trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
29.11.2003
Patrick Raszelenberg
Trả lời hai ông Tâm Nguyên và Trần Ngọc Vương
 

Bài viết của tôi (“Nguyễn Phan Thịnh và Trần Ðình Hượu: hai lối tư duy hổ thẹn hay khiến phải hổ thẹn?”) bị một số người coi là “hoàn toàn quá lời, không nên” (Tâm Nguyên).

Vâng, khi viết bài đó có lẽ tôi đã dùng một số lời thiếu chừng mực. Nếu ai đó cảm thấy bị xúc phạm thì tôi sẵn lòng xin lỗi.

Nhằm tránh các hiểu lầm có thể xuất hiện khi chuyển ngữ từ tiếng Đức sang tiếng Việt, lần này tôi viết thẳng bằng tiếng Việt. Vì “Tây ngố” học tiếng Việt vĩ đại của Nguyễn Du thì khó ăn thua, nên có thể có độc giả thấy lối viết văn của tôi ngô nghê, xin hãy lượng thứ.

Xin phép được nói cho thật rõ: Bài của tôi có hai ý chính, một là phản ảnh xu hướng lý tưởng hóa nhược điểm của mình, hai là thảo luận về phương pháp thiếu tính phê bình mà người ta nhận thấy trong các đoạn viết của Trần Đình Hượu (TĐH) do Trương Hồng Quang trích dẫn. Chưa bao giờ tôi có ý định phỉ báng một ai đó, và thực ra tôi cũng chẳng có lý do để làm như thế. Nhưng vì một số người có ấn tượng này nên tôi muốn làm rõ một vài điểm.

I.



Trước hết là những điểm có liên quan đến bài viết của ông Tâm Nguyên (TN):

1.


“…mà quả thật trong bài tập hợp ta thấy thiếu hẳn phần luận cứ khiến PR phải “tức mình” một cách hợp lý” (TN)

Vâng, tôi cũng có cơ sở lý luận của mình.

2.

“TĐH không thích lập luận, dẫn chứng nhiều…” (TN)

Đó thực ra cũng là ấn tượng của tôi.

3.

“Nguyên ủy của lý do thứ hai, tôi nghĩ, tại sao TĐH có thể đã phải viết ngắn gọn và không dẫn chứng, lập luận nhiều trong luận văn đó (và ngay cả những bài viết khác trước năm 1986 của ông) có thể là có tờ báo, cơ quan, cấp trên nào đó của ông đã ” đặt”, đã yêu cầu ông viết những nhận định của ông -như là một đúc kết những nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, và đã yêu cầu ông viết tóm gọn để cấp trên dễ đọc, dễ nhớ, hoặc để cơ quan, đoàn thể cũng dễ đọc dễ nhớ, hoặc để làm cho giáo trình cũng dễ nhớ, dễ đọc.” (TN)

Nếu như tôi hiểu đúng đoạn này thì TN coi những thiếu sót này là thiếu sót của hệ thống hành chính (“cơ quan, cấp trên nào đó của ông đã ‘đặt’, đã yêu cầu ông viết những nhận định của ông”) chứ không phải là thiếu sót của một cá nhân. Tôi không dám tin rằng người ta có thể đổ trách nhiệm về những thiếu sót trong các luận cứ của mình vào hệ thống chính trị, hành chính.

4.

“PR viết: “Những đoạn như “Sự thống nhất ở đây được thực hiện đơn giản bằng cách kết hợp tư tưởng bản địa với tư tưởng Tam giáo, Âm dương, Ngũ hành và các yếu tố khác”, đầy cám dỗ qua cung cách giãi bày thật dễ dãi và phản phân tích.” Tôi đồng ý; lý do như đã nói: thiếu dẫn chứng, luận cứ.” (TN)

Tôi tin rằng nhận xét của TN trùng với nhận xét của tôi.

5.

