trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
5.5.2004
Jean Baudrillard
Tinh thần khủng bố
 

Những biến cố hoàn cầu, chúng ta đã có, từ
cái chết của Diana tới giải bóng đá thế giới Mondial – hoặc những
biến cố bạo động và có thực, những cuộc chiến tranh diệt chủng.
Nhưng với biến cố tượng trưng tầm vóc toàn cầu, tức là không phải
chỉ phổ biến toàn cầu, mà làm thất bại ngay sự toàn cầu hoá, chưa
hề có cái nào. Suốt sự trì trệ của thập niên 1990, ấy là “sự đình
công của các biến cố” (theo chữ của nhà văn Argentina Macedonio
Fernandez [1874 – 1952]). Vậy mà, sự đình công đã chấm dứt. Những
biến cố đã thôi làm reo. Với những cuộc tấn kích ở New York và
Trung tâm Thương mại Thế giới, chúng ta chạm mặt với biến cố tuyệt
đối, biến cố “mẹ”, biến cố thuần tuý nó tập trung trong mình mọi
biến cố chẳng hề xảy ra.

Toàn thể trò chơi của lịch sử và
của sức mạnh vì đó bị đảo lộn, luôn cả những điều kiện cho việc
phân tích. Phải có thời gian. Bởi chừng nào các biến cố còn ù lì,
ta đã phải lấn lướt và đi mau hơn chúng. Khi chúng gia tốc tới mức
này, thì hiện ta cần đi chậm hơn. Tuy nhiên ta không để bị chôn
vùi dưới mớ bòng bong các diễn từ và mây mù chiến tranh, và luôn
giữ nguyên vẹn sự chói loà không thể nào quên của các hình ảnh.


Tất cả những diễn từ và bình luận phơi lộ một sự giải toả
khổng lồ về tình tự dồn nén đối với ngay chính biến cố và và đối
với sự mê hoặc mà nó thi triển. Sự lên án đạo đức, liên hiệp
thiêng liêng chống khủng bố vừa tầm với nỗi hân hoan kì diệu được
thấy siêu cường thế giới ấy tiêu huỷ, hơn thế nữa, được thấy nó
trong một cung cách nào đó tự huỷ, tự tử đẹp làm sao. Bởi chính
nó, bằng cường lực chịu không nổi, đã khơi dậy toàn thể sự bạo
động bàng bạc khắp cả thế giới, và do đó cái hư tưởng khủng bố
(chẳng hề hay biết) nằm trong tất cả chúng ta.

Rằng chúng
ta đã mơ tưởng biến cố này, rằng mọi người chẳng trừ ai đã mơ
tưởng nó, bởi lẽ chẳng ai có thể không mơ tưởng sự huỷ diệt của
bất kì cường lực nào đã trở nên bá quyền tới mức đó, đó là điều
không thể chấp nhận được đối với ý thức đạo đức phương Tây, nhưng
đó lại vẫn là một thực kiện, và nó đo được bằng ngay sự bạo động
cảm tính của mọi diễn từ muốn xoá bỏ nó.

Nói cho cùng,
chính họ đã làm việc đó, nhưng chính chúng ta đã muốn việc đó. Nếu
không nhận biết như thế, biến cố sẽ mất hết tầm vóc tượng trưng,
mà chỉ thuần là một tai nạn, một hành vi thuần tư ý, cái viễn ảnh
tàn sát của vài kẻ cuồng tín, mà rồi chỉ cần đập tan. Nhưng chúng
ta biết rõ là không phải thế. Từ đó tất cả mê sảng chống sợ để trừ
tà cái ác: bởi cái ác ở đó, khắp nơi, như một mục tiêu thèm muốn
mơ hồ. Không có sự đồng loã sâu xa ấy, biến cố đã chẳng thể nào có
vang vọng như nó đã có, và trong sách lược tượng trung, những kẻ
khủng bố chắc hẳn biết rằng họ có thể dựa vào sự đồng loã không
thể thú nhận kia.

Ðiều đó vượt xa sự thù ghét cái cường
lực thống trị thế giới nơi những kẻ bị mất di sản và những kẻ bị
bóc lột, nơi những ai rơi vào phía thua thiệt của trật tự thế
giới. Thèm muốn tai quái kia nằm ngay trong lòng những kẻ chia sẻ
lợi lộc. Sự dị ứng với mọi trật tự tối hậu, với mọi cường lực tối
hậu, may thay lại có tính phổ quát đại đồng, và hai cái tháp của
Trung tâm Thương mại Thế giới, ngang bằng sự sóng đôi, là hiện
thân hoàn hảo của cái trật tự tối hậu kia.

Chẳng cần sự
lôi cuốn của cái chết hoặc của huỷ diệt, chẳng cần luôn cả cái
hiệu ứng tà vạy. Rất luận lí và hiển nhiên, cường lực càng tăng
thì càng chọc giận ý chí huỷ diệt nó. Và nó đồng loã với sự huỷ
diệt của chính mình. Khi hai cái tháp sụp đổ, người ta có ấn tượng
là chúng đáp ứng sự tự sát của những chiếc máy bay tự sát bằng
chính sự tự sát của chúng. Người ta đã nói: “Ngay Thượng đế cũng
không thể tuyên chiến với chính mình” Thế mà có đấy. Phương Tây,
trong vị thế Thượng đế (với toàn năng thần thánh và với sự chính
đáng đạo đức tuyệt đối) trở thành tự sát và tuyên chiến với chính
nó.

