Dường như con người là sinh vật luôn luôn đi tìm hạnh phúc cả về vật chất lẫn tinh thần trong đời mình. Con người sẽ dùng khoa học để đạt đến những tiện nghi mới trong cuộc sống và nâng cao mức sống vật chất. Và qua tôn giáo, con người cố tìm niềm vui trong tâm hồn và đạt đến một tầm cao hơn trong đời sống tinh thần. Nhưng tôn giáo và khoa học luôn luôn đi hai hướng, bằng những phương pháp khác biệt, để đạt đến những thành tựu thường đối nghịch, tuy cùng một đích chung: cố giải đáp các thắc mắc của con người về chính mình và vạn vật.
*
Khoa học đến thế kỷ 21 đã có thể giải thích rất nhiều hiện tượng trong vũ trụ và trong bản thân sinh vật nhỏ bé là con người trên quả địa cầu giữa muôn triệu hành tinh. Các ngành khoa học, từ khoa vật lý lý thuyết tìm cách giải thích sự ra đời của vật chất và vũ trụ bao la, đến khoa vi sinh học nghiên cứu các thứ li ti đầy dẫy quanh ta nhưng mắt thường không thể thấy.
Khi có một vấn đề đặt ra, khoa học sẽ dùng phương pháp đặc thù của mình để tìm ra kết luận. Khoa học quan sát sự vật và thử nghiệm, rồi tổng hợp lại thành một lý thuyết chung. Rồi khi có một khám phá mới hay một lý thuyết mới có thể giải thích sự vật chính xác hơn, bao quát hơn, khoa học sẽ vui lòng thay thế những hiểu biết cũ của mình. Khoa học gia luôn duyệt xét lại những điều mà họ cho là đặc tính của giới tự nhiên, và kiến thức khoa học của thế hệ sau thường sửa chữa lại các bất cập của thế hệ trước, chẳng hạn như từ quan điểm không gian và thời gian tuyệt đối của Newton, đến thuyết tương đối của Einstein, đến thuyết cơ học lượng tử của Bohr, mà không mấy người trong chúng ta hiểu rõ nhưng thường viện dẫn. Đôi khi trên con đường tìm hiểu, khoa học gia bị lên án hoặc được khuyến cáo nên dừng lại, như Galileo khi quan sát bầu trời, như Darwin với thuyết tiến hoá của muôn loài, như các bác học Đức quốc xã dùng người sống làm vật thí nghiệm, như các nhà nghiên cứu về phôi sinh ngày nay, hoặc như khi Stephen Hawking quan sát về khả năng tiên đoán sự tiến hoá của vũ trụ.
Khoa học không tự mãn và luôn luôn đặt lại câu hỏi cho thành quả của mình. Sự kiện không thể nói cho thoả đáng về một sự kiện – vật chất hay tinh thần – chưa hẳn đã là chẳng còn gì để nói. Các khoa học gia không thể nói rõ ràng và chính xác về vũ trụ, nhưng vũ trụ vẫn có đó. Các ngành khoa học đưa ra nhận định gần đúng, tạm thời, và có thể sai lầm (và thường là sai), nhưng đó là sai về một sự vật cụ thể trong giới tự nhiên. Không nhà khoa học nào có thể đưa ra kết luận tuyệt đối và tối hậu về vũ trụ, nhưng qua khảo sát trực tiếp và qua phép diễn dịch và quy nạp, khoa học gia đưa ra các giải thích tạm thời về vũ trụ và con người.
*
Trong khi đó, tôn giáo có câu trả lời định sẵn cho mọi vấn đề, và đặt các hiện tượng xảy ra chung quanh vào khung cảnh thích hợp với câu trả lời định sẵn đó. Thượng đế, như một thực thể hay biểu tượng, được loài người tôn thờ (hay có khi nguyền rủa) có lẽ từ thưở con người có cảm xúc và có lý trí. Tùy theo căn bản của niềm tin, con người có thể tin có một hay nhiều Thượng đế, có một hay nhiều cách để sống xứng đáng với Đất Trời hay để thoả mãn nhu cầu vật chất luôn luôn tiềm ẩn. Đôi khi cùng một niềm tin có nhiều cách giải thích mâu thuẫn nhau đến mức gây xung đột nội bộ và làm khổ lẫn nhau.