“Điều đáng kinh ngạc là ở đây Nho giáo được xem là “xương sống của khối liên kết đó.” Đúng hơn phải nói rằng trong số các yếu tố ấy, Nho giáo tác động mạnh nhất hoặc có tác dụng lớn nhất ở Việt Nam. Trình bày theo kiểu như thể những yếu tố khác chỉ hình thành và phát triển quanh cái lõi Nho giáo là không chính xác.” Ở đây, nói như PR cũng đúng hơn TĐH, Nho giáo chỉ cho tới cuối thế kỷ 11 và đầu tk12, khi Lý Thánh Tông cho lập Văn miếu và Nhân Tông cho mở khoa thi Minh kinh đầu tiên, lúc đó Nho giáo mới được “chính thức” trở thành “một trong những chương trình giáo dục” được học tập, giảng dạy “Khổng học” bên cạnh những “đề mục giáo dục”, những “gia huấn” của đình chùa, gia đình, thành ra không thể bảo Nho giáo là “xuơng sống cuả khoái liên kết” đó, ít nhất là từ cuối đời Trần về trước, khi Phật giáo còn ảnh hưởng rất lớn từ cung đình ra tới làng xã, mà Trần Quốc Vượng gọi là thời kỳ “quân chủ Phật giáo” [1] , rõ nét hơn từ 3 triều Tiền Lê-Lý-Trần. (TN)

Trong trường hợp tôi không đọc nhầm thì ông TN tán thành cách đánh giá về Nho giáo của tôi hơn (“Ở đây, nói như PR cũng đúng hơn TĐH“).

6.

Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật. Ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo, hoặc là một trường phái triết học, một ngành khoa học, một nền âm nhạc, hội hoạ… phát triển rất cao ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hoá thành đặc sắc văn hoá của dân tộc đó. Ở ta thần thoại không phong phú, hay là có nhưng một thời gian nào đó đã mất hứng thú lưu truyền? Tôn giáo hay triết học cũng đều không phát triển. Người Việt Nam không có tâm lý kiền thành, cuồng tín tôn giáo, mà cũng không say mê tranh biện triết học. Các tôn giáo đều có mặt, nhưng thường là biến thành một lối thờ cúng, ít ai quan tâm đến giáo lí. Không có một ngành khoa học, kĩ thuật, giả khoa học nào phát triển đến thành có truyền thoáng. Âm nhạc, hội họa, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kĩ. Trong các ngành nghệ thuật, cái phát triển nhất là thơ ca. Hầu như người nào cũng có thể, cũng có dịp làm dăm ba câu thơ. Nhưng số nhà thơ để lại nhiều tác phẩm thì lại không có. Xã hội có trọng văn chương, nhưng cũng chưa bao giờ tôn ai là thi bá, và bản thân các nhà thơ cũng không ai nghĩ cuộc đời, sự nghiệp của mình là ở thi ca. Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, một ngành văn hoá nào đó trở thành đài danh dự, thu hút, quy tụ cả nền văn hoá.”

Tôi không thấy có gì có thể “kêu lên” là TĐH viết nhập nhập nhằng nhằng ở đoạn văn này.” (TN)

Tuy nhiên tôi cho rằng là có. Cả đoạn trích của TĐH là một khối rất nhiều thành kiến về người Việt. Tôi nghĩ rằng mỗi độc giả đều có thể tự suy ngẫm xem những khẳng định này của TĐH có đóng góp vào hiểu biết chung về người Việt hay không.

7.

“Cách xử lý vấn đề hiện đại hoá cũng khiến ta phải kinh ngạc tương tự: ‘Ta nên phát huy khả năng truyền thống du nhập và linh hoạt ứng dụng để nhanh chóng có cái hiện đại, hay tìm tòi từ đặc sắc dân tộc cái của mình?’ Vấn đề đặt ra như thế là sai vì nó chẳng nêu lên một mâu thuẫn cho phép chọn lựa chỉ cách này hoặc chỉ cách kia. Truyền thống du nhập và ứng dụng linh hoạt, cứ theo ông Hượu thì đã có sẵn trong những đặc sắc dân tộc rồi (xem đoạn 9 của bài). Vì thế mà chúng ta nên xem xét tại sao ở đây lại có lập luận rằng đó là một mâu thuẫn. Rõ ràng là người ta gán tính bất biến nào đó và hành vi chống chọi cải đổi vào những yếu tố được gắn chặt với “đặc sắc dân tộc”.

