trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
14.11.2005
Thái Kim Lan
Tìm một ngôn ngữ hòa bình…
 

III. Bài thơ dựng nước của Pháp Thuận thiền sư [1] :

1. Chống gậy giữ kinh vua!

Việt Nam thế kỷ thứ 10, vừa thoát khỏi ách đô hộ 1000 năm của Trung hoa, tình trạng quốc gia chưa ổn định sau hai triều đại ngắn ngủi Ngô, Ðinh. Nạn binh đao vẫn còn đe dọa ngay từ biên ải. Lê Ðại Hành lên ngôi với gánh nặng trên vai và hai tay đầy bổn phận: xây dựng đất nước, đối phó ngoại xâm. Chính trong giai đoạn đấu tranh giành quyền tự chủ, độc lập cho dân tộc cũng như trong thời kỳ dựng nước, kiến thiết quốc gia, ổn định xứ sở, chấn chỉnh quốc phòng, Phật giáo đã hiện diện tích cực với những vị sư như Khuông Việt, Ðịnh Không, Pháp Thuận, Cửu Chỉ, Vạn Hạnh…

Hình ảnh „Chống gậy trấn kinh vua“ [2] trong:

„Vạn Hạnh dung tam thế

Chân phù cổ sấm ky

Hương quan danh Cố pháp

Trụ tích trấn vương kỳ“

(Vạn Hạnh dung ba cõi

Thật hiệp lời sấm xưa

Quê hương tên Cổ Tháp

Chống gậy giữ kinh vua)

là một hình ảnh thật đẹp, biết rằng „kinh vua“ thời ấy không phải là nơi tập trung bạo quyền bạo chúa mà là thủ phủ đầu tiên „Nam quốc sơn hà Nam đế cư“ của đất nước Việt Nam, biểu tượng đầu tiên của tự chủ dân tộc, chống gậy Thiền để bảo vệ chủ quyền quốc gia, xây dựng xứ sở, có hình ảnh nào thiết thân hơn về sự dấn thân của những tu sĩ Phật giáo trong thời kỳ lập quốc? Chính hình ảnh ấy là câu trả lời đánh tan mọi hoài nghi và định kiến cho rằng đạo Phật dạy con người trốn đời và yếm thế. [3] Ngay trong tình hình đất nước chưa ổn định hoàn toàn, thế lực ngoại bang vẫn còn đe dọa, Pháp Thuận thiền sư đã trả lời câu hỏi của vua Lê Ðại Hành đang lo lắng về số phận tương lai của đất nước:

„Quốc tộ như đằng lạc

Nam thiên lý thái bình

Vô vi cư điện các

Xứ xứ tức đao binh“

(Vận nước như dây cuốn

Trời Nam mở thái bình

Vô vi trên điện các

Xứ xứ hết đao binh)

Bốn câu thơ này thường được đọc như lời sấm ký, tiên tri về vận mệnh của quốc gia dân tộc Việt. Kỳ thực nếu đọc chúng theo suy luận phân tích (phương pháp mà Phật đề ra cho các đệ tử ở Diệu đế thứ hai), ta thấy bốn câu thơ này bao hàm một triết chính về nền hòa bình „vĩnh cửu“ như một điều kiện xây dựng nền tự chủ dân tộc, đem lại phúc lạc cho quốc dân.

Bài thơ gói trọn định đề hòa bình với 4 yếu tố căn bản:

  1. Ý niệm nhất thể của một quốc gia trong đó người dân đoàn kết như một khối dây quấn vào nhau (quấn với nhau như dây mây chằng chịt). Câu thơ nói lên sự hình thành đất nước sau những cuộc chiến gian khổ giành độc lập, ranh giới bờ cõi đã rạch ròi, lãnh thổ ấy thuộc về dân Việt. Sự chung đụng của những người dân Việt trên mảnh đất cực Nam của Trung hoa đòi hỏi hòa bình. Kant đã xem điều kiện lãnh thổ là điều kiện tự nhiên làm cho con người phải sống hòa bình với nhau, mật độ dân số càng đông trên trái đất thì hòa bình lại càng cần thiết.
  2. Cho nên ý dân (cũng là ý trời) không gì khác hơn là mong muốn một nền hòa bình dài lâu. Nơi cõi trời Nam thái bình phải được bảo đảm để khai mở một nếp sống mới văn minh an lạc.
  3. Chính sách vô vi, chính sách có thể đem lại hòa bình và thịnh trị đất nước cần được thực hiện nơi cung điện, cần được những người cầm quyền hợp thức hóa như một đường lối quốc gia.
  4. Thực hiện thành công „vô vi“ thì mọi nơi trong cũng như ngoài nước chiến tranh sẽ hoàn toàn chấm dứt.

„Vô vi“thường bị những kẻ duy hoạt động thoạt tiên ngộ nhận bác bỏ. „Vô vi“ phải được giải thích trực tiếp từ quan điểm của đạo Phật về hòa bình trong điều kiện của đất nước thời bấy giờ phản ảnh trong bài thơ. Chính sách hòa bình „vô vi“ không những áp dụng cho nội trị an dân mà còn cho đường lối ngoại giao với một cường quốc hung hãn để tránh nạn đao binh cho dân tộc.