Những cuốn phim tai biến vô số kể làm chứng cho huyễn
tưởng này, mà hiển nhiên là chúng đồng thiếp lên bằng hình ảnh
trong khi nhận chìm tất cả cái ấy dưới những hiệu ứng đặc biệt.
Nhưng sự hấp dẫn phổ quát mà chúng thi triển cũng tựa như sự khiêu
dâm, chứng tỏ rằng sự chuyển sang hành động luôn gần gũi – thèm
khát ngấm ngầm muốn phủ nhận mọi hệ thống càng mạnh khi hệ thống
càng sáp gần sự hoàn hảo hoặc toàn năng.

Thêm nữa dường
như thể những kẻ khủng bố (cũng như các chuyên gia!) không dự kiến
sự sụp đổ của Tháp Ðôi, là kích xúc tượng trưng mạnh nhất, hơn hẳn
lầu Năm Góc. Sự sụp đổ tượng trưng của cả một hệ thống xảy ra với
một sự đồng loã không thể dự kiến, như thể, trong khi tự sụp đổ,
trong khi tự sát, những tháp này nhập trò để biến cố thành dứt
điểm.

Theo một nghĩa, chính cả hệ thống, bằng sự mong manh
nội tại, đã tiếp tay cho hành động khởi đầu. Hệ thống càng tập
trung trên thế giới, đến tận cùng chỉ tạo một màng lưới độc nhất,
rồi noù trở thành dễ thọ thương nơi một điểm độc nhất (đã có một
kẻ vọc máy đơn độc nhỏ bé ở Philippines với một máy vi tính xách
tay thành công trong việc phóng vi khuẩn “I Love you” chạy vòng
thế giới và hoành hành nhiều mạng lưới trọn vẹn). Ở đây, là 18 phi
công thần phong (kamikazes), bằng vũ khí tuyệt đối của cái chết;
nhân lên bằng hiệu năng kĩ thuật học, phát khởi một tiến trình tai
biến toàn cầu.

Khi tình thế bị một cường lực thế giới
chiếm độc quyền, khi người ta phải đối đầu với sự quy tụ ghê gớm
của mọi chức năng do bộ máy kĩ trị và tư tưởng duy nhất, có con
đường nào khác ngoài sự chuyển di tình thế bằng khủng bố? Chính hệ
thống tự nó đã tạo nhưõng điều kiện khách quan cho sự trả đũa tàn
bạo kia. Khi thu thập cho chính mình tất cả những quân bài, nó
buộc kẻ khác phải thay đổi quy luật của cuộc chơi. Và những quy
luật mới thì hung bạo, bởi vì sự ăn thua rất hung bạo. Với một hệ
thống mà ngay sự quá độ của cường lực đặt ra một thách đố không
thể giải quyết, những kẻ khủng bố đáp lại bằng một hành động tối
hậu mà sự thù đáp cũng là không thể. Khủng bố là một hành động tái
lập một đặc dị không thể giảm trừ trong lòng một hệ thống thù đáp
tổng quát hoá. Mọi đặc dị (các chủng loại, các cá nhân, các văn
hoá) đã trả bằng cái chết cho sự thiết định một sự lưu thông toàn
cầu do một cường lực độc nhất cai quản ngày nay đaõ báo thù với sự
chuyển di tình thế bằng khủng bố này.

Khủng bố chống lại
khủng bố – không còn hệ tư tưởng nào đằng sau toàn chuyện đó. Từ
nay người ta vượt xa hệ tư tưởng và chính trị. Năng lượng nuôi
dưỡng khủng bố, không một hệ tư tưởng nào, một lí tưởng nào, kể cả
lí tưởng Hồi giáo, có thể nhìn nhận. Nó không còn nhằm ngay cả
việc biến cải thế giới, nó nhằm (như các dị giáo vào thời của
chúng) triệt để hoá thế giới bằng hi sinh, trong khi hệ thống nhằm
hiện thực hoá thế giới bằng sức mạnh.

Khủng bố, như vi
khuẩn, ở khắp mọi nơi. Có một sự tiếp dịch khủng bố toàn cầu,
giống như bóng toả của mọi hệ thống thống trị, nơi nơi đều sẵn
sàng thức dậy làm gián điệp nhị trùng. Không còn đường phân ranh
nào vây quanh nó, nó ở ngay trong lòng cái văn hoá đánh nhau với
nó, và sự phân biệt thấy rõ (cùng với thù hận) trên bình diện thế
giới đối đầu những kẻ bị bóc lột và chậm phát triển với thế giới
phương Tây âm thầm kết nối sự phân biệt nội tại của hệ thống thống
trị. Hệ thống này có thể đương đầu với mọi đối dịch hiển hiện.
Nhưng cái kia, với cấu trúc vi khuẩn – như thể mọi bộ máy chính
trị đều tiết ra cái phản xử trí (anti-dispositif) của nó, chất men
tiêu huỷ của chính nó – chống lại cái hình thức quật lại hầu như
tự động này của chính cường lực, hệ thống không làm gì được. Và
khủng bố là con sóng xung kích của sự quật lại âm thầm đó.