“Ở đây tôi đồng ý với PR.” (TN)

Tôi cũng chỉ có thể đồng ý với TN bởi vì theo ông TĐH, người ta phải lựa chọn giữa hai điều mâu thuẫn với nhau, trong khi đó theo tôi, hai điểm này không hề mâu thuẫn.

8.

“Hiểu đặc sắc văn hoá dân tộc còn là giải phóng cho sức sáng tạo, nói đúng hơn là tìm phương thức vun xới cho sức sáng tạo. Trong nền văn hoá cũ, sức sáng tạo của ta không khỏi có khuynh hướng tiểu kĩ, ứng dụng, thiếu những sáng tạo lớn. Ðó là con đẻ của tinh thần thiết thực.” Giả như đó thực sự là con đẻ của tinh thần thiết thực thì hẳn không phải cái “nền văn hoá cũ” của Hượu. Ta cũng nên để ý rằng tinh thần sáng tạo – Hượu thì nói tới “sức sáng tạo” – xưa kia lẫn ngày nay đều không được khuyến khích. Luận cứ thường được đưa ra rằng đó là vì những điều kiện sống (như nghèo đói, sự tập trung vào cái chính, đấu tranh để tồn tại vv.) khiến phải thế và không để sức sáng tạo bung ra và khai triển từ quần chúng – và nếu có như thế đi nữa, thì lại bị tướt đi, tách rời khỏi quần chúng, đẩy ra nước ngoài để mà họ có thể tìm thấy ‚những điều kiện thích ứng’ ở nơi khác và tận dụng chúng – luận cứ ấy chỉ là một lối nói quanh, vì việc này không liên quan gì nhiều đến việc nọ. Chính lập luận của Hượu chỉ ra cho ta thấy một điểm vốn

thường bị che lấp và lại càng hiếm khi được đưa ra làm đề tài, đấy là: sáng tạo chỉ có thể tự phát triển trong tự do và khi không chịu sự ràng buộc nào. Và một khi được thế, cuộc tìm kiếm nhận thức mới tất nhiên có thể dẫn đến những hình thức cùng cực đòi hỏi phải tập trung triệt để vào việc đang làm và xem mọi thứ khác là không đáng. Sự kiện này thì lại khiến phải có nhiều thay đổi trong những điều kiện sống, và một vấn đề thường hay bị lờ đi có thể là như thế này: ngay chính lúc đó, cái sức ép tập thể khổng lồ của xã hội Việt Nam mới lộ rõ: Những thay đổi điều kiện sống, tập quán, điều kiện lao động vv., một khi ‚trật luồng’, sẽ bị xem là ‚lập dị’ và sẽ bị ứng xử tương xứng (nghĩa là chẳng có ‘thông cảm’ gì cả), điều này tương đối dễ làm cho cá nhân bị mất đi một phần đời sống xã hội của mình”



“Ở đoạn này tôi thấy TĐH quả là có “lù mù” (phần lớn cũng vì cái kiểu nói “ngắn gọn rồi thôi” của ông. Thế nào là “Hiểu đặc sắc văn hoá dân tộc còn là giải phóng cho sức sáng tạo, nói đúng hơn là tìm phương thức vun xới cho sức sáng tạo”? Phải nói cho thật rõ ràng ra.” (TN)

Đó cũng là ấn tượng tôi có khi viết bài. TĐH diễn đạt ý của mình không rõ ràng, mạch lạc. Nhiều câu của ông vô vị, rỗng nghĩa.

