Hassan Davud
Hội chợ sách Frankfurt lần thứ 56 với 268.000 khách, 6691 nhà xuất bản từ 111 quốc gia, vừa kết thúc. Trung tâm của Hội chợ năm nay là „Thế giới Ả-rập“ với sự tham gia của 19 nước Ả-rập. Theo lời ông giám đốc Volker Neumann, Triều Tiên sẽ là trung tâm của hội chợ sách Frankfurt năm sau (19-23.10.2005).
talawas
Khoảng đầu những năm tám mươi, một thân hữu làm xuất bản đã nhờ tôi kiểm tra lại một số bản thảo được chuyển đến nhà xuất bản của anh, rồi cho biết nhận xét của mình. Mặc dù nhà xuất bản này mới ra đời khoảng hai, cùng lắm là ba năm, nhưng nó đã nhận được rất nhiều bản thảo từ các nước Ả-rập gửi về Beirut; thế vẫn chưa đủ, bạn tôi còn bổ sung vào chương trình xuất bản rộng lớn những bản thảo được dịch từ những ngôn ngữ khác, trong đó có cả tiếng Nhật mà theo tôi biết thì cho tới nay chưa hề được chuyển sang tiếng Ả-rập. Anh cho tôi xem bản viết tay danh mục những cuốn sách đã phát hành ở nhiều nước Ả-rập. Marocco: 500 bản, Iraq: 500 bản, Sudan: 200 bản, Jordan, v.v. Số in mỗi cuốn là 3000 bản. Thành phố Beirut thời đó là trung tâm xuất bản của thế giới Ả-rập và trong những năm này, thu nhập của Lebanon từ lĩnh vực xuất bản đã vượt qua số thu từ xuất khẩu táo là ngành đem lại thu nhập quan trọng nhất cho đất nước. Báo chí Lebanon, lúc đó đang vướng vào những tranh chấp chính trị và hệ tư tưởng, đánh giá xuất bản là một ngành có ý nghĩa cao. Cả những tập san văn học do tư nhân xuất bản cũng được lưu hành dù nhiều tờ chỉ có số in ít ỏi.
Trong những năm ấy, Lebanon tỏ ra đã giành hẳn khỏi tay Ai-cập vai trò tiên phong trên thị trường sách Ả-rập. Từ đó, Ai-cập đành vừa lòng với việc chỉ xuất bản sách của các tác giả nước mình; bởi độc giả Lebanon, Iraq hoặc Syria không còn chấp nhận những xuất bản phẩm của Ai-cập nữa, mà lý do cũng không hẳn vì chất lượng in tồi. Beirut đã trở thành trung tâm xuất bản của thế giới Ả-rập. Lý do có lẽ vì Beirut khi ấy là thủ đô Ả-rập cởi mở nhất, một thành phố tạo thuận lợi nhiều nhất cho những ai muốn viếng thăm và là thành phố với chế độ tự do hoàn toàn cho báo chí – một địa điểm thu hút giới trí thức của thế giới Ả-rập.
Những trung tâm bị giải tán
Những thuận lợi ấy, Lebanon đã mất đi nhiều trong thời gian nội chiến; làm sao nó vẫn hoặc lại trở về vị trí một thủ đô sách báo Ả-rập được? Dần dà người ta càng biết thêm nhiều tên các nhà xuất bản khác. Một số trong đó có xuất xứ từ những nước mà mới thời gian gần đây, ta phải quen dần với ý nghĩ rằng họ in sách và có thể sẽ trở thành một đối thủ trên thị trường này. Ở Marocco có một nhà xuất bản mà sản phẩm của nó, ngay từ những ngày đầu đã có mặt tại Beirut, đúng theo cái truyền thống là mỗi cuốn sách chữ Ả-rập đều được in ra cho mọi người trong thế giới Ả-rập. Nhưng chẳng bao lâu sau thì việc phát hành những cuốn sách này đã thu hẹp lại, người ta chỉ nhận được chúng tại những hội thảo mà ở đó họ đem sách trao đổi với các nhà văn khác.