Vậy đó không phải là một sự va chạm các văn minh hoặc tôn
giáo, và nó vượt xa cả Hồi giáo lẫn nước Mĩ, là những thứ người ta
lấy làm tiêu điểm cho cuộc tranh chấp để tự tạo ảo ảnh một chạm
trán lồ lộ và một giải pháp bằng sức mạnh. Ðúng là có một đối
nghịch nền tảng, nhưng nó vạch ra, qua bóng ma nước Mĩ (có thể là
trung tâm địa chấn, nhưng không hề đơn độc là hiện thân của sự
toàn cầu hoá), và qua bóng ma Hồi giáo (cũng không là hiện thân
của khủng bố), sự toàn cầu hoá đắc thắng tự thân mắc kẹt. Trong
chiều hướng đó, người ta rất có thể nói đến một cuộc chiến tranh
thế giới, không phải thế chiến 3, mà là thế chiến 4, và là cuộc
chiến độc nhất thực sự mang tính toàn cầu, bởi ăn thua của nó là
chính trị toàn cầu hoá. Hai cuộc chiến đầu đáp ứng với hình ảnh cổ
điển của chiến tranh. Thế chiến 1 đã chấm dứt sự bá chủ của châu
Âu và kỉ nguyên thực dân. Thế chiến 2 chấm dứt chế độ quốc xã. Thế
chiến 3 đã rõ xảy ra dưới dạng chiến tranh lạnh và sự can ngăn, đã
chấm dứt chế độ cộng sản. Từ cuộc này đến cuộc kia, mỗi lần đi xa
hơn là người ta hướng về một trật tự thế giới duy nhất. Ngày nay
trật tự này, hầu như đã đến hồi cáo chung, lâm vào thế mắc míu với
những sức mạnh đối đầu bàng bạc khắp nơi ngay trong lòng thế giới,
trong tất cả những rúng động hiện có. Cuộc chiến phiến điệp
(guerre fractale) của mọi tế bào, mọi đặc dị nổi lên dưới hình
thức kháng thể. Sự đối đầu khó nắm bắt được tới nỗi lâu lâu lại
phải bảo trì ý niệm chiến tranh bằng những cảnh dàn dựng đồ sộ như
ở vùng Vịnh Ba tư [1991] hoặc ngày nay ở Afghanistan. Nhưng thế
chiến 4 là ở nơi khác. Nó là cái ám ảnh mọi trật tự toàn cầu, mọi
thống trị bá quyền – nếu Hồi giáo thống trị thế giới, khủng bố ắt
nổi lên chống Hồi giáo. Bởi chính là thế giới đối kháng với sự
toàn cầu hoá.

Khủng bố là vô luân. Biến cố ở Trung tâm
Thương mại Thế giới, cái thách thức tượng trưng đó, là vô luân, và
và nó đáp ứng lại một sự toàn cầu hoá cũng vô luân. Vậy chính
chúng ta cũng đành vô luân và, nếu chúng ta muốn hiểu chút gì, thì
phần nào hãy nhìn vượt qua Thiện và Ác. Thuở nào mới có một biến
cố thách thức không những cả luân lí mà luôn cả mọi cách thông
giải, chúng ta hãy cố thông hiểu cái Ác. Ðiểm then chốt là ở chính
nơi đó: trong sự phản nghĩa hoàn toàn với triết lí phương Tây, của
thời Ánh sáng, đối với Thiện và Ác. Chúng ta ngây thơ tin tưởng
rằng sự tiến boä của cái Thiện, sự tăng tiến sức mạnh của nó trong
mọi địa hạt (khoa học, kĩ thuật, dân chủ, nhân quyền) tương ứng
với sự thất bại của cái Ác. Hầu như chẳng ai hiểu rằng Thiện và Ác
tăng tiến sức mạnh đồng thời, và cùng theo một vận động. Sự chieán
thắng của cái này không kéo theo sự xoá bỏ cái kia, ngược lại mới
đúng hơn. Người ta xem xét cái Ác trên mặt siêu hình, coi nó như
là một dấu khuôn tình cờ, nhưng cái định đề này, từ đó dẫn xuất
mọi hình thức tranh đấu nhị nguyên cuûa Thiện chống Ác, là ảo
tưởng. Thiện không giảm trừ Ác, ngược lại cũng chẳng phải: cả hai
đều không thể giảm trừ lẫn nhau và tương quan của chúng là không
thể tách lìa. Trong sâu xa, Thiện chỉ có thể đánh bại Ác khi thôi
là Thiện, bởi khi tự chiếm hữu độc quyền thế giới về cường lực, nó
do đó lôi cuốn ngọn lửa quật ngược lại với một bạo động tương
đương.

Trong khung cảnh truyền thống, còn có một sự tương
xứng giữa Thiện và Ác, theo một tương quan biện chứng nó bảo đảm
dù gì thì gì cũng có sự căng thẳng và quân bình của cõi luân lí –
phần nào như trong chiến tranh lạnh sự đối đầu của hai cường lực
đã bảo đảm sự quân bình của khủng bố. Cho nên không có ưu thắng
của bên này với bên kia. Sự cân xứng ấy bị phá vỡ từ lúc có sự
ngoại suy toàn diện cái Thiện (bá quyền của thực chứng trên bất kì
hình thức phủ định nào, sự loại trừ cái chết, loại trừ mọi sức
mạnh nào trong tiềm thế – toàn thắng của những giá trị của Thiện).
Từ đó, quân bình bị phá vỡ, và như thể cái Ác lấy lại thế tự chủ
vô hình, và từ nay tự phát triển theo cách luỹ thừa.

Giữ
mọi tỉ lệ, phần nào đó là điều xảy ra trong mọi trật tự chính trị
với sự xoá bỏ chủ nghĩa cộng sản và chiến thắng toàn cầu của cường
lực tự do: chính lúc đó nảy sinh một kẻ thù bóng ma, truyền dịch
khắp hành tinh, xâm nhập khắp nơi như vi khuẩn, nảy sinh từ mọi
chỗ đan xen của cường lực. Hồi giáo. Nhưng Hồi giáo chỉ là trận
tuyến di động của sự kết tinh của sự đối kháng này. Sự đối kháng
này có ở khắp nơi, có mặt trong mỗi chúng ta. Vậy là, khủng bố đối
lại khủng bố. Nhưng là khủng bố bất đối xứng. Và chính sự bất đối
xứng này khiến tối cường lực toàn cầu hoàn toàn bị giải giới. Tự
vướng mắc, nó chỉ còn cách lún sâu vào luận lí của chính nó về
những tương quan lực lượng, không thể chơi trên trận địa của thách
thức tượng trưng và của cái chết – mà nó không còn nhận thức gì
được nữa bởi nó đã xoá cái chết khỏi văn hoá của chính nó.