9.

“Muốn giải thích sao thì cứ tùy thích, rằng đó là sự tồn đọng “đáng trách, đáng ghét” của tinh thần từ chương, học thuộc lòng cái ngắn gọn của nhà Nho, hay “con đẻ của tinh thần thiết thực”, hay ấn tích của tinh thần tiểu kỹ, ứng dụng, hay sự hài lòng dễ dãi với các chuẩn độ, nhưng đó là một điểm tế nhị trong hoàn cảnh thực tế của vấn đề giáo dục tại Việt Nam, mà giáo dục lại ở bậc thang cao trong các giá trị văn hóa.” (TN)

Chính thực tế này là điều tôi muốn nói. Về đánh giá của TN, tôi chỉ có thể nói rằng tôi cảm thấy như được gãi đúng vào chỗ ngứa.

10.

“Cả đoạn nhận định trên của PR: “Giả như…đời sống xã hội của mình” tôi thấy có những phần hợp lý, thí dụ sáng tạo chỉ có thể tự phát triển trong tự do, riêng phần: Giả như đó thực sự là con đẻ của tinh thần thiết thực thì hẳn không phải do cái “nền văn hoá cũ” của Hượu. , nếu PR nói hẳn không phải do cái “nền văn hóa cũ” thì PR cho đó là do cái gì?” (TN)

Theo tôi, “tinh thần thiết thực” là một hiện tượng mang tính chất tập thể, song “nền văn hoá cũ” là một điều khả biến. Hai điều này về mặt thực chất không liên quan gì đến nhau. Có lẽ tôi đã nói không đủ chính xác ở phần này. Câu “Giả như đó thực sự là con đẻ của tinh thần thiết thực thì hẳn không phải do cái “nền văn hoá cũ” của Hượu” chỉ xác định rằng: một điều dựa vào một hiện tượng mang tính chất tập thể không nhất thiết gắn bó với “nền văn hoá cũ“. Trong trường hợp TĐH cho rằng có những điều gì đó thuộc “tinh thần thiết thực” thì chúng cũng có thể tồn tại được trong một “nền văn hoá mới“.

11.

“Như đã nói, tôi cũng rất đồng ý với ông PR là trong “bài tập hợp” do THQ làm, những nhận định của TDH gần như thiếu hẳn phần lập luận, dẫn chứng, nhưng trong bài thứ hai tôi đọc thì vẫn có.” (TN)

Trong khi viết bài, tôi luôn bám vào các ví dụ cụ thể. Độc giả có thể tự đánh giá rằng căn cứ vào những dòng được trích dẫn liệu anh ta có cần đọc tất cả các tác phẩm của TĐH hay không.

II.



Còn về bài của Trần Ngọc Vương:

Đó là một ví dụ sống động của tục ngữ “hú thế nào vang thế ấy”. Trước hết, xin nhắc độc giả đến câu vừa trích của Tâm Nguyên, “tôi cũng rất đồng ý với ông PR là trong “bài tập hợp” do THQ làm, những nhận định của TĐH gần như thiếu hẳn phần lập luận, dẫn chứng“. Như vậy, việc “thiếu hẳn phần luận cứ khiến PR phải “tức mình” một cách hợp lý” (Tâm Nguyên) có vẻ như được một số người công nhận nhưng không phải là tất cả, và chắc chắn trong số đó không có Trần Ngọc Vương.

Ông Vương cho biết, “tôi là học trò của thầy Trần Ðình Hượu“. Xu hướng chung của bài là để bảo vệ thầy, và không phải vì thầy đúng mà chỉ vì thầy là thầy. Tôi thấy thái độ đó cũng có thể hiểu được, mặc dầu nó chứa một nhược điểm lớn là bảo vệ chỉ để bảo vệ mà thôi. Theo tôi, cách bảo vệ hữu hiệu nhất cho thầy mình là với tinh thần phê bình chứ không phải sùng bái một cách mù quáng như kẻ dễ bị nhồi sọ.