Trong tác phẩm Lịch sử Phật giáo Việt Nam giáo sư Lê Mạnh Thát [4] (LMT) đã viện dẫn thêm quan điểm của Khổng Tử về „vô vi chi trị“ để giải thích triết chính „vô vi“ của Pháp Thuận [5] :

„Trị đạo của vua Thuấn được Khổng Tử mô tả là một trị đạo vô vi, và trong Luận ngữ ta chỉ được thấy mô tả bằng hai chữ cung kỷ (nghiêm túc với chính mình), mà không thấy nói gì thêm nữa. Chỉ trong thiên trung dung ta mới thấy hai lần Khổng Tử đã mô tả lại trị đạo vô vi của vua Thuấn gồm những yếu tố gì. Ðó là phải có trí và có hiếu. Có trí để xét đoán sử dụng sở trường của người mà quên đi những sở đoản của họ, giữa những quan điển cực đoan biết chọn lấy một đường lối thích hợp để phục vụ cho người dân. Và có hiếu nhằm có đức lớn để có thể lãnh đạo được nhân dân“ [6] .

Tuy nhiên sự viện dẫn thêm kinh điển Nho giáo dùng để minh giải khái niệm „vô vi“ của Pháp Thuận thiền sư hình như đã giản lược thay vì làm nổi bật triết chính của một thiền sư đắc đạo nhập thế giúp đời, ý thức rất rõ trào lưu tư tưởng và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt thời ấy. Xu hướng cũng như ý chí của toàn dân đều chống lại nền đô hộ của Trung hoa, từ đó khuynh hướng tìm những học thuật mới, năng động, khả dĩ có thể giúp dân tộc thoát khỏi sự nô lệ nghìn năm của hệ tư tưởng Trung quốc là điều hiển nhiên. Hành trạng dấn thân tích cực của các nhà sư trên mọi lãnh vực văn hóa chính trị không thể chỉ dựa vào đường lối của Nho giáo, ngược lại cần phải minh bạch hóa sự khác biệt đối với các tư tưởng thống trị cũng như nhấn mạnh lập trường dân tộc và triển khai khả năng giải quyết những vấn đề xã hội trong tương lai. Các vị sư đồng thời cũng là những quân sư trong trong giai đoạn lịch sử ấy đã nhận rõ vị trí tích cực của triết lý Phật giáo trong việc xây dựng một nền hòa bình lâu dài cho đất nước. Một thiền sư khác đồng thời đã có nhận định rất tinh tế về sự khác biệt của đạo Phật và Khổng Lão như sau:

„Khổng Mặc chấp có, Trang Lão mê không. Sách vở thế tục chẳng phải là phương giải thoát. Chỉ có Phật giáo không kể có không, có thể rõ sanh tử. Nhưng phải siêng năng giữ giới, tìm thiện trí thức ấn chứng cho mới được…“ [7]

Những suy nghĩ trên cho ta hiểu được Thiền sư Pháp Thuận không thể không lấy tư tưởng của Phật giáo để xây dựng triết chính „hòa bình“ như một quốc sách đề ra.“Vô vi“ phải là phương kế lâu dài bảo đảm hòa bình là nền tảng của trật tự xã hội, đồng thời đem lại làn gió mới về nhân sinh quan cũng như vũ trụ quan trong căn nhà văn hóa dân tộc còn hoang sơ.

2. Lý thuyết hòa bình với „vô vi“

Cơ sở tư tưởng ấy phải được diễn dịch không ở đâu khác hơn chính từ bản thể luận và nhận thức luận Phật học, như Hòa thượng Thích Thiện Siêu (HTTTS) đã giảng giải:

„Chữ “Vô vi cư điện các” này phải hiểu: Vô vi không có nghĩa là không làm gì hết, nhưng có nghĩa là làm mà không có tư dục, không có tư tâm. Không những thế, chữ vô vi trong đạo Phật khác với chữ vô vi trong đạo Lão. Ðạo Lão nói đạo là thường hằng tự nhiên, không có danh, không thể nói. Muốn được an thì cứ thả tâm tự nhiên theo đạo, không tác vi gì cả, chữ vô vi trong đạo Phật là dịch từ chữ Phạn “Asamskrita”, có nghĩa là không tạo tác, chỉ cho pháp lành thường trụ không do nhân duyên tạo tác, không có sanh diệt biến hoại, khác với pháp hữu vi là pháp do nhân duyên tạo tác, có sanh diệt biến hoại, nên pháp vô vi chính là một tên khác của Niết-bàn. Như trong luật Tứ phần, đức Phật Tỳ-bà-thi dạy: “Nhẫn nhục đệ nhất đạo, Phật thuyết vô vi tối…” nhẫn nhục là hạnh tu cao nhất, Niết-bàn là đạo tối thượng. Niết-bàn là tịch tịnh vô vi an lạc, ngoài mọi vọng tình tà kiến chấp trước. Như kinh Ðại nhật phẩm Trụ tâm nói: “Bồ-tát vì chúng sanh trong pháp giới, không từ mệt nhọc, thành tựu an trụ học giới vô vi, xa lìa tà kiến, thông đạt chánh kiến”. Hay “thâm quán pháp tánh vô vi, hoặc sanh hoặc pháp (tức hoặc chấp thật có ngã, thật có pháp) đều vô sở đắc”. Chính trong tinh thần vô sở đắc đó, kinh Kim cang dạy rõ: “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm” là hãy đừng trụ vào tướng gì cả mà sanh tâm bố thí, trì giới v.v.