Trong niềm tin Do Thái, Ky Tô và Hồi giáo, có bản Thánh kinh giải thích Thượng đế tạo ra thế giới trong sáu ngày và loài người được tạo ra sau cùng; có bản nói người nam được tạo ra từ cát bụi trước các loài cây cỏ và chim muông, rồi sau đó mới tạo nên người nữ. Hai chuyện kể khác nhau, nhưng đều được chấp nhận, và tín đồ không hoài nghi chất vấn lại. Rồi trong quá trình lịch sử, con người – hình ảnh của Thượng đế – thường kiêu hãnh ngược đãi muôn loài, đôi khi tàn nhẫn trong cách đối xử với nhau, trái hẳn hình ảnh Thượng đế toàn trí, toàn năng trong giáo lý của mình. Con người tự biểu hiện hình ảnh của một Thượng đế bất trí, bất toàn, bất xứng, mà không ngượng ngùng.
Văn minh Hindu thường cho rằng thần Indra cùng với thần mưa Vishnu tách trời ra khỏi đất, để vũ trụ khỏi lung tung hổ lốn. Một thuyết khác kể ông Purusha bị đem tế thần, thân thể chia thành vũ trụ và bốn tập cấp của loài người: miệng là tập cấp Bà La Môn, tay là tập cấp chiến sĩ, đùi là tập cấp nông dân và người thường, và bàn chân là tập cấp thấp nhất trong xã hội mà ngay cả cái bóng của họ cũng làm ô uế thức ăn của các tập cấp khác. Cùng một nguồn gốc phát sinh, nhưng mỗi tập cấp có địa vị và cách hành xử riêng, thậm chí có thể áp bức và tiêu diệt nhau.
Phật giáo phát xuất từ miền bắc Ấn Độ và chịu nhiều ảnh hưởng đa thần của Ấn giáo. Dường như Phật giáo không khẳng định hoặc đề cập đến thuyết sáng thế, hoặc để tín đồ trong vô số tông phái đạo Phật tin tùy hỉ, tùy duyên. Nhưng đôi khi nhiều phật tử không hài lòng và gây phiền não, thậm chí xa lánh nhau chỉ vì khác thầy, khác phái. Mặt khác, rất nhiều tạng kinh Phật đề cập đến khái niệm luân hồi, đến vô số cõi đời trước và sau cuộc sống hiện tại, và hình như chưa ai có thể kiểm chứng được bằng phương pháp khoa học. Mục đích của phật tử có lẽ là tự giác ngộ và giải thoát khỏi vòng luân hồi khổ ải, nhiều tham lam và sân hận, mà họ thấy thể hiện trên cõi trần đầy cám dỗ và lý thú này.
Dân tộc đông nhất thế giới là Trung Hoa tin rằng vũ trụ làm nên từ năm chất: kim-mộc-thủy-hoả-thổ, hay do ông Bàn Cổ tự sinh ra trong khối hỗn mang trước khi có trời và đất. Khi ông Bàn Cổ chết đi, các phần trong cơ thể ông trở thành đất trời, trăng sao, sấm sét, gió mưa, và (trời ơi) con bọ chét trên thân thể ông biến thành loài người, có lẽ để nhắc họ nên khiêm tốn giữa bầu vũ trụ khôn cùng này. Nhưng đồng loại bọ chét-người thường áp bức lẫn nhau và kiêu hãnh cắn xé lân bang, theo một mệnh Trời hay một biện chứng nào đó được các triết gia về sau biện minh và giải thích.