Khi xác định rằng mình là “một trong số những học trò thân thiết nhất” của TĐH, ông Vương dựng nên một cơ sở luân lý bao chứa một đức hạnh cao siêu không ai có thể cãi lại, vì ông tự cho mình là biết, hiểu và thông suốt cách suy nghĩ của TĐH hơn mọi người. Thái độ này cho phép ông không cần lập luận nhiều mà tự dành cho mình quyền bôi nhọ thanh danh, chế nhạo và xúc phạm bất cứ ai dám nghi vấn sự hợp lý các câu nói của thầy.

Bản thân tôi cũng không khỏi bị mắc bệnh này khi thấy ông Vương ám chỉ việc tôi đã gây sự gì đó với GS Phan Huy Lê. Trong tất cả những người tôi từng gặp ở Việt Nam, không một ai đã giúp tôi hiểu bối cảnh Việt Nam hơn GS Phan Huy Lê. Từ việc tạo điều kiện học tuyệt vời, hết lòng giúp đỡ tôi khi cần thiết – chẳng hạn ông đã tìm giúp tôi một thầy dạy chữ Nho là một GS về hưu của ĐHTH cũ – cho đến cách đối xử luôn luôn lịch thiệp và rộng lượng, GS Phan Huy Lê đã đóng vai trò mở cửa vào kho tàng văn hoá Việt Nam cho tôi. Nhận được một sự ưu ái giúp đỡ lớn đến như vậy, cho đến chót đời tôi không thể chấp nhận rằng tôi sẽ là người muốn gây sự gì với ông Lê. Nhưng khác với Trần Ngọc Vương, tôi không sẵn sàng phản ứng như bị nhện độc cắn và chạy đi chạy lại trong nỗi cuồng nộ chỉ vì thấy rằng có người giữ ý kiến khác với mình và thầy của mình. Một bậc thầy như Phan Huy Lê không cần đến những học trò mù quáng, quá giận mà quên hết lập luận, và chỉ có cách bảo vệ thầy duy nhất là phô trương thanh thế rằng mình là “một trong số những học trò thân thiết nhất“. Cái mà tôi đã nhắc đến, liên quan đến GS Phan Huy Lê, chỉ là một xu hướng chính trị chung mà ở thời đó không ai tránh khỏi bị ảnh hưởng, là sự nỗ lực tập thể trong khoa học do phấn khích chính trị (“những cố gắng tập thể hoàn thành bộ sách “Hùng Vương dựng nước” (Hà Nội, 1972) có một mục đích là dựa trên những hiện vật tìm thấy qua khảo cổ làm các vị vua Hùng có vẻ như là những nhân vật có thật. Đây là một qui định của nhiệm vụ chính trị mà không ai trong số người liên hệ có thể tránh khỏi“). Xin lỗi ông Vương, đó là một câu miêu tả chứ không phải đánh giá. Điều mà GS Phan Huy Lê đã nói chẳng phải là cái gì đáng trách và tôi cũng ngạc nhiên là người ta có thể cảm thấy như vậy – nó chỉ là một chân lý hiển nhiên mà các nhà nghiên cứu đã biết từ lâu, rằng thời đó chủ trương chính trị đã khuyến khích một số công trình như vậy và đòi hỏi ở chúng một số kết quả nhất định. Và xin nói thẳng cho ông Vương hiểu, sự khuyến khích đó hoàn toàn hợp lý về mặt chính trị. Việc nó dẫn đến một số công trình khoa học đáng xét lại chưa hề có nghĩa là người ta không thể nhận thức được giá trị chính trị của nó, và bất cứ ai nghiên cứu về Việt Nam cũng biết rằng thời đó có những vấn đề quan trọng hơn các công trình khoa học mà tính chất của chúng có thể đi ngược lại với xu hướng chính trị chung, vì thời đó miền Bắc đang đấu tranh cho sự thống nhất đất nước.