Như vậy, chữ “vô vi” trong đạo Phật đâu có nghĩa là không làm gì hết, trái lại vô vi là làm tất cả những gì thuận với pháp tánh, Niết-bàn, chân như, theo đó không có chút ý tưởng chấp ngã, chấp nhân, chấp pháp… Ngồi ở ngôi cao cai trị muôn dân với một tinh thần vô vi, vị tha trị nước, không có tư dục, không có tư tâm, tất nhiên nước sẽ yên, dân sẽ bình, không có những sự rối rắm và không có giặc giã nổi lên. Lão Tử nói: “Bất quí nan đắc chi hóa, sử nhân bất đạo”, người ở ngôi cao mà không thèm quí những vật khó kiếm được, thì dân sẽ học theo đó mà không sanh tâm trộm cắp.“ [8]

Ðối với Pháp Thuận thiền sư cũng như những thiền sư tham gia trong bối cảnh lịch sử đương thời, „không tạo tác“ (asamskrita) không có nghĩa hoàn toàn là „thường hằng tự nhiên“ như Lão Tử „mê không“ (Cửu Chỉ, đd). „Asamskrita“ là cả một quá trình tu chứng cần được hướng dẫn, hay nói theo ngôn ngữ thường tục, đó là quá trình giáo dục văn hóa cần phải thi hành để chuyển hóa tình trạng người dân mà I. Kant gọi là tình trạng tự nhiên man dã „status naturalis“ hay „statu iniusto“, tình trạng vô luật pháp sau một thời gian dài nô lệ và chiến tranh sang tình trạng văn minh, văn hóa, có tính pháp lý.

Theo HTTTS: „Những triều Ngô, Ðinh, Lê ngắn ngủi chưa tạo được mô hình độc lập cho xứng đáng với lòng mong mỏi của toàn dân. Thói quen bạo lực vẫn còn chiếm ưu thế trong tâm tư và thái độ của nhà cầm quyền. Ý chí chống ngoại xâm và giành độc lập của họ rất mạnh mà tâm lý tranh giành quyền vị của họ cũng mạnh không kém…“ [9]

Khi nói „vô vi cư điện các“, Pháp Thuận có lẽ đã nhận rõ tâm lý tranh giành thế lực quyền vị trong tập thể những nhà lãnh đạo một khi thế lực đã được củng cố. Nếu thực hiện được „vô vi“ từ phía người cai trị, quốc thái dân an mới được bảo đảm, những người đại diện cho quốc gia nói riêng hay quốc gia nói chung đều là „defensor pacis“ [10] , những kẻ bảo vệ hòa bình. Triết chính của ông nhắm đến một mẫu người lãnh đạo „hòa bình“ trên cả 3 phương diện: bi – trí – dũng, kết hợp được 3 đức hạnh: có đạo đức – thao lược – và đảm lược theo mẫu của một vị bồ tát cứu nhân độ thế; một vị vua không bám chặt ngai vàng, không ham muốn và thao túng thế lực, có tài tổ chức nội trị bảo đảm phúc lợi của dân, có đảm lược bảo vệ tổ quốc trong nguy biến. Từ ba đức hạnh đó có thể suy diễn những khả thể như quảng đại rộng lượng đối với dân – khởi đầu của ý niệm tự do –, khả thể bình đẳng – ý niệm nền tảng của pháp luật như là qui ước áp dụng chung cho người dân -, khả thể tiến bộ – ý niệm căn bản cho chuyển đổi, đổi mới trong đà tiến lịch sử -, và ý chí cương quyết bảo vệ hòa bình an dân – điều kiện bảo vệ lãnh thổ, kết hợp nội trị với ngoại giao. Pháp Thuận đã nhìn thấy trong vua Lê Ðại Hành mẫu người lãnh đạo lý tưởng có thể thực hiện được pháp chính vô vi ngay trong hoàn cảnh lịch sử sôi động của đất nước.

Ngược lại những nhà lãnh đạo thời ấy đã đánh giá cao sự đóng góp của các vị sư trong cuộc chiến đấu giành độc lập, đem sự tự chủ lại cho dân tộc và nhất là nhận ra trong Phật giáo hệ tư tưởng hàm chứa những yếu tố sáng tạo để xây dựng một quốc gia an lạc phú cường, một hệ tư tưởng không nằm trong vùng ảnh hưởng của hệ tư tưởng thống trị Trung quốc, có thể đem đến những tư duy mới cần thiết cho sự xây dựng một quốc gia giàu mạnh tự chủ. Cần nhấn mạnh là những khái niệm tự do, bình đẳng, tiến bộ, đổi mới và ngay cả hòa bình mà I. Kant cho là những sản phẩm của tư tưởng thời khai sáng Âu châu thế kỷ 18 thật ra không xa lạ với lý thuyết đạo Phật, dù ở đây chúng được lý giải trong viễn tượng giải thoát luân hồi.

LMT đưa ra một nhận xét quan trọng: „Chỗ dị đồng ở đây là chỗ dị đồng giữa Phật giáo và các tư trào tư tưởng đang phát triển tại Viễn Ðông lúc ấy. Ta cần nhớ nền giáo dục Việt Nam và Phật giáo Việt Nam của những triều Ðinh, Lê và Lý là một nền giáo dục luôn luôn cập nhật hóa, nắm được những phát triển mới của tinh hoa nhân loại ở bên ngoài nước mình…Nền giáo dục thời ấy phóng khoáng và chủ động, biết tìm kiếm suy nghĩ. Mà đúng thế, con người của thời đại này là những con người sáng tạo ra một thời đại mới của lịch sử dân tộc, thời kỳ huy hoàng của độc lập và phát triển“ [11]

Có thể nói trong cái nhìn trực quan và thực chứng về hòa bình, Pháp Thuận thiền sư đã đề nghị một mẫu chính thể với nội dung khác hẳn với mô hình phong kiến hủ hóa của chính quyền đô hộ, thích hợp với ý tưởng „Nam quốc sơn hà Nam đế cư“.

