trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
20.2.2003
Hermann Hesse
Tôi không tin là thơ Đức sẽ phục hồi nhanh chóng
 

Tôi vừa bỏ ra mấy tháng, đọc một loạt tác phẩm của các nhà thơ cực trẻ để mong tìm hiểu trạng thái tinh thần của thế hệ trẻ ở Đức. Tuy cũng rút được lắm điều bổ ích, nhưng thật thích thú thì không, và tôi không có ý kéo dài việc này lâu hơn. Cái thơ trẻ ấy, đọc xong, tôi xin phác họa như sau:

Các nhà thơ trẻ và cực trẻ Đức, không kể những ai lặp lại và hát theo điệu cũ, có thể phân theo hình thức nghệ thuật làm hai nhóm. Một nhóm gồm những người cho rằng mình đã thay các hình thức cũ trong thơ bằng các hình thức mới. Được mấy năm ít ỏi thì ở đó đã lại rộ lên một chủ nghĩa philistanh, một tinh thần sao chép thật sùng tín lạ lùng. Những nét độc đáo và cách tân về ngữ pháp và cú pháp của vài ba nhà tiên phong và mấy lãnh tụ đầu tiên của cuộc cách mạng văn chương, đứng đầu là Sternheim [1] , được bệ ra sao chép một cách rập khuôn giáo điều, ngay cả đám thi-sĩ-dát-vàng [2] những năm tám mươi cố rập theo các bậc thi hào cổ điển cũng không lố bịch và nô lệ bằng. Toàn bộ cái văn chương này hắt ra mùi mốc meo và già cỗi; các tác giả của nó chưa kịp tròn tuổi thành niên thì nó đã hết đời.

Nhóm thứ hai, mạnh mẽ hơn, là nhóm đáng lưu ý, thì ngập ngừng nhưng ít nhiều có ý thức và quyết tâm đón nhận sự hỗn loạn. Tuy còn mơ hồ, nhưng họ cảm được rằng không thể đơn giản thay phắt cái văn hoá và hình thức nghệ thuật đang phá sản bằng một cái mới. Họ cảm được hay có vẻ cảm được rằng: Phải tan rã và hỗn loạn trước đã, phải đi hết chặng đường đắng ngắt rồi mới có thể xây dựng những cương lĩnh, hình thức và ràng buộc mới. Người này trong số họ thì chẳng thiết phân biệt, đem gần như nguyên xi cái ngôn ngữ và hình thức cũ, vốn quen thuộc ra dùng; đã trên đà suy thoái thì hình thức nào chẳng thế. Người kia lại nôn nóng xông lên, cố thúc cho cái ngôn ngữ văn chương Đức tan rã nhanh hơn – kẻ thì buồn bã nghiến răng như đang giật đổ ngôi nhà của chính mình, kẻ thì thây kệ bằng thái độ hài hước trước giá treo cổ và tinh thần tận thế hơi có phần chớt nhả. Đằng nào cũng chẳng mong được thoả mãn gì ở nghệ thuật, vậy thì hãy giễu cợt hạng philistanh, cười một trận và cứ thoải mái cho đến khi đất dưới chân sụt xuống cũng đành, số này chủ trương như vậy. Toàn bộ nhóm văn chương đa đa thuộc về số này.

Nhưng nếu bỏ qua cuộc đi tìm hình thức mới không mỹ mãn cho lắm ấy mà chỉ nhắm vào nội dung tinh thần thì tất cả những nhóm khác nhau này sớm tập hợp thành một khối thống nhất. Ở nhóm nào cũng cùng một nội dung ấy. Ở nhóm nào cũng nổi bật hai chủ đề: một là chống lại uy quyền và toàn bộ cái văn hoá đang suy vong của uy quyền; hai là tình yêu và tình dục. Một là ông bố bị thằng con giúi vào tường mà kết tội. Hai là chàng trai háo tình, khao khát bày tỏ cái giống quý của mình sao cho lạ hơn, bạo hơn, đẹp hơn, thực hơn. Chỗ nào cũng gặp hai nhân vật ấy. Và cả hai còn được khắc họa nhiều lần nữa, vì đúng là chúng thể hiện hai mối quan tâm lớn nhất của thế hệ trẻ.