Như thế, với nhiều niềm tin tôn giáo, loài người có nhiều hình ảnh độc lập khác nhau về thượng đế và nguồn gốc của vũ trụ. Ngay trong từng niềm tin, giáo lý thường được hiệu chỉnh hay thay đổi thường xuyên đến mức đôi khi chẳng còn mấy nỗi so với những gì đã tin từ bao đời trước. Quan điểm của con người về phương tiện để đạt đến cứu cánh tôn giáo cũng là những nhận định tương đối, tạm thời, có thể sửa đổi, và có thể sai lầm hoặc đối nghịch. Dựa trên kinh nghiệm hoặc lý lẽ, dựa trên mặc khải hoặc thần học và đạo pháp, con người hiệu chỉnh và thay đổi những hình ảnh tạm thời về đấng tối cao, những điều được cho là không đúng về đấng giáo chủ. Hình ảnh mới sẽ được xem là trung thực hơn, ít nhất là trong thời điểm lịch sử mới. Không ai có thể nói một cách tuyệt đối đấng tối cao như thế nào, nhưng kinh nghiệm tiếp xúc với ngài trong suốt quá trình lịch sử đã sàng sẩy ra một hình ảnh về ngài và giáo lý của ngài trong kiến thức con người. Hình ảnh gần đúng và tạm thời và luôn luôn biến đổi đó, từ bao đời nay, đã là nền tảng đáng tin cậy cho những lời cầu nguyện, và cho niềm tin tuyệt đối rằng ngài hiện hữu và lời giảng của ngài là chân lý.
*
Tín điều tôn giáo và lý thuyết khoa học có những câu trả lời hầu như phủ định và đối nghịch nhau, vì thế ngày nay con người khoa học và con người tôn giáo vẫn phải tiếp tục tìm cách giải quyết những mâu thuẫn giữa hai cách nhìn có ảnh hưởng quan trọng đến cuộc đời mình. Nhân loại có thể đặt ra các giáo điều mới để đối thoại với các giả thuyết mới của khoa học, hoặc đưa ra các tìm tòi khoa học mới để đối chất với tín điều.
Hình ảnh Thượng đế thay đổi qua nhiều thời điểm lịch sử là bằng chứng của những nỗ lực không ngừng của tôn giáo để đáp ứng với kiến thức khoa học ngày càng tiến bộ. Tôn giáo cũng sẽ không ngần ngại dùng những thành tựu trong khoa tâm lý học hoặc sinh lý học để giải thích trạng thái thăng hoa của tinh thần hoặc những thực chứng khi tiếp xúc với đấng tối cao.
Tiến bộ trong khoa học nhân văn giúp phân tích những mâu thuẫn có đầy trong niềm tin tôn giáo. Khoa sử học cho thấy khá nhiều cuộc chiến đẫm máu trong xã hội loài người đều bắt nguồn từ bản chất tham tàn của một số giáo điều và những kẻ nhân danh tôn giáo. Nhưng tôn giáo đã đóng góp rất nhiều cho vẻ đẹp và là nguồn cảm hứng của nhân loại qua âm nhạc, ẩm thực, nghệ thuật, văn chương, hội hoạ, và ngay cả triết học. Tôn giáo đã đáp ứng được nhu cầu của con tim, nhưng tôn giáo cũng có rất nhiều lúc cản trở niềm khát khao đi tìm chân thiện mỹ và hạnh phúc trong cuộc đời hữu hạn nơi trần thế.
Các thành tựu của khoa học tự nhiên đã cho phép con người nhìn xa hơn huyền thoại cổ xưa hay vượt ra ngoài kinh điển tôn giáo trên con đường học hỏi và tìm kiếm những định luật vận hành trong vũ trụ. Phát minh khoa học đòi hỏi thực nghiệm và thực chứng qua cân, đo, đong, đếm. Các kiến thức khoa học thời sau hiệu chỉnh lại kiến thức thời trước, và đôi khi các lý thuyết có vẻ mâu thuẫn nhau vẫn đồng thời được áp dụng. Thuyết tương đối của Einstein không ngăn nhân loại phóng phi thuyền lên không gian dựa theo định luật Newton, và quả táo vẫn rơi với sức hút của trái đất. Mặt khác, ứng dụng của các phát minh khoa học có thể mang lại lợi ích cho nhân loại, hoặc lạnh lùng trở thành cơn ác mộng của loài người. Và có bao giờ khoa học giải thích hết mọi hiện tượng trong vũ trụ, hoặc sáng tạo và đo lường được những khái niệm trừu tượng như cái đẹp và hạnh phúc?
*
Tôn giáo và khoa học như hai lãnh vực riêng rẽ, tự trong vai trò đặc thù của mình đứng nhìn về lãnh vực kia cũng có nhiều thái độ khác biệt. Những con người tôn giáo có thể có nhiều cách nhìn khác nhau về khoa học; tương tự, con người khoa học cũng có nhiều cách nghĩ về tôn giáo.