Mô hình triết chính hòa bình đã được 2 triều đại Lý Trần kế tiếp thực hiện. Những vị vua đời Lý cũng như đời Trần đã chứng tỏ thật sự là những người bảo vệ hòa bình với những biện pháp bảo đảm an dân hữu hiệu cũng như anh hùng trong việc chống xâm lăng bảo vệ nền tự trị.

3. Thực hiện triết chính vô vi

Với Lý Thái Tông „bộ luật hoàn chỉnh đầu tiên của nhà nước Việt Nam độc lập, thiết lập một xã hội pháp trị và mọi người được xét xử một cách bình đẳng, chiếu theo các điều khoản của luật pháp“ [12] đã được công bố. Sử sách cũng ghi nhiếp chính của ông nằm trong ảnh hưởng Phật giáo trong việc xây dựng một nền văn hóa bản địa trong tất cả các lãnh vực: kinh tế, luật pháp, ngoại giao… Một vị vua nhạy bén trong sáng kiến kinh tế [13] , mẫn cảm với người dân [14] , một vị vua vượt lên mọi hình ảnh lý tưởng của người bảo vệ hòa bình theo Kant với cảm nghiệm tôn giáo sâu xa về bình đẳng:

„Bát nhã thật vô tông

Người không, ta cũng không

Phật trước, nay, sau nữa

Pháp tính bản lai đồng

(Bát nhã chân vô tông

Nhân không ngã diệc không

Quá hiện vị lai Phật

Pháp tính bản lai đồng)

Sử sách ghi: triều đại nhà Lý thuần từ.

Với Trần Thái Tông, lịch sử đã có một vị vua „coi ngai vàng như chiếc dép rách“, đã lấy „lòng dân làm lòng mình“, đã thực chứng và thực hành ý niệm sám hối chuyển nghiệp như một nguyên tắc đạo đức của người trị dân, một yếu tố bảo đảm cho hòa bình lâu dài trong bước tiến hóa của dân tộc. Một vị vua coi rẻ lợi danh thế lực nhưng thiết tha thành tâm đem lại an lạc cho đồng bào, một vị vua đảm lược luôn luôn sát cánh với quân dân đánh thắng quân Nguyên trong lần xâm lấn đầu tiên, với ý chí đổi mới không ngừng cho hạnh phúc dân tộc không những về phương diện vật chất mà còn chuẩn bị cho mọi người một đời sống tâm linh trên mảnh „đất tâm“ với chí nguyện „tự lợi lợi tha.“

„Ðất tâm mở ra, hoa nở rộn

Trời có mưa hoa, vẫn kém thơm

Cành hoa đóa đóa dâng cúng Phật,

Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi“ [15]

„Thi ca sáng tạo của hơn 70 bài gồm nguyện, tụng, kệ, bạch, trùng trùng ngôn ngữ sáng ngời trí tuệ, nhưng người viết Trần Thái Tông, vị Thượng hoàng của Ðại Việt lại biết „dừng“ không lượt là gấm hoa, nơi hạnh „giới ngữ“ trong chính tác phẩm của mình:

„Văn thì rườm rà, nói thì lời xa xôi. Nếu văn rườm rà thì người lười sám hối, lời xa xôi thì dễ sanh nghi. Cho nên không dùng lời phù phiếm dồn cho đầy quyển, cốt khiến người đọc tụng vui vẻ, người nghe thấy dễ ngộ. Mới mong những kẻ có lòng tin, ngày đêm phát tâm chí thành, theo khoa nghi này làm lễ sám hối. Ðây là chẳng phụ chí nguyện tự lợi lợi tha của trẫm.

Người sáng mắt thời sau, chớ xem nghi văn này mà phát cười. Tuy nhiên như thế:

Không nhân ngõ tía hoa cười sớm,

Ðâu có hoàng oanh đậu liễu xanh. „ [16]

Với Trần Nhân Tông (TNT) lịch sử Việt Nam viết những trang an lạc như „Hoa mộc trên cành trăng mới lên“ (thơ TNT) mà lại rất hào hùng „ Cối kê việc cũ người nên nhớ, Hoan Ái đang còn chục vạn quân“ (thơ TNT): một người bảo vệ hòa bình thành công trong việc gìn giữ đất nước, đánh thắng hai lần quân Nguyên đồng thời là một thiền sư ngộ đạo, một vị anh quân đức độ đã đưa hàng ngũ trí thức lãnh đạo gắn liền với đạo đức „vô vi“, làm vững ý chí „lợi tha“ vì dân vì nước [17]

Một chuyến đi lên Yên Tử thăm đền thờ Trần Nhân Tông, người viếng cảnh đã trực nhận được trên đỉnh non cao ý nghĩa sâu xa nơi thế „ngồi“ (vô vi) của Ðiều Ngự Giác Hoàng, ngồi thế mà vị vua này đã đi hết đất và đi sâu vào lòng dân tộc hơn một ai khác trong lịch sử Việt Nam:

“Trần Nhân Tông đó, có thể ngẩng mặt nhìn sang Bắc để nói “Ta cũng như người”, để hướng về phương Ðông mà nói “Ta khác với người”, nhìn về Tây mà nói “Ta không thua người”, nhìn về Nam mà nói “Ta cùng với người”’ [18] Có thể nói với Trần Nhân Tông những hạnh “bi trí dũng” đã được đúc kết thành bài ca hòa bình:

“Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Ðói cứ ăn đi, mệt ngủ liền

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

Ðối cảnh vô tâm chẳng hỏi thiền” [19] .

