trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
31.1.2005
Dũng Vũ
Trả lời chị Tường Vân
 

Ðọc xong lá thư của chị Tường Vân trong mục Ý kiến bạn đọc talawas, tôi cảm thấy lá thư tuy ngắn, nhưng có nhiều điều đáng suy nghĩ. Thế nhưng trước nhất, tôi xin được phép trả lời câu hỏi của chị.

Như tôi đã nói: từ ghép đôi có bổ ngữ trong tiếng Việt bao giờ cũng theo hệ thống: bổ ngữ nằm bên phải từ được bổ nghĩa… Tiếng Hoa ngược lại, bổ ngữ nằm bên trái. Và dĩ nhiên người Hoa chỉ dùng toàn tiếng Hán.

Ðừng để ý đến những khái niệm như Hán-Việt, thuần Việt, … chi cho rắc rối, cứ nhớ rằng, muốn tạo “từ ghép đôi có bổ ngữ” kiểu Việt, ta theo nguyên tắc “chính trước, phụ sau”, tức từ chính đi trước, từ phụ đi sau; bất kể dùng toàn từ Việt, hay nửa Hán nửa Việt, hay toàn Hán. Ví dụ:

Từ chính Từ phụ (bổ ngữ)

bổ nghĩa cho từ chính
Từ ghép đôi có bổ ngữ
điểm (Hán)

tình (Hán)
yếu (Việt)

người (Việt)
điểm yếu

tình người
mùi (Việt)

năm (Việt)
thơm (Việt)

mới (Việt)
mùi thơm

năm mới
người (Việt)

người (Việt)
tình (Hán)

Hoa (Hán)
người tình

người Hoa
bộ (Hán)

viện (Hán)
ngoại giao (Hán)

bảo tàng (Hán)
bộ ngoại giao

viện bảo tàng

Cũng như đã nói, ở trường hợp này, trật tự của hệ thống tạo từ theo kiểu Việt hoàn toàn ngược lại hệ thống tạo từ theo kiểu Hoa. Ví dụ: Người Việt nói “viện bảo tàng”, người Hoa nói “bảo tàng viện”. “Bảo tàng” trong cả hai ngôn ngữ Việt/Hoa đều là bổ ngữ, có chức năng bổ nghĩa cho “viện”, chỉ khác là trong tiếng Việt “bảo tàng” nằm bên phải “viện”, còn trong tiếng Hoa thì nằm bên trái. Không nên lẫn lộn trật tự này, chứ không, rất dễ gặp vấn đề. Ví dụ: “điểm yếu” là một từ ghép theo kiểu Việt, “điểm” là từ chính được “yếu” bổ nghĩa. “Yếu” ở đây là từ Việt, có nghĩa là yếu kém, trái với nghĩa “mạnh”. Ý nghĩa của “điểm yếu” (từ Việt) tương đương với “nhược điểm” (từ Hán). Nếu đảo ngược trật tự cụm từ “điểm yếu” thành “yếu điểm” theo kiểu Hán, tức“yếu” bổ nghĩa cho “điểm”, ngữ nghĩa sẽ thay đổi ngay. “Yếu điểm” có nghĩa là chỗ/điểm quan trọng/trọng yếu (yếu (Hán) = quan trọng, trọng yếu).

Từ Hán-Việt được hiểu là từ chỉ toàn gốc Hán. Thuật ngữ này được người Pháp dùng trước nhất rồi đến các học giả Việt Nam (xem Nguyễn Kim Thản [1997], tr. 62). Bổ ngữ của từ ghép loại này nằm bên trái từ chính.

Đối với tiếng Việt, bổ ngữ của một từ không nhất thiết phải là tính từ mà có thể là danh từ, động từ.

  1. Bổ ngữ bằng tính từ: “anh cả” (“cả” là tính từ, bổ nghĩa cho “anh”), “tiền giả”, (“giả” là tính từ, bổ nghĩa cho “tiền”), …
  2. Bổ ngữ bằng danh từ: “đàn gà” (“gà” là danh từ, bổ nghĩa cho “đàn”), “quả bóng” (“bóng” là danh từ, bổ nghĩa cho “quả”), …
  3. Bổ ngữ bằng động từ: “miếng ăn” (“ăn” là động từ, bổ nghĩa cho “miếng”), “món nhậu” (“nhậu” là động từ, bổ nghĩa cho “món”), …

Xin xem thêm chi tiết ở mục tài liệu tham khảo.

Chị Tường Vân thân mến,

Đã trả lời chị xong, nay xin phép chị cho tôi có một vài thắc mắc.

Có lẽ chị đã/đang học đại học bên nhà? Tôi đoán thế, vì thường thường, phải ở trình độ ấy, người ta mới quan tâm đến một cuốn sách như chị đề cập («Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại» của Nguyễn Văn Tu, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà nội 1976). Nếu đúng thế, suy ra chị đã học xong Tú tài. Đã học xong Tú tài mà không biết cách tạo từ tiếng Việt thì suy ra, một là chị đã bỏ qua bài học này, hoặc hai là không có bài này để học. Tôi hoàn toàn không tin một người có quan tâm, chịu khó học hỏi, tham khảo như chị lại rơi vào giả thiết thứ nhất. Như vậy, chỉ có giả thiết thứ hai là đúng. Nghĩa là trường học ở Việt Nam không dạy cho học sinh cách tạo từ tiếng Việt.

Tôi xa Việt Nam đã lâu, không biết bên nhà dạy những gì, chỉ có thể hoài nghi thế thôi. Vậy, xin hỏi chị, có đúng không ?

Nếu đúng, thì ngành Giáo dục Việt Nam nên tự hỏi lại, tại sao một kiến thức Việt ngữ căn bản và quan trọng như vậy mà học sinh phổ thông không được học? Ông Cao Xuân Hạo từng nói, ở Việt Nam có nhiều chuyện lạ, nhưng đối với tôi, đây là một chuyện lạ rất khó tin.

Về sự hiện diện của từ “vi tính” trong cuốn “Ðại từ điển Tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên, tôi không biết, vì tôi không có cuốn này. Nếu đúng như chị Tường Vân viết: “Sự hiện diện của từ ghép này trong một cuốn từ điển ở tầm cỡ như vậy chứng tỏ phần nào là nó được nhiều người sử dụng, được «một số» các nhà ngôn ngữ chấp nhận”, thì, theo thiển ý của tôi, ông chủ biên Nguyễn Như Ý nên biên lại. Chắc chắn ông ta thừa biết, bất cứ gì càng tầm cỡ, càng thiếu hoàn hảo, càng sai, càng mất uy tín. Rõ ràng “vi tính” là một sản phẩm ngôn ngữ sai, tại sao lại “được “một số” các nhà ngôn ngữ chấp nhận” ? Lạ quá. Mỗi nhà ngôn ngữ học là một nhà khoa học, chẳng lẽ lại dễ dàng chấp nhận cái sai? Rất khó tin.

Stuttgart, 25.02.2005

© 2005 talawas


Tài liệu tham khảo

  • Dũng Vũ (2003) Tiếng Việt và ngôn ngữ học hiện đại – Sơ khảo về cú pháp. Stuttgart: VIET.

  • Nguyễn Kim Thản (1997) Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt. Hà Nội: Nxb. Giáo Dục.

  • Nguyễn Tài Cẩn (1999) Ngữ pháp tiếng Việt. Hà Nội: Nxb. ÐHQG Hà Nội.

 
© talawas 2026