Xin phép nhắc lại: điều mà Phan Huy Lê đã nói chẳng phải là cái gì đáng trách. Nhận xét của ông Vương: nó “có thể đánh đổ hoàn toàn nhân cách và sự nghiệp khoa học của một người“, là một nhận xét hoàn toàn sai từ đầu đến cuối. Như ông Vương nói, “GS Phan Huy Lê là người cẩn thận, chín chắn, điềm đạm và mô phạm“. Tôi không quen biết ai dám nghi ngờ điều đó, và chính tôi cũng chưa bao giờ nghi ngờ điều đó. Tôi chỉ miêu tả hoàn cảnh chính trị ở một thời điểm nhất định đã dẫn đến một số công trình khoa học đáng xét lại. Như đã nêu ở trên, sự khuyến khích đó hoàn toàn hợp lý về mặt chính trị, cho nên cá nhân GS Phan Huy Lê có gì đáng trách đâu. Tôi thật kinh ngạc rằng có người dám lý giải như ông Vương.

Trong đoạn:

“miệt thị luôn cả “những việc làm ấu trĩ của chính phủ Trung Quốc” và giới sử gia Trung Quốc. Tất cả họ, theo PR, đều can tội “lý tưởng hoá nhược điểm của mình“, đều “muốn đẩy lùi thời điểm bắt đầu lịch sử của dân tộc hoặc của quốc gia, nhà nước, bắt nguồn từ một khái niệm lịch sử không rõ ràng và một khái niệm văn hoá tạp nham

ông Vương mắc một sai lầm nghiêm trọng khi cho rằng tôi đã đánh đồng họ. Tôi không hề nói rằng tất cả họ đều như thế. Có vẻ như ông Vương cũng say mê vỡ đũa cả nắm.

Ý chính của tôi là miêu tả một xu hướng chung là lý tưởng hóa nhược điểm của mình và xác định rằng xu hướng đó có phần phi lý. Xu hướng đó rất phổ biến ở Việt Nam và bản thân ông Vương cũng thừa nhận điều đó khi nói rằng nó là một “căn bệnh tự hào theo cách vô lối, lắm lúc lố bịch về những giá trị ảo của quá khứ, mà nhiều người cầm bút hay người có trách nhiệm phát ngôn nhân danh dân tộc ở Việt Nam từng và vẫn đang mắc phải“. Giống ông Vương, tôi cũng chỉ nghi vấn sự hợp lý của xu hướng đó. Ví dụ: Khi nhắc đến QĐNDVN, tôi đã đặt một câu hỏi chê bài khái niệm sáng tạo của TĐH vì ông Hượu nhấn mạnh rằng sự sáng tạo cũng nên bổ ích. Lập luận như thế (theo kiểu TĐH) thì cũng dẫn đến những câu hỏi vô lý như tại sao “Việt Nam đã không tự chế tạo cho mình từng chiếc xe tăng, từng khẩu súng tự động….”. Đặt câu hỏi như thế tất nhiên là vô lý, vì không tự chế tạo chiếc xe tăng nào mà cứ vẫn thắng Mỹ! Chính vì thế tôi viết rằng “tôi còn nghĩ ra được thêm một ý khiêu khích”, vì đó là câu hỏi khiêu khích để người ta phải suy nghĩ lại và nghi vấn khái niệm sáng tạo lỗi thời của TĐH.

Theo tôi, bài của ông Vương có hai điểm yếu là ra sức bảo vệ thầy và không chấp nhận người có tư tưởng khác mình (và thầy mình). Ông không chịu lập luận, đưa ra luận cứ – ngược lại, phần lớn của bài Kẻ đốt đền chỉ bận tâm xả nỗi tức giận của mình vào mặt bất cứ ai đã dám nghi vấn một số luận điểm (chứ không phải tất cả) của thầy mình. Ông thậm chí không ngại tung ra cả một hệ thuật ngữ riêng trong tinh thần một tuyên huấn viên đang hăng hái tham dự một chiến dịch đáng nghi để thanh trừng kẻ giữ ý kiến khác.