Con người tôn giáo có thể cuồng tín, chối bỏ các dữ kiện của khoa sinh học và địa chất, khăng khăng tin rằng vũ trụ là cơ thể rữa nát của ông Bàn Cổ hoặc được tạo nên trong sáu ngày khoảng sáu ngàn năm trước, và lên án những tìm tòi khoa học trên bầu trời bao la. Con người tôn giáo cũng có thể cho rằng khoa học và tôn giáo đóng hai vai trò riêng: khoa học giải thích các hiện tượng tự nhiên, tôn giáo có mục đích hướng dẫn đời sống tâm linh; hai lãnh vực khác biệt và không mâu thuẫn nhau. Một cách nhìn tôn giáo khác nữa để biện minh cho sự hiện hữu của đấng sáng thế chí nhân, chí từ và những điều ác trên cõi đời: thần thánh tạo nên vũ trụ và các luật tự nhiên, sau khi sáng tạo xong, Thượng đế đã để cho vũ trụ (và cả con người) tự phát triển hoặc hủy hoại mà không còn can thiệp đến nữa, mặc dù đôi khi có lời cảnh cáo hay răn đe của các bậc minh triết hoặc các đấng tiên tri.
Là “con” trước khi là “người”, những con người khoa học, tự bản chất không chấp nhận bất cứ một loại Thượng đế hay niềm tin tôn giáo nào, có thể chia làm hai nhóm. Một nhóm chối bỏ hoàn toàn sự hiện hữu của Thượng đế vì không thể kiểm chứng bằng sở trường của mình, và cho rằng tín điều tôn giáo chỉ là một cớ nữa để chia rẽ con người và gây thêm đau khổ. Một nhóm khác quan niệm rằng không biết và không thể biết Thượng đế có thật hay không, vì thế đối với họ Thượng đế không là một vấn đề khoa học cần phải quan tâm đến. Các nhà khoa học nghiêm túc có lẽ chẳng bao giờ đặt vấn đề tìm hiểu sự hiện hữu của Thượng đế, vì đó là lãnh vực của tâm linh, không thể thí nghiệm và đo lường bằng các tiêu chuẩn của khoa học.
*
Tôn giáo có đầy mâu thuẫn về một hay nhiều Thượng đế, về một hay nhiều cuộc sống ở đời sau, và thậm chí về lẽ sống và cách sống ở đời này. Nhưng khoa học chưa, hoặc có thể sẽ không bao giờ, có giải thích thoả đáng về những gì xảy ra trong tấm lòng con người, và thậm chí về các hiện tượng tự nhiên trong cõi vũ trụ vô cùng vô tận vốn là lãnh vực sở trường của khoa học.
Trong lịch sử loài người đã có nhiều cuộc xung đột giữa tôn giáo và khoa học gây nên đau khổ cho nhiều cá nhân hay cộng đồng. Có lẽ tôn giáo và khoa học nên đặt vấn đề chung sống hoà bình trên trái đất nhỏ bé này và trong lòng từng cá nhân, như Rodney King, anh da đen khờ dại bị cảnh sát đập tơi tả năm 1992, đã nói khi thấy cảnh đốt phá ở Los Angeles: “Can we get along?” Tôn giáo đừng tự xưng là khoa học với những phương pháp chứng minh được của khoa học, đừng đi kiện hay đánh đập khoa học, và đừng ngược đãi những người có niềm tin khác. Khoa học đừng xen vào lãnh vực tinh thần không phải của mình, vì tự thân khoa học không thể tìm được câu trả lời tối hậu và tuyệt đối trong chính lãnh vực của mình, không thể chứng minh bằng phương pháp sở trường của mình để phản bác tôn giáo. Có lẽ tôn giáo không chấp nhận khoa học sẽ chỉ là ngu muội, và là một trong những nguồn gốc của áp bức và chiến tranh. Có lẽ khoa học thiếu tôn giáo sẽ khiến cuộc đời cô quạnh, tàn nhẫn, và thiếu nguồn cảm hứng ấm áp của mông lung.
01/2005
© 2005 talawas