Cho đến bây giờ, cường lực thống hợp này phần lớn đã thành
công trong việc hấp thu và tiêu tán mọi khủng hoảng, mọi phủ định,
từ đó tạo ra một tình huống gây tuyệt vọng từ cốt lõi (không chỉ
với những kẻ bị đầy đoạ của trái đất, mà còn với những kẻ có của
và luôn cả với những kẻ được đặc quyền, trong tiện nghi toàn
triệt). Biến cố nền tảng, ấy là những kẻ khủng bố đã ngưng tự sát
kiểu thua suông, ấy là họ đã đem chính cái chết của mình vào cuộc
chơi bằng cung cách tấn kích và hữu hiệu, theo một trực giác chiến
lược đơn thuần về sự mong manh bao la của đối phương, sự mong manh
của một hệ thống đạt tới chỗ gần hoàn thiện, mà hệ quả là sự dễ bị
tổn thương với một tia lửa cỏn con nhất. Họ đã thành công trong
việc dùng chính cái chết của mình làm một vũ khí tuyệt đối chống
lại một hệ thống sống bằng sự loại trừ cái chết, mà lí tưởng là số
không chết. Mọi hệ thống theo số không chết là một hệ thống tổng
số bằng không. Và mọi phương tiện khuyến dụ và huỷ diệt đều vô
hiệu quả đối với một kẻ thù đã dùng cái chết làm một vũ khí phản
công. “Bom Mĩ ăn nhằm gì! Những người của chúng tôi thèm chết
như người Mĩ thèm sống!”
Từ đó có sự bất tương đương của 7000
người chết chỉ bằng một đòn vào một hệ thống số không chết.


Vậy là, ở đây tất cả lấy cái chết mà chơi, không chỉ bằng
sự đột nhập tàn bạo của cái chết trực diện, tức khắc, mà còn bằng
sự đột nhập của một cái chết còn hơn cả thực nữa: cái chết tượng
trưng và hiến sinh – có nghĩa là biến cố tuyệt đối và vô phương
cứu chữa.

Ðó là tinh thần của khủng bố.

Không bao
giờ tấn công một hệ thống theo tương quan lực lượng. Cái đó, chính
là cái tưởng tượng (cách mạng) mà chính hệ thống áp đặt, nó chỉ
sống còn bằng cách không ngớt dẫn dụ những ai tấn công nó hãy giao
tranh trên trận địa của thực tế, luôn luôn là trận địa của nó.
Nhưng dời cuộc đấu tranh sang cõi tượng trưng, nơi quy luật laø
quy luật của thách thức, của quật ngược, của tố thêm. Sao cho
trước cái chết nó chỉ có thể đáp lại bằng một cái chết ngang ngửa
hoặc cao hơn. Thách thức hệ thống bằng một tặng phẩm nó không thể
đáp lại trừ phi bằng cái chết của chính nó và sự suy sụp của chính
nó.

Giả thiết khủng bố, ấy là chính hệ thống tự sát để đáp
lại vô số thách thức của cái chết và tự sát. Bởi ngay cả hệ thống
lẫn quyền lực cũng không thoát khỏi nghĩa vụ tượng trưng – và cơ
may duy nhất để chúng tai biến nằm ngay trên cạm bẫy này. Trong
chu kì chóng mặt của sự đổi chác quá quắt bằng cái chết, cái chết
của kẻ khủng bố là một điểm cực tiểu, nhưng nó gây một sức hút,
một khoảng trống, một đối lưu khổng lồ. Quanh điểm nhỏ nhoi kia,
toàn hệ thống, hệ thống của thực hữu và cường lực, cô đặc lại, co
giật, thu mình, và sụp chìm trong siêu hiệu năng của chính nó.


Chiến thuật của kiểu mẫu khủng bố là gây ra một quá độ về
thực tế và khiến hệ thống sụp đổ dưới sự quá độ thực tế này. Tất
cả sự châm biếm của tình thế đồng thời với sự bạo động và quyền
lực động viên sẽ quật lại chính nó, bởi những hành vi khủng bố vừa
là tấm gương khuếch đại sự bạo động của chính quyền lực, vừa là
khuôn mẫu cho một bạo động tượng trưng cấm kị đối với quyền lực,
cho thứ bạo lực độc nhất mà quyền lực không thể hành xử: bạo lực
tự sát.

Bởi thế toàn thể cường lực lồ lộ không thể làm gì
được với cái chết nhỏ nhoi nhưng tượng trưng của một vài cá nhân,


Cần phải nhận ra điều rành rành là có một thứ khủng bố mới
đã ra đời, một hình thức hành động mới chịu chơi và đoạt lấy những
quy luật của cuộc chơi để càng dễ bề thao túng. Những kẻ đó không
chỉ riêng chẳng tranh đấu bằng vũ khí bình đẳng, bởi họ đem chính
cái chết của mình đặt cược, cái chết không thể có đáp ứng (“đó là
lũ hèn nhát”), mà họ còn đoạt lấy toàn thể vũ khí của cường lực
thống trị. Tiền bạc và đầu cơ chứng khoán kĩ thuật học thông tin
và phi hành, kích thước trình chiếu và mạng lưới truyền thông: họ
đã đồng hoá tính hiện đại và tính toàn cầu, mà không đổi hướng, ấy
là huỷ diệt cường lực kia.