Trong lý luận cụ thể, ông phạm phải một khuyết điểm lớn là chưa quen tranh luận với những người có ý kiến khác. Trong khi đó, tôi công nhận và chấp nhận rằng ông Vương có một số ý kiến đối lập với nhận định của tôi mà về mặt nguyên tắc chúng cũng có khả năng thuyết phục, mặc dầu cách bảo vệ thầy của ông hơi để tình cảm chi phối vì ông cảm thấy bị tôi xúc phạm. Như đã nói ở trên, cảm giác đó cũng có phần hợp lý vì tôi đã dùng một số lời thiếu chừng mực.

Riêng về việc chấp nhận những ý kiến khác, tôi cho rằng ông không thể đòi hỏi tất cả mọi người phải tôn sùng thầy của ông hay giữ những kiến về thầy của ông gần giống ông.

Khi phê bình những việc làm ấu trĩ của chính phủ Trung Quốc, tôi đã nhận định trong một ngữ cảnh nêu rõ tính ấu trĩ đó. Thế mà ông Vương lại kêu rằng tôi “miệt thị luôn cả “những việc làm ấu trĩ của chính phủ Trung Quốc”, giống như ông đòi người ta phải một lòng kính nể thể chế của một chính phủ chỉ cách đây 24 năm đã xâm lược quê hương của ông. Chính phủ đó có chính sách nào mà tôi thấy là ấu trĩ thì tôi sẽ nói. Không ai có quyền bắt tôi phải im mồm trước những thái độ cực kỳ ấu trĩ của chính phủ Trung Quốc đối với quá khứ của chính nhân dân Trung Quốc, mà bản thân ông Vương cũng thừa nhận rằng có một “căn bệnh tự hào theo cách vô lối, lắm lúc lố bịch về những giá trị ảo của quá khứ” (dầu là ở Việt Nam). Căn bệnh này ở nước nào cũng có. Như ông Vương đã nhận xét, nó “xuất phát từ một mong muốn lành mạnh“. Lại xin lỗi ông, tôi lớn lên trong một đất nước cực giàu truyền thống đáng ghét này, vậy tôi cũng phải biết phê bình hiện tượng đó, dầu là ở nước tôi hay ở Trung Quốc. Nhưng cách phê bình đó phải hợp lý và dựa vào luận cứ cụ thể. Khi tôi viết bài tôi cũng cố gắng đưa ra những luận cứ cụ thể.

Tôi thấy ông Vương cũng có lý khi nói rằng “thảng hoặc, có những câu do lược thuật đơn giản hoá nên một số sắc thái bổ túc bị cắt giảm, nói một cách nghiêm khắc thì những câu như vậy dễ bị hiểu lệch nghĩa“. Như vậy, ông lấy ấn tượng từ bài viết của tôi rằng thầy mình (TĐH) đã bị hiểu sai. Tất nhiên tôi cũng sẵn lòng công nhận khả năng đó, rằng tôi đã hiểu lệch ý của TĐH. Nhà khoa học nào cũng phải sẵn lòng công nhận khả năng đó. Đối với tôi, có được người chứng minh rằng tôi nhầm chỉ là một sự làm giầu nhận thức. Nhưng tôi không thấy ông Vương chứng minh gì cả, thậm chí không cố gắng thuyết phục rằng tôi đã nhầm. Ngược lại, ông chỉ liệt tôi vào một truyền thống nghiên cứu mà bản thân tôi cũng ghét nồng nàn: truyền thống tân thuộc địa, một trường phái đáng trừ bỏ, chỉ coi Việt Nam như một con vật hiếm trong Thủ Lệ để người Âu-Mỹ nhìn chằm chằm và lấy làm lạ. Theo tôi, chẳng có cái gì khả ố hơn trường phái đó và nó xứng đáng bị chống lại bằng mọi giá. (Ngay cả ở nước tôi cũng từng có nhiều người mà lúc miền Bắc còn đấu tranh cho thống nhất đất nuớc đã coi việc chống lại cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam là một phương tiện tiện nghi để chống Mỹ cho đến người Việt Nam cuối cùng.)