Trong tinh thần bao dung, việc xây dựng văn miếu thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám cho các quan viên văn chức biết chữ vào học, chứng tỏ chính sách „vô vi“ của các vị vua nhà Lý, nhà Trần không bỏ sót yếu tố văn hóa đa nguyên, đa dạng, dị biệt cần thiết cho sự tiến bộ của xã hội đương thời [20]

Có thể tóm tắt tương quan dân tộc và đạo pháp theo HTTTS như sau:

„…Thiền sư Khuông Việt, Ngô Chân Lưu, Sư Pháp Thuận, Sư Vạn Hạnh… đến các Phật tử Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông… là những Phật tử đã từng xem việc cứu nước an dân là hạnh tế nhân độ thế. Do đó dù ở cương vị nào, các ngài cũng đã áp dụng chánh pháp, áp dụng tinh thần từ bi bình đẳng, vô ngã vị tha vào sự nghiệp quốc gia. Nhờ vậy mà nó tạo ra cho một triều đại nhà Lý thuần từ (theo ông Hoàng Xuân hãn trong cuốn lý Thường Kiệt) kéo dài trên hai trăm năm với Lý Thường Kiệt anh hùng, Lý Thánh Tông thương dân như con và cho một nhà Trần dưới 200 năm với Trần Thái Tông theo lời dạy của Phù Vân quốc sư lấy lòng dân làm lòng mình, với Trần Nhân Tông coi lợi danh quyền tước như cỏ rác mà Dân tộc Tổ quốc mới vàng son, nên khi cần làm chiến sĩ thì làm chiến sĩ, cần làm vua thì làm vua, cần làm thiền sư thì làm thiền sư. Sống giữa cõi trần mà tâm an ngoại vật.“ [21]

Từ sau thời đại nhà Trần, hệ tư tưởng Nho giáo đã chiếm lại ưu thế ảnh hưởng lên nhiếp chính của các triều đại Hậu Lê và Nguyễn, thể chế phong kiến theo tư tưởng Khổng gia đã được củng cố chặc chẽ, Phật giáo với triết chính „vô vi“ không còn ảnh hưởng trên „điện các“ nhưng đã hòa vào lòng dân tộc trong nếp sống thường nhật tạo nên một phần bản sắc văn hóa Việt Nam. Dù quốc gia bị vong thân bao lần, nhưng dân tộc không vong bản, một phần nhờ sự tin tưởng vào đạo pháp cứu khổ an dân, theo nhận định của HTTTS.

4. Ngôn ngữ hòa bình hiện thực

Lịch sử của Phật giáo Việt Nam đã được viết cùng với lịch sử Việt những trang đồng tình trong nhịp điệu „Nam thiên lý thái bình“, nhất là trong những giai đoạn lâm nguy đất nước Phật giáo đã có mặt với quyết chí mang lại hòa bình. Nhưng khi Phật giáo lâm nguy ngay chính trong đất nước ấy thì dân tộc đã phản ứng ra sao? Câu hỏi ngược lại này là hòn đá thử „lửa hòa bình“ trong lòng người theo Phật và chính trong tâm của dân tộc.

Cuộc „vận động“ của Phật giáo năm 1963 tại miền Nam Việt Nam được người đại diện lãnh đạo phong trào Thích Trí Quang nhấn mạnh là một cuộc „vận động hòa bình“, chủ trương bất bạo động, đòi thực thi bình đẳng tôn giáo. Cuộc vận động này hoàn toàn dựa vào một yếu tố mà Kant gọi là yếu tố bảo đảm cho hòa bình: yếu tố của công luận (Öffentlichkeit), của truyền thông và đàm phán. Có thể nói cuộc vận động đã hoàn toàn dựa vào công luận, ý kiến của người dân, một cuộc vận động có tính dân chủ qua trung gian của cơ quan truyền thông: báo chí, dư luận trong và ngoài nước. Chúng ta chưa có cơ hội để phân tích kỹ vai trò của công luận như yếu tố bảo đảm hòa bình trong những cuộc vận động đòi hỏi của người dân. Ở đây chỉ nêu lên tính nổi bật của công luận như một phương tiện truyền thông những đòi hỏi mâu thuẫn phát sinh trong xã hội và từ đó đẩy mạnh tiến trình đổi mới (Reform), sửa đổi để theo kịp với trào lưu lịch sử qua sự đóng góp ý kiến của người dân trong hòa hiếu. Trong ý nghĩa đó, Kant cho rằng chức năng của công luận là sự bảo đảm tính năng động của hòa bình trong đổi mới. Những cuộc đàm phán đã là dấu hiệu hòa bình, nhưng trở ngại chính là những người đàm phán có thành tâm tìm một giải pháp thỏa đáng hay chỉ dùng thủ thuật trì hoãn, hứa suông để thoa dịu. Giai đoạn lịch sử này thật là một bài học không cùng cho Phật tử Việt Nam. Dù lắm gian nan, bài học hòa bình sáng ngời nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam đã được đúc kết trong bức thư và hành động tự thiêu của tỳ kheo Thích Quang Ðức.