Ðầy mưu chước, họ còn sử dụng
cả sự tầm thường của cuộc sống Mĩ hàng ngày làm mặt nạ và trò chơi
hai mặt. Ngủ ở ngoại ô, đọc và học tại gia đình, trước khi một
ngày kia thức dậy hoá thành những trái bom nổ chậm. Sự làm chủ
không chút sơ hở nào tính ẩn lậu này hầu như cũng đượm màu khủng
bố chẳng khác nào hành động ngoạn mục ngày 11 tháng 9. Bởi nó
quăng sự tình nghi lên đầu bất kì cá nhân nào: bất kì kẻ lương dân
nào lại chẳng là một tay khủng bố trong manh nha? Nếu những kẻ kia
lọt tầm chú ý vậy thì ai ai cũng là một tội phạm lọt tầm (mỗi máy
bay cũng trở thành nghi can), và trong sâu xa có thể là đúng sự
thật. Ðiều này có thể tương ứng với một dạng vô thức về phạm tội
manh nha, che giấu, dồn nén kĩ càng, nhưng luôn có cơ nếu không
nảy chồi, thì ít ra cũng ngấm ngầm rung động trước cảnh tượng của
cái Ác. Như thế biến cố đâm nhánh tận trong chi li – là cội nguồn
của một sự khủng bố tinh thần còn tế vi hơn nữa.

Khác biệt
triệt để, ấy là những kẻ khủng bố, trong lúc tha hồ vận dụng những
vũ khí của hệ thống, còn vận dụng thêm nữa một vũ khí chí tử: cái
chết của chính họ. Nếu họ chỉ giới hạn vào việc dùng chính những
vũ khí của hệ thống để chiến đấu với nó, họ sẽ bị tức khắc loại
trừ. Nếu họ chống đối hệ thống riêng bằng cái chết của mình, họ
cũng tiêu ma lẹ làng không kém trong một hi sinh vô ích – đó là
điều hầu như sự khủng bố luôn xử sự cho đến nay (như những tấn
kích cảm tử của người Palestine) và do đó đành hỏng cuộc.


Mọi sự thay đổi từ lúc họ phối trí tất cả những phương
tiện hiện đại tiện dụng với vũ khí có tầm tượng trưng cao độ này.
Vũ khí này luôn nhân tiềm năng huỷ diệt đến vô tận. Chính sự nhân
lên của các thừa số (đối với chúng ta gần như không thể điều hoà)
đã cho họ một ưu thế đến mức độ ấy. Ngược lại, chiến lược của số
không chết, của chiến tranh “sạch”, bị bật khớp ngay chỗ cường lực
“có thực” bị cường lực tượng trưng làm biến dạng.

Thành
quả kì diệu của một sự tấn kích như thế tạo nên vấn đề, và để hiểu
phần nào ta cần phải tách khỏi lối nhìn phương Tây để thấy rõ sự
việc xảy ra trong tổ chức của họ và trong đầu những kẻ khủng bố
như thế nào. Một hiệu năng như thế giả thiết nơi chúng ta một sự
tính toán, một lí tính tối đa, mà chúng ta khó tưởng tượng có được
nơi kẻ khác. Và ngay trong trường hợp này, luôn luôn có, như trong
bất kì tổ chức thuaàn lí hoặc mật vụ nào, những tiết lậu và những
ngấn tích.

Vậy là bí quyết của một thành quả như thế nằm ở
chỗ khác. Khác biệt là, ở họ, không phải là vấn đề của một khế ước
lao động, mà là một thoả ước và một nghĩa vụ hiến tế. Một nghĩa vụ
như thế tránh thoát mọi dò tìm và mọi mua chuộc. Phép lạ là thích
nghi được với mạng lưới toàn cầu, với nghi thức kĩ thuật, mà không
hề bị mất đi cái đồng loã trong sống và chết. Ngược với khế ước,
thoả ước không liên kết các cá nhân – ngay việc họ “tự sát” cũng
không phải lối anh hùng cá nhân, mà là một hành động hiến tế tập
thể mang dấu ấn của một đòi hỏi lí tưởng. Và chính sự phối hợp hai
lối xử trí, một của cơ cấu thao tác và một của thoả ước tượng
trưng, đã khiến một hành động vượt mức như thế khả dĩ làm được.


Chúng ta không còn nghĩ gì được về một phép tính tượng
trưng, như trong lối đánh xì phé hoặc trong lễ hội thi đua khoản
đãi (potlatch) [của người Da đỏ Bắc Mĩ]: đặt cược tối thiểu, thành
quả tối đa. Những kẻ khủng bố trong vụ tấn kích ở Manhattan [New
York] đã đạt được đúng như thế, minh chứng hùng hồn cho lí thuyết
về hỗn mang (la théorie du chaos): một kích xúc sơ khởi gây ra
những hậu quả khôn lường, trong khi sự bố trí khổng lồ của Mĩ
(“cơn bão sa mạc”) chỉ thâu lượm những hậu quả nực cười – cả trận
cuồng phong chấm dứt có thể nói thành cái vỗ cánh của bươm bướm.