Nếu tôi đọc đúng, ông Vương cũng đồng ý với tôi ở một điểm là “PR ít nhiều có lý khi nhận xét rằng ở Việt Nam rất sính: biện hộ, hay thậm chí lý tưởng hoá nhược điểm nào đó của mình, đúng hơn, của lịch sử dân tộc mình“. Ông cho rằng tôi trách cứ TĐH điều đó một cách không công bằng. Quả thật tôi thấy TĐH phạm khuyết điểm này, nhưng như vậy chưa hề có nghĩa là tôi không sẵn lòng chấp nhận một người biết về TĐH hơn tôi có thể thuyết phục rằng tôi đã đánh giá nhầm ông Hượu ở chỗ đó. Điểm này, cùng với một số lời hơi quá của tôi, đã khiến ông Vương phải đứng ra bảo vệ thầy. Nhưng điều đó chưa cho phép lập luận kì quặc rằng tôi không thể trích dẫn John Whitmore hay Alexander Woodside chỉ vì họ ” đang làm việc ở Âu Mỹ” (TNV), hay cho phép gọi người có quan điểm khác là “gã học phiệt thực dân“. Chính biểu hiện đó cũng khiến tôi phải nghĩ đến tục ngữ “hú thế nào, vang thế ấy”.

Cuối cùng, xin phép trích thêm một đoạn của ông Vương để độc giả hiểu thái độ của ông:

“Tham gia trao đổi “vụ”này, Tâm Nguyên lại tỏ ra võ đoán và suy diễn (không thể nói khác) vì tác giả này cũng tự bộc lộ là chưa đọc gì nhiều các văn bản gốc, cũng không biết về cách viết của GS Trần Ðình Hượu; và cùng với PR, Tâm Nguyên coi rằng chỉ có một lối viết duy nhất “đáng mặt” khoa học là “nói có sách mách có chứng“, là phải trích dẫn, phải chú thích, phải tường giải cặn kẽ mọi điều. Khoa học phải dựa trên nền tảng thực chứng, chuyện ấy ít gây bàn cãi, nhưng các loại văn bản đáng đọc và có khả năng truyền đạt chân lý, gây sức thuyết phục, tạo cảm hứng… đâu có nhất thiết chỉ theo có mỗi một lối trình bày ấy ? Mà ngay cả khoa học thuần tuý nữa, cơ man là công trình không cần chú giải, dẫn dụ, không cần thao tác chẻ sợi tóc làm tư! Ở một tác giả cụ thể, tuỳ theo yêu cầu, tuỳ theo hoàn cảnh, tuỳ theo mục đích, tuỳ cá tính nữa, vẫn có thể tồn tại nhiều phong cách diễn đạt khác nhau. Trần Ðình Hượu cũng đa phong cách như thế” (TNV)

Chỉ riêng câu “Mà ngay cả khoa học thuần tuý nữa, cơ man là công trình không cần chú giải, dẫn dụ, không cần thao tác chẻ sợi tóc làm tư!” đã tiết lộ một thái độ phi khoa học mà tôi từng phê phán ở TĐH. Có vẻ như một số học trò của TĐH vẫn tiếp tục trung thành với một vài nhược điểm của thầy. Ước gì TĐH cũng có một số học trò không say mê bao biện cho một thái độ phi lý như thế.

© 2003 talawas


[1]Trần Quốc Vượng, Văn Hóa Việt Nam-Tìm Tòi và Suy Gẫm (Hà nội, 2000), tr. 795.

 
© talawas 2026