Sự tự thiêu của ngài đã làm chấn động dư luận trong và ngoài nước, bắt buộc chính quyền đương thời phải trở lại bàn thương thuyết. Ánh đuốc Thích Quảng Ðức có thể bị rơi vào lãng quên, nếu không có lá thư của ngài. Ðọc lá thư này ta sửng sốt và kinh ngạc trước lòng từ bi vô hạn và sự cương quyết không cùng của một nhà sư đứng giữa dân tộc và đạo pháp. Mỗi chữ mỗi lời không là vọng ngôn mà được chứng thực bằng chính thân mạng của con người, trước cái chết vẫn giữ lòng từ bi, lời hòa ái với người. Lá thư phải là kinh nhật tụng của thế hệ Phật tử tương lai, một bài kinh, ngôn ngữ tuyệt đối của hòa bình: mộc mạc, cương quyết nhưng bao dung với người đối thủ, mỗi lời là mỗi thực chứng sinh tử:

“Tôi sẵn sàng tự thiêu để cúng dường Tam Bảo và để giác ngộ cho chính quyền mau mau thỏa mãn năm nguyện của của Phật giáo.”

Tôi pháp danh Thích Quảng Đức, Hòa thượng trụ trì chùa Quán Âm, Phú Nhuận (Gia Định).

Nhận thấy Phật giáo nước nhà lúc ngửa nghiêng, tôi là một tu sĩ mệnh danh là Trưởng Tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật Pháp tiêu vong, nên tôi phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường Chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật Giáo.

Mong ơn mười phương Chư Phật, Chư Đại đức Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt thành ý nguyện như sau:

  1. Cầu hồng ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận 5 nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong Bản Tuyên ngôn.
  2. Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn bất diệt.
  3. Mong nhờ hồng ơn Đức Phật gia hộ cho Chư Đại đức, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tránh khỏi tại nạn khủng bố, bắt bớ giam cầm của kẻ gian ác.
  4. Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc.

Trước khi nhắm mắt mà về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gửi lời cho Tổng thống
Ngô Đình Diệm lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chính sách bình
đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thuở.

Tôi thiết tha kêu gọi Chư Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni, Phật tử đoàn kết nhất trí hy sinh để bảo tồn Phật Pháp.

Nam mô Đấu Chiến thắng Phật.

Làm tại chùa Ấn Quang ngày 8/4 Nhuần Quý Mão.

Chùa Quán Thế Âm.

Tỳ Kheo Thích Quảng Đức kính bạch

Lời nói của Thích Quảng Ðức đã tóm thâu hết tinh thần Phật giáo Việt Nam đối với dân tộc, giữa mọi mâu thuẫn, mọi đối kháng, vẫn một lời chí nguyện cho người lãnh đạo quốc gia sáng suốt và đất nước thanh bình quốc dân an lạc. Có thể nói Thích Quảng Ðức là tấm gương tột đỉnh đúc kết đường lối hòa bình của Pháp Thuận thiền sư, với tất cả thành tâm của một vị sư miền Nam, khiêm tốn, ít lời, với hạnh giữ giới toàn hảo đối với người không đồng chính kiến với mình. Lá thư Thích Quảng Ðức cần phải được đọc lại hoài mãi như một chứng từ ngôn ngữ hòa bình cho người đi sau.

IV. Kết luận

Heidegger nói „người nào đặt câu hỏi, kẻ ấy đang đi tìm“, người viết xin đảo ngược lại và nói: tôi đã đi tìm và đặt lại câu hỏi: có còn một ngôn ngữ hòa bình trong hoàn cảnh hiện nay? nói riêng cho Phật giáo và nói chung cho dân tộc. Hiện trạng Phật giáo phân hóa thành những phân cực đối thủ, hiện trạng các tôn giáo trong thế ngộ nhận, hiện trạng mâu thuẫn trong tương quan Phật giáo và dân tộc và ngay cả sự hạn chế quyền tín ngưỡng hay ngôn luận truyền thông cho thấy xã hội còn ở trong một tình trạng bấp bênh và phản ứng ngược lại của tập thể báo chí ngôn luận hải ngoại đối với tình hình quốc nội, trong mọi đối thoại hầu như nhiều chửi rủa hơn là lý lẽ, câu trả lời ngược chiều mang nhiều đe dọa vũ lực đàn áp hơn luật pháp công minh, hình ảnh khá đen tối đẩy lùi hi vọng hiện thực được cuộc chung sống trong hòa bình thực sự, thân tâm thường an lạc trong hiện tại và tương lai của đất nước.

Từ câu hỏi trên có thể hỏi thêm:

Có thể nào ứng dụng con đường trung đạo như một khoa học hòa giải cho chúng ta và nói rộng ra cho nhân loại?

Câu hỏi này có thể cho ta khởi lại niềm hi vọng với hai ba điều:

  1. Hòa bình phải có bởi vì là như thế! là như thế là bản tính của tự nhiên (Natur), để trở lại với Kant trong „Về nền hoà bình vĩnh cửu“. Sau khi đã khảo xét những điều kiện nội tại (tự do, công luận và công khai, pháp luật, bình đẳng xã hội, tiến bộ) bảo đảm cho sự tồn tại dài lâu của hòa bình, Kant không đưa ra ý niệm Thượng đế như một bảo đảm ngoại tại, siêu việt và quyền uy, mà cho rằng chính thiên nhiên như tổng thể ý niệm môi trường sống của con người trên quả đất này là yếu tố ngoại tại tất yếu, có tính chung quả luận bảo đảm hòa bình cần được thực hiện và duy trì. Câu nói nghe ra ngộ nghĩnh của những tay buôn nhà đất khét tiếng tại Việt Nam hé cho ta một chút ánh sáng trên bình diện chung quả luận (Teleologie) về hòa bình: „đất không đẻ mà người thì đẻ“. Đất chật người đông, đó là tình hình môi trường hiện nay trên thế giới không những chỉ ở Việt Nam, không thể đạp lên nhau, ăn thịt nhau mà sống, cho nên phải „nhịn“: nhịn đẻ (kế hoạch sinh sản), nhịn nhau, nhường nhau (luật pháp bình đẳng), hòa bình do thế tất yếu. Hoàn cảnh trái đất hay thiên nhiên bắt con người không có cách nào khác là chung sống hòa bình, từ đó thiện nguyện hòa bình nảy sanh. Ðó là luận chứng rốt cùng mà triết gia của lý tính thuần túy I. Kant đưa ra như là nguồn tự nhiên bảo đảm hòa bình cho con người. Suy ra đến tiến trình hoàn cầu hôm nay, ta không thể theo Nietzsche để cổ vũ chiến tranh, nhân loại dù muốn hay không, rốt cuộc cần đi đến hòa bình như cơ hội duy nhất có thể hiện hữu bền bỉ trên trái đất.
  2. „Nhịn“ là một hạnh kiểm hòa bình, trong đạo Phật gọi là chữ „nhẫn“, không phải là một thứ chịu đựng vì bị đàn áp, không phải là một hình thức ức chế mà có nghĩa là „mở lòng“ như trong „Nam thiên lý thái bình“, mở lòng trước hết để chịu đựng và chấp nhận sự hiện hữu của người khác ở bên cạnh ta (xem Kant, chú thích 13, 14, 15) bài viết) [22] . Ở đây chỉ có sự cạnh tranh mà không có chiến tranh, đồng ý chấp nhận đối tác và cố gắng thăng tiến „cái tôi cho người“. Chìa khóa để mở lòng là đổi cách nhìn theo con đường trung đạo, con đường của hòa bình sáng tạo và giải phóng, trên con đường ấy, ngôn ngữ hòa bình là ngón tay chỉ đường đi đến xã hội với 4 mũi tên hướng dẫn:
    • tính nhất thể của một xã hội hay đoàn thể chỉ có được khi những phán đoán có tính hòa bình được chú ý đến (tự nguyện và tự do)
    • sự bảo đảm tự chủ chỉ đạt được trong liên hệ với những đòi hỏi chung sống hòa bình,
    • thông tin, bàn bạc và hội ý, nói tóm lại, định chế truyền thông công khai không bị đàn áp,
    • đổi mới xã hội là tiến trình cải tổ trong hòa bình và thi hành luật pháp có nghĩa là hòa bình được thực hành ngay trong lòng mọi mâu thuẫn xã hội.

  3. Trong tiến trình toàn cầu hóa, như trên đã nói, hòa bình là gạch nối văn hóa giữa bản sắc dân tộc và toàn cầu. Nếu muốn tránh hiểm họa bị tiêu diệt ngay trong tiến trình ấy, hòa bình nội trị cần được triển khai và bảo vệ. Ðịnh đề bảo đảm hòa bình – mà chủ trương „vô vi“ của Pháp Thuận thiền sư đã được thực hiện trong buổi dựng nước – quyết định toàn bộ cơ cấu nội tại của quyền tự quyết tự chủ một dân tộc, quốc gia. Nó bao hàm điều kiện và tiềm năng văn hóa để quốc gia có thể tham dự vào tiến trình văn hóa thế giới mà không đánh mất ước muốn được sống an lạc trong không gian văn hóa bản địa của mỗi cá nhân. Việt Nam đã có của báu trong nhà… còn đi tìm ở đâu xa?