Khủng bố tự sát vốn là một khủng bố của dân nghèo, nhưng
vụ này là một khủng bố của dân giàu. Và chính điều đó làm chúng ta
riêng sợ; họ đã giàu lên (họ có đủ phương tiện làm giàu) và vẫn
không thôi khiến làm chúng ta tiêu ma. Thực vậy, theo hệ thống giá
trị của chúng ta, họ chơi lận: đem chính cái chết của mình vào
cuộc chơi thì không phải là chơi. Nhưng họ bất kể chuyện đó, và
những quy luật mới của cuộc chơi không còn tuỳ thuộc chúng ta nữa.


Mọi cách đều tốt để gán tai tiếng cho những hành động của
họ, nào là “bọn tự tử”, “lũ tuẫn đạo”. Rồi bồi thêm liền rằng sự
tuẫn đạo chẳng chứng tỏ gì hết, chẳng liên hệ gì với chân lí, lại
(viện dẫn Nietzsche) rằng sự tuẫn đạo chính là kẻ thù số một của
chân lí. Ðúng vậy, cái chết của họ không chứng tỏ gì hết, nhưng
chẳng có gì để chứng tỏ trong một hệ thống mà chính chân lí không
thể nắm bắt được – hay chúng ta lại ngỡ là mình cần giữ chân lí?
Mặt khác, lập luận cao đạo này lộn nhào. Nếu sự tuẫn đạo tự nguyện
của những phi công thần phong quyết tử không chứng tỏ được gì, thì
sự tuẫn đạo vô nguyện của những nạn nhân trong vụ tấn kích cũng
chẳng chứng tỏ gì hết, và có cái gì trái khoáy và tục tằn trong
việc lấy đó làm lập luận đạo đức (điều này không hề có tiên kiến
gì về nỗi đau và cái chết của họ).

Một lập luận nguỵ tín
khác: những kẻ khủng bố này lấy cái chết để đánh đổi một chỗ trên
thiên đàng. Hành động của họ không phải vô cầu, vậy nên không chân
thật. Hành động đó sẽ chỉ là vô cầu nếu họ không tin vào Thượng
đế, nếu cái chết không kèm hi vọng, như đối với chúng ta (tuy
nhiên những kẻ tuẫn đạo Kitô giáo cũng có trông chờ gì khác với sự
đẳng giá cao cả này đâu). Vậy là, ngay điểm này, họ cũng không
chiến đấu với vũ khí bình đẳng, bởi họ có quyền hưởng sự cứu rỗi,
trong lúc chúng ta không còn duy trì nổi ngay cả niềm hi vọng đó.
Vậy là chúng ta để tang cho cái chết của mình, trong khi họ có thể
mang nó ra đặt cược trong cuộc chơi định tính cực cao.

Xét
cho cùng, tất cả điều đó, nguyên uỷ, bằng chứng, chân lí, phần
thưởng, mục đích và những phương tiện, đó là mối lối tính toán đặc
kiểu phương Tây. Ngay cả cái chết chúng ta cũng lượng giá nó theo
lãi suất, bằng tương quan phẩm chất/giá cả. Tính toán kinh tế là
một lối tính toán của dân nghèo và ngay cả can đảm đặt giá cho nó
cũng chẳng còn nữa.

Cái gì có thể xảy ra – ngoại trừ chiến
tranh mà tự thân cũng chỉ là một màn chắn quy ước? Người ta bàn
tán về khủng bố sinh học, về chiến tranh vi trùng, về khủng bố hạt
nhân. Nhưng tất cả những thứ đó chẳng có cái nào thuộc phạm vi
thách thức tượng trưng, mà thuộc hẳn về sự tận diệt khỏi thêm lời,
không vinh quang, không hiểm nghèo, thuộc phạm vi giải pháp tối
hậu.

Thế nhưng sẽ là hành động trái nghĩa nếu thấy trong
hành động khủng bố một luận lí thuần huỷ diệt. Ðối với tôi, cái
chết của chính họ không thể tách lìa với hành động của họ, (đó
chính là cái tạo nên hành vi tượng trưng), chứ không hề là sự loại
trừ tha nhân một cách vô ngã. Tất cả ở trong sự thách thức và sự
quyết đấu, nghĩa là còn trong một tương quan song đấu, hữu ngã với
cường lực thù nghịch. Cường lực đó đã hạ nhục các người, nó phải
bị hạ nhục. Và không phải chỉ đơn thuần thanh toán. Phải làm nó
mất mặt. Và điều đó ngươời ta không bao giờ có thể đaït được thuần
bằng sức mạnh và thuần bằng cách triệt hạ tha nhân. Ðối thương
phải bị nhắm và làm cho thâm tím mặt mày ngay giữa đương trường
thù chịch. Ngoài thoả ước nối kết những kẻ khủng bố với nhau, còn
có phần nào một thoả ước song đấu với đối phương. Vậy là trái hẳn
với sự hèn nhát mà người ta cáo buộc họ, và trái hẳn với điều
người Mĩ chẳng hạn làm trong cuộc chiến vùng Vịnh Ba tư (và họ
đang sắp tái diễn ở Afghanistan): mục tiêu vô hình, thanh toán
thao tác.

Trên tất cả mớ bòng bong đó, chúng ta giữ vẹn
thị kiến về những hình ảnh. Và chúng ta phải giữ sự cấp xúc về
hình ảnh ấy, cùng với sự mê hoặc của chúng, bởi dù muốn dù không,
chúng laø cảnh tượng nguyên sơ của chúng ta. Và những biến cố ở
New York, đồng thời với việc kịch liệt hoá tình thế toàn cầu, cũng
sẽ kịch liệt hoá tương quan hình ảnh và thực tại. Trong khi trước
đây người ta mắc vào một sự thừa mứa không hề gián đoạn về những
hình ảnh tầm ruồng và một sự tràn ngập không hề gián đoạn về những
biến cố dỏm, thì hành động khủng bố ở New York đồng thời làm sống
lại cả hình ảnh và biến cố.