Các hãng xuất bản tư nhân cũng được thành lập ở Syria sau bao nhiêu năm dài bộ văn hóa và hội nhà văn Syria là những cơ quan xuất bản độc quyền; tuy nhiên sách của các hãng này chỉ có mặt ở các nước Ả-rập khác trong những kỳ hội chợ sách. Các nhà xuất bản ở Cyprus cũng xuất hiện giống như thế (dù rằng chúng, gần như chưa khai trương thì đã đóng tiệm rồi). Tất cả những điều này cho thấy hoạt động xuất bản đã trở nên sôi động, nhưng nơi gọi là trung tâm của nó thì cứ dần dần biến mất hoặc là bị nó chối từ. Chẳng còn „Chợ sách Ả-rập“ như xa xưa từng có nữa; trung tâm ngành xuất bản Ả-rập không còn chuyển từ thành phố này đến một thành phố nào đó khác, như có thời từ Cairo đã về Beirut buông neo. Còn những nước trước đây từng nhập sách từ những trung tâm này và đến nay chưa thành lập một nhà xuất bản riêng nào như Iraq và Sudan thì cũng không đủ sức mà mua sách nhập – dân chúng bây giờ đã quá túng nghèo. Chiều hướng này rõ ràng ít nhiều quan hệ với những trào lưu dân tộc chủ nghĩa mà người ta đã từng hoài nghi đối diện; tất cả đã gánh chịu những tổn thất thảm thương về vật chất và đạo đức do những tranh chấp có tính „toàn khối Ả-rập“ gây nên, đã chán chường với những lời hứa trống rỗng và sự đầu độc trí não bằng chiến thắng cuối cùng. Những gì liên can đến văn hóa chỉ cho thấy rằng việc ra đời một trung tâm mới của trí thức Ả-rập vẫn nằm ngoài tầm mắt. Ða số những cuốn sách được in ra ở Beirut với số in ít đến phát xấu hổ vẫn yên vị trong những quầy sách tại đây.
Văn hóa đọc biến mất
„Ở Lebanon chẳng thấy ai đọc sách“ – con cái những người thân của chúng tôi đã sang châu Âu sinh sống nói thế, khi chúng về thăm quê cũ. Không thấy ai đọc sách – chúng nói – ngược lại thì ở châu Âu người ta đọc trong tầu điện ngầm, trên xe buýt hoặc ở công viên. Một cơ quan giáo dục tư nhân ở Lebanon trước đây ba năm đã làm một cuộc thăm dò ý kiến các sinh viên khoa xã hội học và xác nhận rằng phần lớn sinh viên không đọc gì thêm ngoài những sách cần cho chương trình học, trong suốt cả thời gian ba năm đại học. Thời những năm sáu mươi, các sinh viên đều tham gia những nhóm chính trị hoặc giáo điều khác nhau; ở đó, khi người ta muốn cùng sinh hoạt thì đều phải đọc sách. Thời đó qua rồi – văn hóa chẳng còn là nhu cầu sống động nữa, giống như các tổ chức chính trị cũng không còn là nền tảng cho một quan điểm văn hóa nhất định nào đó. Người ta đổ lỗi cho những chương trình ti vi truyền qua vệ tinh đã làm mất đi sự hấp dẫn của văn hóa. Qua ti vi người ta biết được mọi thứ, kể cả văn hóa – đó là lời giải thích. Một nhà thơ thân quen vừa tham dự liên hoan văn hóa Jordan ở Djarash đã giải thích cho chúng tôi ý nghĩa những điều trên. Liên hoan này trước hết là chương trình trình diễn của ca sĩ Nancy Agram mà thành công của nó cũng do lối trang phục mỏng manh và những bài hát của cô mà mọi người Jordan đều có thể thuộc lòng. Ngược lại thì, cũng chính nơi đây, các nhà thơ vẫn xa lạ như những kẻ khác hành tinh.