Câu hỏi xin được vẫn còn là một câu hỏi… cho chính người hỏi lên đường…


[1]Thiền uyển tập anh tờ 49a2-b4, Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập II, Nxb Tp HCM, 2001, tr. 465: Thiền sư Pháp Thuận chùa Cổ sơn, Thừ hương, quận Ải. Không biết người ở đâu . Sư họ Ðỗ, học rộng, thơ hay, có tài giúp vua, rõ việc đương thời. Nhỏ đã xuất gia, thờ thiền sư Phù Trì chùa Long Thọ làm thầy. Khi đã đắc pháp nói ra lời nào cũng hợp với sấm ngữ. Ðương vào lúc nhà Lê mới dựng nghiệp, trù định kế sách, Sư tham dự đắc lực. Ðến khi thiên hạ thái bình, Sư không nhận phong thưởng. Hoàng đế Lê Ðại Hành càng kính trọng, thường không gọi tên, chỉ gọi là Ðỗ pháp sư, đem việc văn thư giao phó cho Sư…
[2]Bài kệ truy tặng thiền sư Vạn Hạnh của vua Lý Nhân Tông: „Vạn Hạnh dung ba cõi – Thật hiệp sấm lời xưa – Quê hương tên Cổ Tháp – Chốn gậy giữ kinh vua“, Lê Mạnh Thát, đd, tr. 526
[3]Phật giáo Việt Nam trong những thế kỷ trước thế kỷ 18 phải được nghiên cứu tường tận hơn về mặt dấn thân tích cực này. Nhất là mô hình thể chế của các triều Ngô, Ðinh, Lê, Lý, Trần.
[4]Lê Mạnh Thát, đd, tr. 493 tt 50
[5]„Thiên Vệ Linh Công của Luận ngữ 15 tờ 2a5-6 đã có lời của Khổng tử thế này: „Thầy nói: Vô vi mà trị chỉ có vua Thuấn thôi ư? Làm sao được thế? Chỉ cần nghiêm túc với chính mình, xây mặt về phía Nam mà thôi“ (Tử viết: vô vi nhi trị giả, kỳ Thuấn dả dư? Phù hà vi tai? Cung kỷ chính Nam diện nhi dĩ hỉ“, Lê Mạnh Thát, đd, tr. 499. “Tứ thư… Trung dung… lần thứ nhất Khổng tử nói: Vua Thuấn là bậc đại trí ư? Vua Thuấn ưa hỏi mà thích xem xét những lời nói gần, che điểm xấu mà nêu mặt tốt, giữ lấy sự trung dung giữa hai cực đoan để dùng cho dân. Nhờ thế mà thành vua Thuấn ư?… Lần thứ hai, Khổng tử nói: „Vua Thuấn là bậc đại hiếu ư? Ðạo đức để làm bậc thánh, tôn quí để làm thiên tử giàu có khắp bốn biển, được tế tự trong miếu đường, con cháu còn giữ gìn. Cho nên, đức lớn thì tất đưọc ngôi vị, tất được bổng lộc, tất được tên tuổi, tất được sống lâu. Cho nên, trời sinh ra vạn vật tất nhiên nhân cái tố chất của chúng mà đối đãi. Vì thế tốt thì vun thêm, nghiêng thì đạp xuống… Cho nên người đức lớn thì nhận được mệnh trời.
[6]Lê Mạnh Thát, đd, tr. 502
[7]Thiền sư Cửu Chỉ, Thiền uyển tập anh tờ 16a10-17b5, Lê Mạnh Thát, đd, tr. 633
[8]Thích Thiện Siêu, „Vô vi cư điện các“
[9]Thích Thiện Siêu, „Con người mới chính là chủ nhân ông của bom đạn“, trong Vô ngã là Niết Bàn, tuyển tập, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1990, tr. 228
[10]Marsilius von Padua, Defensor pacis (entstanden um 1324), Basel 1522
[11]Lê Mạnh Thát, đd, tr. 630-631
[12]Lê Mạnh Thát, đd, tr. 630/631
[13]„Canh Thìn Cần Phù Hữu Ðạo năm thứ hai (…) tháng 2 vua đã dạy cung nữ dệt được gấm vóc, tháng đó xuống chiếu phát hết gấm vóc nước Tống có trong kho vua ra để may áo ban cho các quan. Từ ngũ phẩm trở lên thì được áo bào gấm, từ cửu phẩm trở lên thì được áo bào bằng vóc để tỏ là vua không còn mặc áo gấm vóc của nước Tống nữa“. Ðại Việt sử ký toàn thư , 2 tờ 28b3 – 5. Lê Mạnh Thát, đd, tr. 619
[14]„Nhâm Ngọ (1042) mùa đông tháng 10 (…) ban Hình thư. Trước kia thiên hạ kiện tụng rối rắm, viên chức luật pháp câu nệ vào văn luật, cốt làm khắc nghiệt, thậm chí có người bị oan uổng. Vua lấy làm thương xót sai Trung thư san định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời bấy giờ, chia làm môn loại, biên ra điều khoản, riêng làm hình luật cho một triều đại, để cho người xem dễ hiểu. Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện. Ðến đó, phép xử hình thẳng thắn, rất rõ ràng, nên có lệnh cải nguyên làm Minh Ðạo, và đúc tiền Minh Ðạo“.

[15]Trần Thái Tông, Lục thời sám
hối khoa nghi, theo HT Thích Thanh Từ, KHLGG, 269
[16]Khóa hư lục, Lục thời sám hối khoa nghi, Kệ vô thường buổi sớm, theo HT Thích Thanh Từ, KHLGG 254 -255 và: „Trần Thái Tông, Nhân ảnh trong Thiền học Việt Nam“, Thái Kim Lan, Trang nhà Khuông Việt
[17]Sau khi bài viết được hoàn tất, giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã gửi cho bài khảo luận: Nguyễn Huệ Chi, „Trung Tâm Phật giáo Quỳnh Lâm và hiện tượng hội nhập văn hóa“. Xin xem thêm để tham khảo.
[18]„Công án Trần Nhân Tông I“, Thái Kim Lan, trang nhà Khuông Việt
[19]Trần Nhân Tông, „Cư trần lạc đạo phú“, bản dịch LMT, trong LMT, Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb Tp HCM 2000, tr. 414
[20]„Tháng tám mùa thu năm Canh Tuất Thần Vũ thứ hai (1070) vua Lý Thánh Tông đã ra lệnh dựng Văn Miếu để làm nơi thờ Khổng Tử và hoàng tử đến học. 1076 vua Lý Nhân Tông chính thức mở Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của Việt Nam sau khi chiến thắng quân Tống xâm lăng lần thứ hai“. LMT, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, đd. tr. 651
[21]Thích Thiện Siêu, Vô ngã là Niết Bàn, đd, tr. 12-13
[22]Thái Kim Lan, „Trần Thái Tông, Nhân ảnh trong Thiền học Việt Nam“: Khởi từ chánh kiến thấy rõ liên hệ nhân quả của lục căn lục trần (Tuệ) trên cơ sở thể nghiệm hội nhập tâm linh (Ðịnh) đến chuyển nghiệp qua hành động đạo đức (Giới) xuyên suốt quá khứ hiện tại và vị lai, sám hối đưa con người thâm nhập ý nghĩa giới hạn của hiện sinh hay ý nghĩa thể tính (ontologische Bedeutung) về thân phận con người trong „giới hạn và trở thành“, từ đó nảy sinh ra ý niệm „nhẫn“, hay „bao dung“ hết cả đời người. Xét cho cùng hiện sinh mỗi người trước tiên là một sự chịu đựng đối với người khác trong giới hạn lục căn của nó, nên sám hối là sám lỗi trước và hối cải lỗi sau theo Huệ Năng tạo điều kiện sanh tâm thiện để trở thành Phật.

 
© talawas 2026