Trong số những vũ khí khác của
hệ thống mà họ quật ngược lại, những kẻ khủng bố đã khai thác được
thời gian thực diễn của hình ảnh, và sự quảng bá toàn cầu tức
khắc. Họ chiếm hữu nó cùng danh nghĩa như với sự đầu cơ thị trường
chứng khoán, thông tin điện tử, hay phi hành hàng không. Vai trò
của hình ảnh cực hàm hồ. Bởi cùng lúc hình ảnh xiển dương biến cố,
nó cũng bắt giữ biến cố làm con tin. Nó chơi trò nhân lên đến vô
tận, đồng thời lại như giải trí và vô hiệu hoá (như đã làm thế với
những biến cố hồi 1968). Ðó là điều người ta luôn quên khi nói về
“nguy cơ” của những phương tiện truyền thông. Hình ảnh tiêu thụ
biến cố, theo nghĩa nó hấp thu và cho lại biến cố đeå tiêu thụ.
Hẳn nhiên nó đem lại cho biến cố một tác động chưa hề có cho đến
nay, nhưng trong cung cách một biến cố – hình ảnh.

Như vậy
biến cố thực hữu còn lại gì, nếu khắp nơi hình ảnh, giả tưởng, hư
tượng (le virtuel) tràn lan trong thực tại? Trong trường hợp hiện
nay, người ta đã ngỡ thấy (có lẽ phần nào khuây khoả) cái thực hữu
trỗi dậy và quyết liệt trong một vũ trụ tưởng là hư tượng. “Dẹp
hết những chuyện hư tưởng của các người đi – đó thế mới là cái
thực!” Cũng vậy, người ta đã có thể thấy ở đó lịch sử hồi phục
vượt cả hồi chung cuộc được loan báo của nó. Nhưng thực tại quả có
vượt giả tưởng? Nếu thực tại dường như làm được điều đó, ấy là nó
đã hấp thu năng lượng của giả tưởng, và chính nó trở thành giả
tưởng. Người ta hầu như đã có thể nói là thực tại ghen với giả
tưởng, rằng cái thực ghen với hình ảnh. Ðó là một loại song đấu
giữa chúng, xem ai sẽ là cái không thể tưởng tượng được nhất hơn
cả.

Sự sụp đổ của những ngọn tháp Trung tâm Thương mại Thế
giới là không thể tưởng tượng nổi, nhưng điều đó không đủ khiến
làm sự sụp đổ kia thành một biến cố thực hữu. Một quá độ bạo động
không đủ mở ra thực tại. Bởi thực tại là một nguyên lí, và chính
cái nguyên lí này bị thua. Cái thực hữu và cái giả tưởng không thể
tách lìa, và sự mê hoặc của cuộc tấn kích trước hết là sự mê hoặc
của hình ảnh (những hậu quả vừa hồ hởi vừa tai biến tự thêm phần
lớn cũng là tưởng tượng của hình ảnh).

Vậy là, trong
trường hợp này cái thực hữu cộng thêm vào hình ảnh như một tưởng
thưởng của khủng bố, như một rúng động thêm. Nó không chỉ kinh
hoàng, mà còn có thực nữa. Không hẳn là sự quyết liệt của thực hữu
có đó trước, rồi rung động của hình ảnh thêm vào. Cái gì như thể
một giả tưởng thêm nữa, một giả tưởng vượt quaù giả tưởng. [J.G.]
Ballard (sau Borges) cũng đã nói như thế về sự tái tạo thực hữu
như cái giả tưởng tối hậu và đáng kinh khiếp nhất.

Sự bạo
động khủng bố này vậy không phải là ngọn lửa quật ngược của thực
tại, cũng chẳng phải lịch sử quật ngược. Sự bạo động khủng bố này
không phải “thực hữu”. Theo một nghĩa, nó còn tồi hơn thế: nó là
tượng trưng. Bạo động tự thân có thể hoàn toàn tầm thường và vô
hại. Chỉ có bạo động tượng trưng mới sản sinh ra đặc dị. Và trong
biến cố đặc dị này, và trong cuốn phim tai biến của Manhattan này
phối hợp đến cao điểm nhất hai thành tố mê hoặc quần chúng của thế
kỉ 20: ma thuật trắng của điện ảnh, và ma thuật đen của khủng bố.
Ánh sáng trắng của hình ảnh, và ánh sáng đen của khủng bố.


Sau vụ việc người ta tìm cách áp đặt lên nó bất kì ý nghĩa
nào, kiếm đường thông giải nó bất kì kiểu nào. Nhưng nó có đâu
những thứ ấy, và chính sự triệt để của cảnh tượng, sự tàn bạo của
cảnh tượng mới riêng là độc đáo và không thể giảm trừ. Cảnh tượng
về sự khủng bố áp đặt sự khủng bố về ảnh tượng. Và đối lại sự mê
hoặc vô luân này (dù cho nó bật ngòi cho một phản ứng luân lí phổ
quát), trật tự chính trị đành bó tay. Ðó là sân khấu tàn bạo (le
théâtre de la cruanté) của chính chúng ta, sân khấu độc nhất còn
lại – khác thường ở chỗ nó liên kết cực điểm của cảnh tượng với
cực điểm của thách thức. Nó đồng thời vừa là vi kiểu mẫu chói loà
của một hạt nhân bạo động thực hữu với một phòng hồi thanh tối đa
– Vậy là dạng thức thuần tuý nhất của cảnh tượng – và một kiểu mẫu
hi sinh đem cái dạng thức tượng trưng thuần tuý nhất của thách
thức để đối lại với trật tự lịch sử và chính trị.