Đằng sau tất cả những cách tân và cách mạng này lộ rõ hai thế lực lớn: chiến tranh thế giới[3] và ngành tâm lý học của cái vô thức do Sigmund Freud [4] sáng lập. Những kinh nghiệm do cuộc đại chiến đó đem lại, sự sụp đổ của mọi hình thức cũ, sự thất bại của những cơ sở đạo đức và văn hoá từng hợp lẽ cho đến lúc ấy, dường như đều không thể lý giải bằng bất cứ cách nào ngoài cách dùng phân tâm học. Châu Âu, trong con mắt của giới trẻ này, là một bệnh nhân tâm thần trầm trọng, muốn chữa chạy thì chỉ còn cách bẻ gãy những ràng buộc chồng chất do nó tự dựng nên để rồi tự ngột thở trong đó. Và đối thủ mới, đối thủ ghê gớm cho cái uy quyền đang lung lay của ông bố, của ông thầy, của cha đạo, của đảng, của khoa học… chính là cái ngành tâm lý học có khả năng rọi ánh sáng vào tất cả những ngượng ngùng, sợ hãi và thận trọng vốn dĩ. Trong chiến tranh, những vị giáo sư nào từng xun xoe với các thể chế chính quyền, từng xuất đầu lộ diện bằng những phát ngôn lố bịch và lẩm cẩm sặc mùi loè bịp về tinh thần dân tộc, thì giờ đây bị giới trẻ nhận mặt: cũng chính là các vị đó đang lèo lái cho giới tư sản thực hiện việc xoá trắng thành quả của Freud, để thế gian này lại tiếp tục chìm trong bóng tối.

Một là đoạn tuyệt với văn hoá của uy quyền (thậm chí nhiều người biểu hiện thái độ này bằng cách ghét cay ghét đắng ngữ pháp Đức), và hai là dự cảm về khả năng nghiên cứu đời sống tâm hồn của chúng ta bằng phương pháp khoa học cũng như khả năng tác động đến nó bằng lí trí, hai yếu tố đó trong sinh hoạt tinh thần của giới trẻ đang chế ngự toàn bộ mảng thơ trẻ. Không thiếu những trường hợp “gửi hồn vào bác sĩ”, nói theo cách của phân tâm học, mà biểu hiện là sự qụy lụy mê mẩn mù quáng của con bệnh trước vị cứu nhân đầu tiên gặp được, dù là Freud hay Sternheim. Mơ hồ, bồng bột, tỏ vẻ nữa, đều có cả, nhưng hai yếu tố nêu trên đã ăn sâu vào tư duy của giới trẻ, mà chúng không phải là những chương trình hay học thuyết. Chúng là những thế lực.

Nhận thức về sự sụp đổ của nền văn hoá tiền chiến cộng thêm việc hăng hái tiếp xúc với khoa phân tâm học non trẻ nay đã thật sự thành một ngành khoa học, đó là những nền tảng cho giới trẻ xây đắp. Nền tảng thì tốt, nhưng thành tựu chưa có gì hết, kết quả của thơ trẻ cho đến nay là như vậy. Trải nghiệm chiến tranh cũng không, mà trải nghiệm Freud cũng không hề được triển khai thành những hệ quả mầu mỡ. Hiện tại, chỗ nào cũng chỉ thấy một sự thoả mãn khá dễ hiểu, nhưng mãi thì không thể chấp nhận, mà trong đó hò hét và lên mặt là chính, còn tương lai và chuyển động về phía trước chỉ là phụ. Một bộ phận lớn những người trẻ tuổi này có vẻ giống hệt một con bệnh tâm thần mới điều trị được một nửa, kinh nghiệm đột khởi lớn lao thì đã trải, nhưng hậu quả thế nào còn chưa hay biết. Phần lớn họ đủ khả năng chuyển hoá bước ngoặt và sự giải phóng thành tâm trạng cá nhân, thành đòi hỏi và tuyên ngôn về quyền của cái cá nhân ấy. Nhưng rồi sao nữa thì tuyệt đối mù mịt và thiếu hoàn toàn mục đích.

