hàng đầu, củng cố lịch sử mới bằng cách viết sách bắt học trò tụng niệm, đưa lên từ điển bách khoa, đặt tên đường tứ phương tám hướng, ai phản bác cũng không ngăn được “bước tiến của lịch sử” – núp bóng quyền lực thành công như thế thì làm sao chỉ nghe lời năn nỉ mà sửa chữa được? Bên ngoài nước, không nên đi chỉ trích mấy cái hội nghị quyên tiền lập đền Hùng nhưng nếu thấy có ai mò mẫm mấy cái thành quả mtDNA để chứng minh sự hiện hữu của ông Lạc Long Quân và bà Âu Cơ thì không nhịn được. Còn thấy ở các trường đại học trong nước cứ dạy 18 ông vua Hùng cùng bà Thái hậu Dương Vân Nga, thì phải la to lên! Có sự nặng nhẹ trong đối xử chỉ là từ thế nặng nhẹ của thành luỹ bảo vệ phản kích – hay từ cách nhìn vào sức ỳ của bảo thủ mà thôi.

Hình như tôi đã bàn hơi xa chuyện ông Lê Tắc cụ thể, nhưng với tinh thần sử học yêu nước, bán nước thì chắc cũng không lạc đề lắm đâu.

16-12-2006

© 2006 talawas

 
© talawas 2026