Bất kì
sự giết chóc nào cũng có thể được tha thứ cho họ, nếu nó có một ý
nghĩa, nếu nó có thể thông giải được như một bạo động – đó là định
đề luân lí cho bạo động tốt lành. Bất kì bạo động nào cũng có thể
được tha thứ cho họ, nếu không được các phương tiện truyền thông
tiếp cận (“Bạo động chẳng là gì hết nếu không có truyền
thông”
). Nhưng toàn thể điều này là không tưởng. Không có việc
sử dụng tốt các phương tiện truyền thông, truyền thông là một bộ
phận của biến cố, một bộ phận của khủng bố, và truyền thông diễn
theo nghĩa này hoặc theo ý nghĩa khác.

Hành vi đàn áp cũng
chạy theo đường một đường xoắn ốc không thể dự kiến như hành vi
khủng bố, chẳng ai biết được nó sẽ dừng lại ở đâu, và những chuyển
hướng sẽ tiếp nối. Không thể phân biệt được, trên bình diện hình
ảnh và thông tin, giữa cái cảnh tượng và cái tượng trưng; không
thể phân biệt được giữa “tội ác” và đàn áp. Và chính sự diễn tiến
không thể kiểm soát được này của tính nghịch đảo lại là thắng lợi
đích thực của khủng bố. Thắng lợi nhìn được trong những phân nhánh
và thâm nhập dưới lòng đất của biến cố – không chỉ trong sự suy
thoái trực tiếp, về kinh tế, chính trị, chứng khoán, và tài chính,
của toàn bộ hệ thoáng, và trong sự suy thoái tinh thần và tâm lí
bởi đó, mà còn trong sự suy thoái của hệ thống giá trị, của toàn ý
hệ về tự do, về lưu thông tự do vân vân… vốn tạo niềm hãnh diện
cho thế giới phương Tây, và nó cậy vào đó để thi triển uy lực trên
phần còn lại của thế giới.

Tới độ mà ý tưởng tự do, một ý
tưởng mới mẻ và cận đại, đang trên đà xoá mất khỏi tập tục và ý
thức. Và sự toàn cầu hoá theo chủ nghĩa tự do đang trên đà tự thực
hiện dưới hình thức hoàn toàn nghịch lại: hình thức một sự toàn
cầu hoá công an, một sự kiểm soát toàn diện, một sự khủng bố bảo
an. Sự triệt quy chấm dứt trong sự tối đa kiềm chế và giới hạn
tượng trưng như trong một xã hội theo chủ nghĩa bảo căn
(fondamentalisme).

Suy giảm sản xuất, tiêu thụ, đầu cơ,
tăng trưởng (nhưng chắc chắn không suy giảm tham nhũng!): tất cả
diễn ra như thể một hệ thống toàn cầu tiến hành một thoái bộ chiến
lược, một sự xét lại não lòng về giá trị – hầu như để phản ứng
phòng thủ trước tác động của khủng bố, nhưng trong sâu xa đáp ứng
lại những huấn thị mật – điều chỉnh cưỡng bách xuất phát từ xáo
trộn tuyệt đối, nhưng tự áp đặt để trong một cung cách nội tại hoá
thất bại của tự thân.

Một khía cạnh khác của chiến thắng
của những kẻ khủng bố, ấy là tất cả những dạng thức khác của bạo
động và bất ổn đều diễn ra thuận lợi cho nó: khủng bố thông tin,
khủng bố sinh học, khủng bố của bệnh than và tin đồn, tất cả đều
được gán cho Bin Laden. Ông còn có thể nhận công luôn cả những tai
ương tự nhiên. Mọi hình thức rối trật tự và ách tắc lưu thông, đều
có lợi cho ông ta. Ngay cấu trúc của trao đổi thế giới phổ quát
hoá cũng thiên vị cho trao đổi bất khả. Thực như thể một văn tự tự
động của khủng bố, được tiếp dưỡng bằng khủng bố vô nguyện của
thông tin. Với tất cả những hậu quả kinh hoàng từ đó mà ra: nếu,
trong toàn thể câu chuyện về bệnh than, sự nhiễm độc tự diễn bằng
kết tinh tức thời, như một dung dịch hoá học chỉ cần tiếp xúc với
một phân tử, ấy là bởi toàn hệ thống đã đạt tới một khối lượng tới
hạn khiến nó bị tổn thương với bất kì xâm kích nào.

Không
có giải pháp cho tình huống cực đoan này, bất hạnh không thể là
chiến tranh, vốn chỉ cung ứng một tình huống đã thấy qua, cùng với
sự ồ ạt trút quân, thông tin ma, dùi cui vô bổ, diễn từ lừa gạt và
thảm hại, dàn trận kĩ thuật học và tẩm độc. Vắn tắt, như cuộc
chiến vùng Vịnh Ba tư, một phi biến cố, một biến cố thực chẳng xảy
ra.

Mặt khác, đó chính là lí do hiện hữu của nó: thay thế
một biến cố đích thực và ghê gớm, duy nhất và khôn lường bằng một
giả biến cố lặp lại và đã thấy qua. Tấn kích khủng bố tương ứng
với một sự siêu xuất của kiểu mẫu với biến cố, vậy nên tương ứng
với một cuộc chơi giả tạo và với một sự vô can. Chiến tranh như sự
nối dài của sự trống vắng chính trị bằng những phương tiện khác.

 
© talawas 2026