Trong tiểu thuyết Đức gần đây, mạo từ thì biến mất, cú pháp thì bị bẻ quẹo, nhưng phẫn nộ về chuyện đó như thái độ của nhiều người hiện nay thì thật vô ích. Rồi các mạo từ sẽ quay về, không tránh đi đâu được, nếu chúng thật sự cần thiết. Các đệ tử của ngữ pháp cũ và của cái Đẹp xưa cứ việc đọc tiếp Goethe, chẳng ai cấm, và chẳng ai bắt họ phải bận tâm tới sự la hét của đám trẻ. Nhưng đám thanh niên vừa muời sáu, muời bảy, hai mươi tuổi đời đã phải từ giã đồ chơi và ghế nhà trường để bị cuốn phăng vào chiến tranh ấy, họ phải được quyền huởng những năm tháng phá phách cho thật ác liệt. Rồi chính họ sẽ nhận ra rằng, đổ mãi lên đầu đám già chúng ta lỗi gây nên bất hạnh cũng không giải quyết được gì. Có thể họ một ngàn lần có lý, nhưng chưa một mảy may gì trên đời này nhúc nhích chỉ bằng sự có lý. Càng hiểu ra điều ấy, giới trẻ sẽ càng thấy mình còn nông cạn ra sao trong việc đánh giá và đào xới hai trải nghiệm lớn của thế hệ mình. Chiến tranh và phân tâm học, cả hai biến động ấy cho đến giờ đều mới chỉ phát huy tác dụng trong một khí thế nửa cuồng nhiệt, nửa eo xèo rên rỉ của tuổi dậy thì.

Tôi không tin là thơ Đức sẽ phục hồi nhanh chóng. Tôi không tin sắp tới là thời huy hoàng. Ngược lại. Song làm thơ đâu có phải là mục đích duy nhất của cuộc đời, còn nhiều thứ khác lắm, và người ta vẫn có thể sống có ý nghĩa và khoái cảm mà không hề làm thơ hoặc làm thơ kém.

Hai trải nghiệm khổng lồ của thế hệ trẻ ấy còn chưa tác dụng, còn lâu mới tác dụng.

Sớm hay muộn, rồi những kẻ từ trận mạc trở về sẽ thấm thía rằng bạo lực và bóp cò chẳng đem lại điều gì, rằng chiến tranh và bạo lực chỉ là cách giải quyết những vấn đề phức tạp và tế nhị bằng phương pháp dã man và ngu xuẩn.

Còn khoa phân tâm học mới mẻ mà Dostojevski và Nietzsche là tiền bối và Freud là kiến trúc sư đầu tiên sẽ dạy cho thế hệ trẻ này, rằng việc giải phóng nhân cách và ca tụng bản năng mới chỉ là đoạn xuất phát của một nẻo đường, rằng mọi tự do cá nhân đều nhàm và bé nhỏ truớc cái tự do cao nhất của mỗi người: đầy ý thức và hân hoan coi mình là một mảnh của nhân loại, và đem những năng lực được giải phóng mà phục vụ nhân loại ấy.

(1920)


Chú thích:

[1] Carl Sternheim (1875-1942), nhà văn và nhà soạn kịch quan trọng của chủ nghĩa biểu hiện Đức, nổi tiếng với văn phong điện tín nhằm chống lại ngôn ngữ văn chương Đức mà theo ông là già nua và giả dối, kết giao với những nhà văn và nghệ sĩ như Gottfried Benn, Frank Wedekind, Max Reinhardt, năm 1915 từng phục tài mà chu cấp cho Franz Kafka, khi đó còn là một cây bút chưa hề được văn đàn biết đến.

[2] Nguyên văn: Goldschnittlyriker, chỉ phong trào văn chương du dương, trữ tình, hoa thi, được giới có học ưa chuộng vào hai thập niên cuối thế kỷ 19, một trong những đại biểu nay hầu như bị quên lãng là Adolf Böttger (1815-1870).

[3] Chiến tranh thế giới lần thứ nhất

[4] Sigmund Freud (1856-1939), người sáng lập khoa phân tâm học. Ở thời điểm bài viết của Hermann Hesse, S. Freud đã công bố những tác phẩm quan trọng nhất và phân tâm học đang ở đỉnh cao.

© 2003 talawas

 
© talawas 2026