Sách vở không còn là nhu cầu bắt buộc. Mỗi cuốn sách Ả-rập thực sự không rời khỏi cố hương một bước và may lắm cũng chỉ được dăm nhà trí thức chuyền tay. Tôi không biết liệu ngày nay còn có chăng khả năng để một trào lưu văn hóa hay nghệ thuật mới tác động lên văn hóa Ả-rập như thi ca Iraq từng cách tân cả nền thơ Ả-rập những năm bốn mươi của thế kỷ qua. Hình như người ta chẳng còn trông mong điều đó hoặc chờ đợi ở bất cứ ai.
Tín giáo bất vị tha
Nhưng cũng còn những độc giả mà tới nay chỉ được ta dành cho một sự lưu tâm ít ỏi, mà sự nhìn nhận của họ đối với chúng ta theo một cách nào đó cũng không khá hơn gì. Một người trong số họ là Qais Ibrahim, người Iraq gốc Kurdistan và là thành viên nhóm Ansar al-Islam, bị bắt khi đang chuẩn bị nổ bom cảm tử. Mặc dù hiện ở trong tù, người đàn ông trẻ tuổi này không hề chịu rút những lời từng nói với một phóng viên tờ „Al-Hayat“, rằng bầu cử ở Iraq sẽ biến toàn bộ dân chúng thành mục tiêu của những vụ nổ bom cảm tử. Bởi vì bầu cử dân chủ trong trường hợp Iraq sẽ có nghĩa là đám dân phản đạo sẽ tự chọn những đại diện phản đạo của mình, và hành động li khai với Thượng Đế ấy phải bị trừng phạt bằng cái chết. Còn loại sách mà người đàn ông trẻ này đọc thì dường như đang chế ngự trong thế giới Ả-rập. Bằng một thứ tiếng Ả-rập mẫu mực, hoàn toàn không pha trộn ngôn ngữ dân dã, Qais Ibrahim khai trong biên bản: „Chúng tôi đã đọc những bài giảng của trưởng lão Amin az-Zawahiri, của trưởng lão Abd al-Munim Abd al-Halim (Abu Bashir) và của trưởng lão Abu Qutada ở London cũng như những giáo thuyết của Jamaa Islamiya ở Ai-cập; và tôi cũng được biết một số luận thuyết của ‚đội vũ trang tuyên ngôn Islam và tranh đấu’ dưới sự lãnh đạo của Hassan Hattab và Raschid Abu Turab ở Algeria cũng như những văn bản của ‚Ðội quân Aden’ ở Yemen, của một vài tổ chức ở Jordan hay của ‚Ðội tiên phong chiến đấu’ ở Syria“.
Đấy là cái nền văn hóa chung của tất cả các nước Ả-rập và của cả những nước không thuộc thế giới Ả-rập như Pakistan, Afghanistan hoặc Indonesia mà Ibrahim hẳn đã quên thêm vào. Ở đây thế giới Ả-rập lại hợp về một khối; và thậm chí có lẽ nó còn vươn xa hơn cái thuở chỉ có văn hóa làm cho những người Ả-rập sát cánh bên nhau. Chúng ta, đội ngũ những người đọc già nua, chẳng biết gì nhiều về nền văn học này và những tác gia của chúng, dẫu rằng nó vẫn hiện hữu bên ta. Nhưng những đại diện của nền văn hóa ấy cùng các độc giả của nó cũng chẳng biết hay muốn biết gì về chúng ta, hoặc muốn cho chúng ta hay những gì họ biết.
Cũng chẳng riêng gì sách báo. Ca nhạc của chúng ta cũng ít lọt vào tai họ, họ thù ghét và coi nó tầm thường, nhạt nhẽo; nên họ làm ra những bài hát, những phim ảnh riêng cho mình. Họ là những kẻ tân giáo điều chỉ có thể chấp nhận một tín điều duy nhất, trên những quốc gia Ả-rập của chúng ta.
Theo bản dịch từ tiếng Ả-rập của Michaela Kleinhaus
Hassan Dawud (1950), nhà văn Lebanon, cộng tác viên của tờ báo Ả-rập „Al-Hayat“ xuất bản tại London. Tác phẩm (trong bản dịch tiếng Pháp): „L’immeuble Mathilde“,„Des jours en trop“.
© 2004 talawas